Mục Lục
ToggleTrường tiểu học và trung học Sasayama, từng nổi tiếng với tên gọi dài nhất tại Nhật Bản, đã chính thức đóng cửa từ đầu tháng 4, khép lại lịch sử hơn 70 năm, do số lượng học sinh theo học ngày càng ít.
Tên chính thức của trường là “Trường tiểu học và trung học cơ sở Sasayama thuộc Liên hiệp các trường tiểu học và trung học Sasayama do thị trấn Ainan, quận Minamiuwa, tỉnh Ehime và thành phố Sukumo, tỉnh Kochi quản lý” (tên gọi tắt là Trường tiểu học và trung học Sasayama). Ngôi trường này nổi tiếng vì có tên dài nhất tại Nhật Bản.
Ngôi trường tọa lạc ở thị trấn Ainan, tỉnh Ehime, sát con sông Shinogawa là ranh giới giữa hai tỉnh Ehime và tỉnh Kochi. Cách đây 70 năm, cư dân ở thị trấn hai bên bờ sông thường xuyên qua lại và cùng nhau thống nhất thành lập trường trung học vào năm 1949, trường tiểu học vào năm 1952 và đặt tên gọi mang dấu ấn của cả hai địa phương.
Theo thông lệ của trường, học sinh sau khi nhập học đều phải thường xuyên luyện đọc tên trường trong các giờ ra chơi đến khi thuộc lòng.
Mặc dù với những người khác việc đọc tên trường quá dài là một phiền toái, nhưng đối với không ít cựu học sinh của trường thì đây lại là niềm tự hào, là “điểm nhấn” khi giới thiệu về bản thân.
Vào thời kỳ cao điểm nhất là cuối những năm 50 của thế kỷ trước, trường có khoảng 300 học sinh theo học, nhưng sau đó số lượng giảm dần. Đến năm học 2025 chỉ còn 9 học sinh, trong đó có 3 học sinh tiểu học và 6 học sinh trung học.
Điều này khiến việc duy trì vận hành trường gặp nhiều khó khăn.
Hiện phía tỉnh Kochi không còn học sinh nào theo học và từ tháng 4, các học sinh còn lại của trường sẽ chuyển sang các trường khác trong thị trấn Ainan, với khoảng 110 học sinh tiểu học và 60 học sinh trung học.
Việc đóng cửa ngôi trường nhiều năm tuổi để lại không ít tiếc nuối cho những người dân từng gắn bó từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên điều này cũng phản ánh một thực trạng tỉ lệ sinh giảm ngày càng nghiêm trọng tại Nhật Bản, đặc biệt là tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, khiến nhiều trường học khó duy trì đủ số lượng học sinh cần thiết và buộc phải sáp nhập với các trường khác.
Chiến thuật giúp nam sinh chuyên Hóa đạt điểm SAT top 1% thế giới

Huỳnh Quốc Bảo nhận kết quả thi SAT hồi cuối tuần trước. Bảo kể không có mục tiêu điểm số trước ngày thi. Đây cũng là tâm thế của em trong học tập nói chung – không đặt nặng thành tích, miễn học hết sức và phát huy đúng năng lực.
SAT là bài thi chuẩn hóa bằng tiếng Anh, gồm hai phần Đọc - Viết (54 câu) và Toán (44 câu), được dùng rộng rãi trong xét tuyển đại học ở Mỹ và các nước châu Âu. Theo College Board, đơn vị tổ chức, từ mức 1520 điểm, thí sinh đã thuộc nhóm 1% cao nhất toàn cầu.
Nam sinh có kế hoạch ôn thi SAT từ cuối năm lớp 11 để tăng cơ hội trúng tuyển vào đại học. Tháng 6 năm ngoái, Bảo bắt đầu tìm hiểu những chủ đề kiến thức chung. Đến tháng 9, em được chọn vào đội tuyển của TP HCM dự thi học sinh giỏi cấp quốc gia môn Hóa nên phải tạm ngưng.
Nam sinh sau đó đạt giải ba – đủ điều kiện được tuyển thẳng vào đại học nhưng vẫn tiếp tục ôn tập, luyện đề SAT, để chủ động cơ hội lựa chọn ngành nghề.
Lần thi thử đầu tiên, Bảo đạt 1500 điểm. Nam sinh nhận ra bản thân "sa lầy" ở những câu khó, bỏ qua nhiều câu dễ nên mất điểm đáng tiếc. Bảo sau đó vạch chiến lược phân bổ thời gian hợp lý, giải quyết câu dễ trước, khó sau và luôn dành thời gian kiểm tra lại bài.
Ngày thi chính thức, Bảo không gặp khó khăn với phần Toán nhưng mất thời gian với một số câu Đọc - Viết khó. Em dùng phương pháp loại trừ, suy luận để chọn phương án.
"Có một số câu em không chắc chắn nhưng kết quả này nằm trong dự tính của em", Bảo cho hay.
Theo em, câu hỏi và dữ kiện trong đề SAT thường khó hiểu vì dài và ngữ pháp phức tạp. Nếu đọc nhanh, thí sinh thường cảm thấy mơ hồ và phải đọc lại, từ đó làm ảnh hưởng đến thời gian làm bài.
"SAT cũng hiểm hóc ở chỗ mọi từ trong câu đều có nghĩa. Nếu đọc lướt, mình dễ hiểu sai rồi chọn phương án sai", Bảo phân tích. "Em luôn cẩn thận, tỉ mỉ khi đọc".
Nam sinh nhìn nhận SAT đòi hỏi thí sinh phải có vốn từ vựng dồi dào để đọc hiểu dữ liệu. Khi đọc đề, em phân tích các thành phần chính trong câu, ý chính trong đoạn văn để chọn đáp án logic nhất.
Tiếng Anh là lợi thế của Bảo nhờ học từ nhỏ, đã thi đạt chứng chỉ IELTS 7.5 hồi năm ngoái. Để tích lũy vốn từ, nam sinh hay dùng "vòng quay may mắn" để học từ mới. Yếu tố bất ngờ mỗi khi quay chữ giúp em có phản xạ nhanh và nhớ lâu hơn. Ngoài ra, Bảo hay tạo ví dụ gắn liền với từ vựng để dễ dàng liên tưởng.
Bảo kể vốn định đi theo hướng chuyên Anh cho đến khi được tiếp xúc với môn Hóa vào năm lớp 8. Nam sinh bị thu hút bởi những nguyên tố độc lạ, phản ứng hóa học đầy màu sắc trong phòng thí nghiệm.
"Em học tốt Toán, Lý nhưng không thấy hứng thú. Hóa cho em cảm giác muốn khám phá, giải nghĩa vì sao lại có những hiện tượng xảy ra khi các chất tiếp xúc với nhau", Bảo nói.
Dù vậy, cậu vẫn duy trì đầu tư cho Toán và Tiếng Anh. Bảo nhận thấy hai môn này bổ trợ nhiều cho việc học Hóa, đặc biệt là kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Với các phương trình hóa học nâng cao, học sinh phải vận dụng tư duy Toán học để tính chuẩn xác. Tiếng Anh giúp em tiếp cận những tài liệu chuyên Hóa mới nhất trên thế giới.
Sự kết hợp này giúp Bảo vượt cấp tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh dành cho học sinh lớp 11 (Olympic 27/4) của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và đạt giải khuyến khích ngay từ lớp 10. Hai năm sau, em giành hàng loạt giải thưởng, từ thủ khoa Olympic 27/4, huy chương vàng Olympic truyền thống 30/4, giải khuyến khích rồi đến giải ba cấp quốc gia.
Có những thời điểm phải dồn sức cả bài vở trên lớp lẫn các cuộc thi nhưng Bảo vẫn dành thời gian chơi piano hoặc guitar để giải tỏa căng thẳng, hỗ trợ hoạt động ngoại khóa, văn nghệ của trường. Đặc biệt, nam sinh đặt ra kỷ luật với giấc ngủ để giữ sức khỏe.
"Phương châm của em là học ít mà hiệu quả còn hơn cày ngày cày đêm. Càng thức khuya năng suất càng giảm nên em hiếm khi đi ngủ trễ hơn 22h30", Bảo nói.
Chủ nhiệm lớp Bảo suốt 3 năm qua, cô Nguyễn Thị Liên, đánh giá Bảo sống tình cảm, khiêm tốn và kiên định với con đường của mình thay vì chạy theo số đông. Với sức học và tính cách của Bảo, nhiều thầy cô gợi ý em đi theo khối ngành y dược, nhưng Bảo vẫn chọn gắn bó với Hóa.
Ngoài ra, dù phải dành thời gian nhiều cho các cuộc thi và môn chuyên, nhưng với các môn phụ, Bảo vẫn học nghiêm túc, không bỏ bê.
"Em ấy học tập trong tâm thế thoải mái, không đặt nặng phải đạt giải cao nên trong lớp rất hay nhường nhịn, giúp đỡ bạn bè", cô Liên cho biết.
Nhiều khả năng được tuyển thẳng nhưng Bảo cho biết vẫn cố gắng tối đa trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới. Nam sinh đang cân nhắc đặt nguyện vọng vào ngành Kỹ thuật Hóa, Hóa học hoặc Sư phạm Hóa của trường Đại học Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Sư phạm TP HCM.
"Em dự định hoàn thành chương trình cử nhân trong nước sau đó tìm kiếm học bổng du học ngành Hóa ứng dụng", Bảo nói.
Lệ Nguyễn
Tin Gốc: https://vnexpress.net/chien-thuat-giup-nam-sinh-chuyen-hoa-dat-diem-sat-top-1-the-gioi-5056711.html
Lao động đổ về đô thị, nhà trẻ quá tải: Lời giải nào cho chất lượng mầm non?

Ngày 6.4, tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục mầm non, Ngân hàng Thế giới và Sở GD-ĐT thành phố Đà Nẵng tổ chức hội thảo "Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non".
Hội thảo thu hút gần 100 cán bộ quản lý đến từ các Sở GD-ĐT khu vực miền Trung cùng nhiều chuyên gia, tập trung trao đổi về nhu cầu và giải pháp phát triển giáo dục mầm non trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp.
Theo ban tổ chức, quá trình đô thị hóa nhanh, đặc biệt tại các khu công nghiệp, kéo theo sự gia tăng lực lượng lao động khiến nhu cầu gửi trẻ, chăm sóc và giáo dục mầm non cho con em người lao động, nhất là lao động nữ, tăng mạnh.
Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ mầm non bảo đảm chất lượng, an toàn và phù hợp với điều kiện làm việc vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách.
Tại hội thảo, các đại biểu được chia sẻ kết quả nghiên cứu đánh giá nhu cầu nhà trẻ, giáo dục mầm non tại các đô thị có khu công nghiệp; đồng thời giới thiệu chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045.
Nhiều ý kiến cũng tập trung đề xuất các giải pháp, khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh giáo dục mầm non là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của trẻ. Giai đoạn từ 3 - 6 tuổi được xem là "thời điểm vàng", khi trẻ phát triển nhanh nhất về thể chất, nhận thức và kỹ năng sống.
Theo ông Vinh, nhiều nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận giáo dục sớm giúp trẻ đạt kết quả học tập tốt hơn ở các cấp học sau, kéo dài thời gian học tập và hình thành năng lực học tập suốt đời. Do đó, đầu tư cho giáo dục mầm non không chỉ bảo đảm công bằng mà còn là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Thời gian qua, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành, trong đó Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030 đặt mục tiêu mở rộng phổ cập cho trẻ từ 3 tuổi, tăng tỷ lệ trẻ đến trường và nâng cao chất lượng tại các địa bàn khó khăn, khu công nghiệp.
Đáng chú ý, năm 2026 bắt đầu triển khai thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với 7 điểm cải cách, theo hướng tiếp cận năng lực, liên thông với chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và chú trọng phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ. Chương trình khung cũng tăng quyền chủ động cho địa phương, phù hợp thực tiễn từng cơ sở, đồng thời bảo đảm chế độ dinh dưỡng và giảm áp lực cho giáo viên.
Tuy nhiên, theo các đại biểu, tại các đô thị đông dân, khu công nghiệp có tỷ lệ di cư lớn vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục mầm non. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn tác động đến việc làm của phụ nữ và sự ổn định xã hội.
Ông Lê Anh Vinh cho biết thêm, thông qua hội thảo, ban tổ chức mong muốn tiếp nhận thêm ý kiến từ cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục để hoàn thiện mô hình giáo dục mầm non tại các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng sát thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Đề xuất tăng lương giáo viên mầm non, kéo dài nghỉ thai sản lên 12 tháng

Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Áp lực lớn tại các đô thị, khu công nghiệp
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý - quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
"Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội", ông Vinh nhấn mạnh.




