Huỳnh Quốc Bảo nhận kết quả thi SAT hồi cuối tuần trước. Bảo kể không có mục tiêu điểm số trước ngày thi. Đây cũng là tâm thế của em trong học tập nói chung – không đặt nặng thành tích, miễn học hết sức và phát huy đúng năng lực.
SAT là bài thi chuẩn hóa bằng tiếng Anh, gồm hai phần Đọc – Viết (54 câu) và Toán (44 câu), được dùng rộng rãi trong xét tuyển đại học ở Mỹ và các nước châu Âu. Theo College Board, đơn vị tổ chức, từ mức 1520 điểm, thí sinh đã thuộc nhóm 1% cao nhất toàn cầu.
Nam sinh có kế hoạch ôn thi SAT từ cuối năm lớp 11 để tăng cơ hội trúng tuyển vào đại học. Tháng 6 năm ngoái, Bảo bắt đầu tìm hiểu những chủ đề kiến thức chung. Đến tháng 9, em được chọn vào đội tuyển của TP HCM dự thi học sinh giỏi cấp quốc gia môn Hóa nên phải tạm ngưng.
Nam sinh sau đó đạt giải ba – đủ điều kiện được tuyển thẳng vào đại học nhưng vẫn tiếp tục ôn tập, luyện đề SAT, để chủ động cơ hội lựa chọn ngành nghề.
Lần thi thử đầu tiên, Bảo đạt 1500 điểm. Nam sinh nhận ra bản thân “sa lầy” ở những câu khó, bỏ qua nhiều câu dễ nên mất điểm đáng tiếc. Bảo sau đó vạch chiến lược phân bổ thời gian hợp lý, giải quyết câu dễ trước, khó sau và luôn dành thời gian kiểm tra lại bài.
Ngày thi chính thức, Bảo không gặp khó khăn với phần Toán nhưng mất thời gian với một số câu Đọc – Viết khó. Em dùng phương pháp loại trừ, suy luận để chọn phương án.
“Có một số câu em không chắc chắn nhưng kết quả này nằm trong dự tính của em”, Bảo cho hay.
Theo em, câu hỏi và dữ kiện trong đề SAT thường khó hiểu vì dài và ngữ pháp phức tạp. Nếu đọc nhanh, thí sinh thường cảm thấy mơ hồ và phải đọc lại, từ đó làm ảnh hưởng đến thời gian làm bài.
“SAT cũng hiểm hóc ở chỗ mọi từ trong câu đều có nghĩa. Nếu đọc lướt, mình dễ hiểu sai rồi chọn phương án sai”, Bảo phân tích. “Em luôn cẩn thận, tỉ mỉ khi đọc”.
Nam sinh nhìn nhận SAT đòi hỏi thí sinh phải có vốn từ vựng dồi dào để đọc hiểu dữ liệu. Khi đọc đề, em phân tích các thành phần chính trong câu, ý chính trong đoạn văn để chọn đáp án logic nhất.
Tiếng Anh là lợi thế của Bảo nhờ học từ nhỏ, đã thi đạt chứng chỉ IELTS 7.5 hồi năm ngoái. Để tích lũy vốn từ, nam sinh hay dùng “vòng quay may mắn” để học từ mới. Yếu tố bất ngờ mỗi khi quay chữ giúp em có phản xạ nhanh và nhớ lâu hơn. Ngoài ra, Bảo hay tạo ví dụ gắn liền với từ vựng để dễ dàng liên tưởng.
Bảo kể vốn định đi theo hướng chuyên Anh cho đến khi được tiếp xúc với môn Hóa vào năm lớp 8. Nam sinh bị thu hút bởi những nguyên tố độc lạ, phản ứng hóa học đầy màu sắc trong phòng thí nghiệm.
“Em học tốt Toán, Lý nhưng không thấy hứng thú. Hóa cho em cảm giác muốn khám phá, giải nghĩa vì sao lại có những hiện tượng xảy ra khi các chất tiếp xúc với nhau”, Bảo nói.
Dù vậy, cậu vẫn duy trì đầu tư cho Toán và Tiếng Anh. Bảo nhận thấy hai môn này bổ trợ nhiều cho việc học Hóa, đặc biệt là kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Với các phương trình hóa học nâng cao, học sinh phải vận dụng tư duy Toán học để tính chuẩn xác. Tiếng Anh giúp em tiếp cận những tài liệu chuyên Hóa mới nhất trên thế giới.
Sự kết hợp này giúp Bảo vượt cấp tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh dành cho học sinh lớp 11 (Olympic 27/4) của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và đạt giải khuyến khích ngay từ lớp 10. Hai năm sau, em giành hàng loạt giải thưởng, từ thủ khoa Olympic 27/4, huy chương vàng Olympic truyền thống 30/4, giải khuyến khích rồi đến giải ba cấp quốc gia.
Có những thời điểm phải dồn sức cả bài vở trên lớp lẫn các cuộc thi nhưng Bảo vẫn dành thời gian chơi piano hoặc guitar để giải tỏa căng thẳng, hỗ trợ hoạt động ngoại khóa, văn nghệ của trường. Đặc biệt, nam sinh đặt ra kỷ luật với giấc ngủ để giữ sức khỏe.
“Phương châm của em là học ít mà hiệu quả còn hơn cày ngày cày đêm. Càng thức khuya năng suất càng giảm nên em hiếm khi đi ngủ trễ hơn 22h30”, Bảo nói.
Chủ nhiệm lớp Bảo suốt 3 năm qua, cô Nguyễn Thị Liên, đánh giá Bảo sống tình cảm, khiêm tốn và kiên định với con đường của mình thay vì chạy theo số đông. Với sức học và tính cách của Bảo, nhiều thầy cô gợi ý em đi theo khối ngành y dược, nhưng Bảo vẫn chọn gắn bó với Hóa.
Ngoài ra, dù phải dành thời gian nhiều cho các cuộc thi và môn chuyên, nhưng với các môn phụ, Bảo vẫn học nghiêm túc, không bỏ bê.
“Em ấy học tập trong tâm thế thoải mái, không đặt nặng phải đạt giải cao nên trong lớp rất hay nhường nhịn, giúp đỡ bạn bè”, cô Liên cho biết.
Nhiều khả năng được tuyển thẳng nhưng Bảo cho biết vẫn cố gắng tối đa trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới. Nam sinh đang cân nhắc đặt nguyện vọng vào ngành Kỹ thuật Hóa, Hóa học hoặc Sư phạm Hóa của trường Đại học Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Sư phạm TP HCM.
“Em dự định hoàn thành chương trình cử nhân trong nước sau đó tìm kiếm học bổng du học ngành Hóa ứng dụng”, Bảo nói.
Với 25,5/30 điểm, Nguyễn Nhất Huy, 20 tuổi, sinh viên năm thứ ba, lớp Sư phạm Toán chất lượng cao (K73), Đại học Sư phạm Hà Nội, vừa đoạt giải nhất bảng A môn Đại số tại kỳ thi Olympic Toán học sinh viên và học sinh toàn quốc.
Đây vốn được coi là bảng đấu "khó nhằn", tập trung những thí sinh xuất sắc đến từ các trường chuyên đào tạo ngành Toán. Đề thi gồm 5 bài tự luận trong 180 phút. Huy cho biết làm gần hết, chỉ bỏ lại một câu khó nhất.
"Mình vui nhưng không quá bất ngờ bởi đã tự dự đoán được điểm sau khi rời phòng thi", Huy nói, cho biết từng giành giải nhì năm ngoái và đã đặt mục tiêu "đổi màu" huy chương ở lần thi này.
Nhất Huy không phải là cái tên xa lạ trong cộng đồng yêu thích Toán ở phổ thông. Ngày học lớp chuyên Toán, trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An, nam sinh từng đạt giải nhì quốc gia, vào vòng thi chọn đội tuyển quốc tế. Thành tích này giúp Huy được tuyển thẳng vào nhiều trường, trong đó có Đại học Sư phạm Hà Nội.
Nam sinh cho biết bén duyên với công việc giảng dạy từ sớm. Ngày học lớp 11, Huy đã mày mò biên soạn tài liệu Toán và hứng thú đặc biệt với việc giải thích kiến thức làm sao để mọi người hiểu. Đến nay, cuốn sách đầu tay của Huy dành cho học sinh ôn thi lớp 10 chuyên Toán đã nhiều lần tái bản.
Vào năm thứ nhất đại học, Huy được phụ huynh và học sinh tìm đến, ban đầu là những nhóm nhỏ, sau đó phát triển thành các lớp ổn định. Nhờ nền tảng học tập và hoạt động tích cực trong cộng đồng toán học, nam sinh cũng được thầy cô tin tưởng, mời giảng dạy một số buổi cho đội tuyển Toán của tỉnh Nghệ An.
Để tham gia kỳ thi Olympic Toán sinh viên toàn quốc, Huy trải qua kỳ thi chọn đội tuyển của trường vào cuối tháng 1. Trong một tháng chuẩn bị trước khi thi, mỗi tuần, nam sinh dành một đến hai buổi để giải các bài toán khó từ đề thi Olympic trong nước và quốc tế.
Theo Huy, khó nhất là phải rèn tốc độ, độ chính xác và kỹ năng trình bày bài. "Đề thi dài và nặng kiến thức. Muốn có thời gian nghĩ bài khó thì tốc độ làm bài phải đủ nhanh, nhạy bén và chắc ở những câu đầu", nam sinh nhìn nhận.
Với những bài khó, Huy đặt giới hạn chừng hai tiếng để tìm cách giải. Nếu vẫn không làm được, nam sinh mới tham khảo lời giải để học thêm phương pháp. Huy cho rằng tự học là yếu tố cốt lõi để để học tốt Toán.
Thành tích của Huy đã góp phần giúp Đại học Sư phạm Hà Nội có một mùa thi "rực rỡ" kể từ khi tham gia phong trào Olympic Toán vào năm 1993, theo PGS. TS Lê Văn Hiện, Hiệu trưởng trường Toán học và Công nghệ thông tin. Năm nay, cả 10 thành viên đội tuyển đều giành huy chương, trong đó 8 huy chương vàng. Hai thủ khoa ở hai bảng khó nhất đều thuộc về sinh viên Sư phạm Hà Nội.
"Nhất Huy là một trong những sinh viên xuất sắc, nổi bật ở khoa và có tiềm năng phát triển chuyên môn rất tốt trong tương lai", thầy đánh giá. Nói thêm, PGS Hiện cho biết đội tuyển của trường không phải ôn luyện cấp tốc bởi các sinh viên đã có nền tảng toán học vững chắc từ chương trình đào tạo.
Ngoài dạy và học, Nhất Huy thường xuyên góp mặt trong các hoạt động của khoa, nhà trường. Nam sinh nói không tránh khỏi những lúc mệt nhưng hiếm khi cảm thấy quá tải vì luôn lên kế hoạch từ sớm.
"Mình thường nghĩ trước một tuần là sẽ có những việc gì, việc nào quan trọng thì làm trước. Chia nhỏ và làm cuốn chiếu như vậy sẽ không bị dồn việc và giảm độ trễ", Huy chia sẻ.
Nam sinh đặt mục tiêu hoàn thành tốt chương trình cử nhân, tiếp tục học thạc sĩ, nâng cao khả năng giảng dạy và theo đuổi nghiên cứu toán học nghiêm túc.
"Trước mắt, mình muốn trở thành một giáo viên dạy Toán tốt, sau đó là một nhà Toán học thực thụ", Huy nói.
Chiều 7.4, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức tọa đàm với chủ đề "Đánh giá năng lực học sinh lớp 9: Thước đo chuẩn hóa và cầu nối chuyển cấp theo chương trình giáo dục phổ thông".
GS-TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng nhà trường, cho hay Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chính thức được triển khai và đến nay đang bước vào một giai đoạn rất đặc biệt. Những học sinh đầu tiên học theo chương trình mới từ lớp 1 đến lớp 12 đã hoàn thành chương trình vào năm học 2024–2025, đánh dấu một chu kỳ triển khai quan trọng. Đây không chỉ là cột mốc về mặt thời gian, mà còn là thời điểm cần thiết để chúng ta có những nhìn nhận, đánh giá sâu sắc hơn về hiệu quả của chương trình, đặc biệt là về việc đánh giá năng lực học sinh – một trong những trụ cột cốt lõi của chương trình giáo dục mới.
Cũng theo GS Huỳnh Văn Sơn, khác với cách tiếp cận trước đây chủ yếu dựa trên việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực người học. "Tuy nhiên, trên thực tế, việc hiểu đúng và triển khai đúng đánh giá năng lực vẫn còn nhiều thách thức. Không ít nơi, việc đánh giá vẫn mang nặng tính kiểm tra, chấm điểm, chưa thực sự phản ánh được năng lực vận dụng, tư duy và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh", GS Huỳnh Văn Sơn nói.
Chính vì vậy, theo GS Huỳnh Văn Sơn, việc củng cố nhận thức đúng đắn về đánh giá năng lực là hết sức cần thiết, không chỉ đối với đội ngũ giáo viên mà còn đối với cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Đánh giá năng lực không chỉ là "đo lường" kết quả học tập, mà bản chất sâu xa của nó là một hoạt động học tập, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh, giúp người học hiểu rõ mình, định hướng phát triển và thích ứng với các yêu cầu học tập tiếp theo.
Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM cũng cho hay từ năm 2022, trường đã tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt dành cho học sinh THPT. Trên cơ sở đó, trường tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu ở cấp THCS, đặc biệt là đối với học sinh lớp 9 – giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ THCS lên THPT. Từ đầu năm 2025, trường đã thành lập các nhóm nghiên cứu chuyên môn, tiến hành xây dựng định dạng bài thi và ngân hàng câu hỏi nhằm đánh giá năng lực chuyên biệt của học sinh lớp 9. Dự kiến từ năm học 2026–2027, hoạt động đánh giá này sẽ được triển khai rộng rãi, từng bước trở thành một công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho việc đánh giá năng lực của học sinh khi tốt nghiệp THCS và chuyển cấp.
Tại tọa đàm, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM giới thiệu bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt dành cho học sinh lớp 9 do trường nghiên cứu và phát triển, bao gồm định dạng bài thi, cấu trúc đề thi và cách thức xây dựng ngân hàng câu hỏi theo hướng chuẩn hóa, hiện đại. Đồng thời, thảo luận về khả năng triển khai và sử dụng kết quả đánh giá năng lực, đặc biệt trong việc hỗ trợ tuyển sinh, phân luồng và định hướng học tập cho học sinh trong giai đoạn chuyển cấp.
Sự lặp lại này không phải ngẫu nhiên. Nó là sản phẩm của một mô hình quản lý đã định hình từ lâu, nơi pháp luật được ban hành đầy đủ trên giấy nhưng không được vận hành đến tận điểm phát sinh rủi ro. Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta thiếu phản ứng. Vấn đề nằm ở chỗ toàn bộ mô hình quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) bữa ăn bán trú ở VN đang được thiết kế để phản ứng chứ không phải để phòng ngừa.
Nhìn từ góc độ pháp lý, khung quy định hiện hành thoạt nhìn có vẻ chặt chẽ. Luật ATTP 2010 dành riêng các điều 28, 29, 30 quy định điều kiện bảo đảm an toàn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bao gồm bếp ăn tập thể, từ bố trí mặt bằng chống nhiễm chéo, dụng cụ chế biến đến nguyên liệu rõ nguồn gốc và lưu mẫu thức ăn. Điều 54 đặt ra nghĩa vụ truy xuất nguồn gốc khi cần. Bộ luật Hình sự năm 2015 tại điều 317 hình sự hóa hành vi cung cấp thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn gây ngộ độc nghiêm trọng, với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù.
Nghị định 15/2018/NĐ-CP cụ thể hóa điều kiện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện. Chỉ thị 38/CT-TTg ngày 11.10.2024 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Mới đây, Bộ Y tế ban hành Công văn 2236/BYT-ATTP ngày 1.4.2026 yêu cầu siết chặt kiểm tra bếp ăn tập thể trường học.
Như vậy, nhìn thì thấy rõ khung pháp lý đầy đủ, vậy khoảng trống nằm ở đâu?
Khoảng trống thứ nhất nằm trong chính cấu trúc của hệ thống. Việc cấp phép cho doanh nghiệp cung cấp suất ăn được thực hiện một lần trong khi rủi ro vi sinh phát sinh hằng ngày. Một cơ sở có thể đạt chuẩn vào ngày được cấp giấy chứng nhận nhưng quy trình bảo quản, vận chuyển, phân chia khẩu phần lại có thể xuống cấp chỉ sau vài tháng mà không ai biết. Hậu kiểm theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP về nguyên tắc là công cụ để bù đắp cho khoảng trống này. Tuy nhiên, trên thực tế hậu kiểm thường mang tính định kỳ, có thông báo trước và tập trung vào hồ sơ giấy tờ hơn là quy trình thực tế. Kiểm tra một bếp ăn vào lúc nhân viên đã chuẩn bị sẵn tâm thế đón đoàn không cho phép phát hiện được những thói quen tệ hại diễn ra trong 364 ngày còn lại của năm.
Khoảng trống thứ hai mang tính thể chế. Quản lý ATTP trường học ở VN đang bị phân mảnh giữa nhiều đầu mối. Sở Y tế hoặc Sở ATTP chịu trách nhiệm về chuyên môn vệ sinh thực phẩm. Sở GD-ĐT quản lý hoạt động của nhà trường. Chính quyền địa phương cấp xã, phường có vai trò giám sát trên địa bàn. Hiệu trưởng nhà trường, theo khoản 7 điều 28 luật ATTP, là người đứng đầu đơn vị có bếp ăn tập thể nên phải chịu trách nhiệm chính. Và cuối cùng là doanh nghiệp cung cấp suất ăn, chủ thể trực tiếp sản xuất ra rủi ro.
5 chủ thể, mỗi chủ thể giữ một mảnh trách nhiệm và khi sự cố xảy ra mảng trách nhiệm nào cũng có thể được giải thích là trách nhiệm của người khác. Đây là mô hình mà các nhà phân tích thể chế gọi là trách nhiệm khuếch tán, nơi không ai phải gánh vác cụ thể vì ai cũng có thể chỉ tay sang bên cạnh.
Khoảng trống thứ ba là sự thiếu vắng minh bạch chủ động. Phụ huynh đóng tiền ăn cho con mỗi tháng nhưng không có quyền tiếp cận thông tin về đơn vị cung cấp suất ăn theo cách hệ thống. Họ không biết doanh nghiệp đó đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính bao nhiêu lần? Kết quả các đợt hậu kiểm gần nhất ra sao? Có vướng vào sự cố tại trường nào khác hay không?
Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới có hệ thống ATTP hiệu quả, kết quả thanh tra vệ sinh được công khai bắt buộc, thậm chí dán ngay tại cửa cơ sở dưới dạng xếp hạng để người tiêu dùng nhìn thấy. Nguyên tắc rất đơn giản. Khi thông tin về chất lượng được công khai thì doanh nghiệp tự có động lực kinh tế để cải thiện vì khách hàng có thể chọn hoặc không chọn họ. Khi thông tin bị che giấu, không có cơ chế thị trường nào hoạt động và mọi gánh nặng giám sát đổ dồn lên cơ quan nhà nước vốn đã quá tải.
Khoảng trống thứ tư và có lẽ là gốc rễ, nằm ở cách chúng ta định giá bữa ăn của trẻ em. Khi mức thu tiền ăn bán trú bị giới hạn ở mức rất thấp, các đơn vị cung cấp suất ăn buộc phải cắt giảm chi phí ở mọi khâu để có lợi nhuận. Nguyên liệu rẻ hơn nghĩa là rủi ro chất lượng cao hơn. Vận chuyển bằng phương tiện không bảo đảm nghĩa là rủi ro vi sinh tăng theo thời gian và nhiệt độ. Nhân công không được đào tạo bài bản nghĩa là quy trình vệ sinh dễ bị bỏ qua. Đây không phải là biện minh cho doanh nghiệp vi phạm mà là chỉ ra một thực tế rằng nếu thiết kế kinh tế của bữa ăn học đường khiến việc làm đúng trở nên không có lãi thì việc làm sai chỉ còn là vấn đề thời gian.
Vậy nên thay đổi như thế nào? Chúng ta cần dịch chuyển mô hình từ hậu kiểm sang phòng ngừa dựa trên rủi ro theo nguyên tắc HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points - hệ thống quản lý ATTP dựa trên việc phân tích mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn) đã được nhiều quốc gia áp dụng cho dịch vụ ăn uống tập thể.
Cốt lõi của HACCP không phải là kiểm tra sản phẩm cuối cùng mà là kiểm soát các điểm nguy cơ trong quy trình từ tiếp nhận nguyên liệu đến phân phối khẩu phần. Khi rủi ro được kiểm soát ngay tại điểm phát sinh thì sự cố sẽ giảm trước khi cần đến đoàn công tác liên ngành. Đi kèm với đó là yêu cầu công khai bắt buộc kết quả thanh tra dưới dạng xếp hạng dễ hiểu để phụ huynh có công cụ giám sát thực chất. Đi xa hơn nữa là việc xác lập trách nhiệm cá nhân của hiệu trưởng và lãnh đạo giáo dục địa phương khi sự cố xảy ra. Không chỉ trách nhiệm hành chính mà cả trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu buông lỏng quản lý có hệ thống.
Bữa ăn của một đứa trẻ ở trường không phải chỉ là vấn đề vệ sinh thực phẩm. Đó là phép thử cho năng lực thể chế của một xã hội trong việc bảo vệ nhóm yếu thế nhất, những người không có quyền lựa chọn và không có tiếng nói. Khi phép thử này thất bại lặp đi lặp lại theo cùng một kịch bản, đã đến lúc thừa nhận vấn đề không nằm ở vài cá nhân vi phạm mà nằm ở chính mô hình quản lý đang được vận hành.