Trong nhiều chu kỳ bất động sản trước đây, phần lớn nhà đầu tư đặt trọng tâm vào khả năng tăng giá của tài sản. Tuy nhiên khi chi phí vốn tăng lên, cấu trúc đánh giá hiệu quả đầu tư bắt đầu thay đổi.
Chi phí vốn cao không chỉ phản ánh lãi suất vay ngân hàng, mà còn là chi phí cơ hội của dòng tiền. Khi lãi suất tiền gửi phổ biến dao động khoảng 7–10%/năm, bất kỳ kênh đầu tư nào cũng phải chứng minh được khả năng tạo ra lợi nhuận vượt qua mức nền này. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư chuyển sang cách tiếp cận thận trọng hơn: thay vì chỉ nhìn vào khả năng tăng giá trong tương lai, họ bắt đầu đánh giá dòng tiền khai thác thực tế của tài sản.
Trong bối cảnh đó, các tài sản phụ thuộc hoàn toàn vào kỳ vọng tăng giá thường trở nên kém hấp dẫn hơn. Ngược lại, những bất động sản có thể gắn với hoạt động khai thác thực, từ lưu trú, dịch vụ đến cho thuê dài hạn lại được đánh giá cao hơn trong danh mục của nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Đối với phân khúc căn hộ cao cấp tại các đô thị du lịch, lợi suất cho thuê thường được ước tính khoảng 8–12%/năm, tùy thuộc vào vị trí, công suất khai thác và chuẩn vận hành của dự án. Khi kết hợp với mức tăng giá tài sản theo chu kỳ, đây là nền tảng giúp nhiều nhà đầu tư xây dựng các kịch bản lợi nhuận trung hạn.
Chẳng hạn, với một kịch bản giả định phổ biến trong thị trường căn hộ cao cấp:
Kịch bản thứ nhất khi khách hàng nắm giữ bất động sản cao cấp trong 3 năm: Lợi suất cho thuê trung bình: khoảng 9%/năm, tăng giá tài sản: khoảng 5–8%/năm. Dẫn đến tổng lợi nhuận tiềm năng sau 3 năm có thể đạt 32–38%.
Kịch bản 2 khi khách hàng nắm giữ bất động sản cao cấp trong 5 năm: Lợi suất khai thác duy trì: khoảng 8%/năm, tăng trưởng giá trị tài sản: khoảng 6–10%/năm. Dẫn đến tổng lợi nhuận tiềm năng có thể đạt 60–80% trong 5 năm.
Các con số trên mang tính minh họa theo dữ liệu thị trường căn hộ cao cấp trong những năm gần đây, nhưng cho thấy rõ cách nhà đầu tư ngày càng nhìn bất động sản như một tài sản tạo dòng tiền, thay vì chỉ là công cụ đầu cơ tăng giá.
Đà Nẵng, với lợi thế là điểm đến du lịch quốc tế, đang hội tụ đủ điều kiện để chuyển dịch sang mô hình “bất động sản vận hành”. Sự phục hồi mạnh mẽ của du lịch, cùng xu hướng lưu trú ngắn hạn cao cấp, khiến các sản phẩm căn hộ có thể khai thác như khách sạn trở thành lựa chọn ưu tiên. Trong bối cảnh đó, những dự án được quy hoạch bài bản, có tiêu chuẩn vận hành rõ ràng và vị trí trung tâm thực sự sẽ chiếm ưu thế.
Du lịch Đà Nẵng ghi nhận sự khởi đầu năm 2026 với nhiều con số ấn tượng. Hai tháng đầu năm, thành phố đón gần 2,5 triệu lượt khách.
Theo thống kê, công suất phòng bình quân toàn thành phố đạt khoảng 65–70%, trong khi khối khách sạn 4–5 sao đạt tới khoảng 85%. Tỷ lệ lấp đầy của các khách sạn từ 3 sao trở lên đạt khoảng 78%. Giá phòng bình quân cũng tăng khoảng 9% so với cùng kỳ, đạt gần 2 triệu đồng/phòng/đêm.
Những dữ liệu này là chỉ báo dẫn dắt quan trọng cho thị trường bất động sản. Chúng là thước đo trực tiếp cho nhu cầu thị trường, giúp nhà đầu tư tính toán tỉ suất lợi nhuận (ROI), bài toán dòng tiền cũng như khả năng tăng giá của tài sản trong dài hạn.
Đối với các dự án căn hộ tại khu vực lõi của thành phố, bài toán dòng tiền thường được hình thành từ ba lớp nền tảng. Lớp thứ nhất là vị trí tạo cầu thuê, tức khả năng tiếp cận trực tiếp với dòng khách du lịch, khách công tác hoặc chuyên gia làm việc tại thành phố. Lớp thứ hai là chuẩn sản phẩm và trải nghiệm, yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh về giá thuê và mức độ hấp dẫn đối với người lưu trú. Lớp thứ ba là chính sách tài chính, giúp giảm áp lực chi phí vốn trong giai đoạn đầu và tạo điều kiện cho tài sản ổn định công suất khai thác.
Khi ba yếu tố này đứng cùng nhau, nhà đầu tư có thể nhìn thấy rõ hơn công thức vận hành của một tài sản: làm sao giảm áp lực chi phí vốn trong giai đoạn đầu, tăng xác suất lấp đầy trong vận hành và từ đó tạo nền tảng cho giá trị tài sản trong dài hạn.
Tại Đà Nẵng, trục sông Hàn – Cầu Rồng là một trong những điểm đến hội tụ cả ba nền tảng tạo dòng tiền. Đây là khu vực tập trung lượng lớn khách du lịch, khách công tác và các hoạt động trải nghiệm đô thị về đêm. Nhờ hệ sinh thái sẵn có quanh sông Hàn và cầu Rồng, những dự án như The Legend Danang có điều kiện thuận lợi để khai thác ngay từ khi đi vào vận hành trong tương lai. Lợi thế vị trí giúp tài sản tiếp cận trực tiếp dòng khách du lịch và nhu cầu lưu trú tại trung tâm, thay vì phụ thuộc vào quá trình hình thành thị trường.
Trong bối cảnh thị trường bước vào giai đoạn chọn lọc, điều nhà đầu tư quan tâm không còn là khả năng tăng giá trong ngắn hạn. Câu hỏi quan trọng hơn là liệu tài sản đó có thể tự tạo ra dòng tiền đủ ổn định để vượt qua chu kỳ chi phí vốn hay không. Và chính ở điểm này, những căn hộ nằm trong lõi khai thác của đô thị thường có lợi thế rõ rệt hơn so với phần còn lại của thị trường.
Cập nhật tình hình nắng nóng ngày 9.4, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết: Khu vực từ Nghệ An đến Huế tiếp tục nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ lúc 13 giờ phổ biến 37 - 39 độ C, có nơi trên 39 độ C. Đáng chú ý, tâm điểm nắng nóng chuyển từ Nghệ An sang Hà Tĩnh. Mức nhiệt cao nhất một số trạm như: Quỳ Hợp (Nghệ An) 39,6 độ C, Hương Khê (Hà Tĩnh) 40,2 độ C, Tuyên Hóa (Quảng Trị) 39,3 độ C…, độ ẩm tương đối lúc 13 giờ phổ biến 40 - 50%. Mức độ rủi ro thiên tai do nắng nóng ở cấp 2.
Bên cạnh đó, tây Bắc bộ và khu vực từ Đà Nẵng đến phía đông Quảng Ngãi có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ phổ biến 35 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C như: Yên Châu (Sơn La) 37,2 độ C, Mai Châu (Phú Thọ) 37,5 độ C; độ ẩm phổ biến 40 - 50%.
Khu vực phía bắc Tây nguyên Trung Bộ và Nam bộ có nắng nóng với nhiệt phổ biến từ 35 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C như: An Khê (Gia Lai) 36,4 độ C, Ayunpa (Gia Lai) 36,4 độ C.
Dự báo trong ngày 10 - 11.4, khu vực từ Thanh Hóa đến Huế có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 38 - 40 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Khu vực tây Bắc bộ và từ Đà Nẵng đến phía đông tỉnh Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 40 - 45%.
Khu vực Đông Bắc Bộ (ngoại trừ Quảng Ninh, Hải Phòng), Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 37 độ, có nơi trên 37 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 45 - 50%.
Ngày 8.4, khảo sát một số ngân hàng (NH) tại TP.HCM cho thấy lãi suất (LS) cho vay mua bất động sản (BĐS) nói chung, mua nhà nói riêng tiếp tục neo cao, một số NH vừa nâng thêm LS từ đầu tháng 4. Có một điểm khác biệt là LS cho vay của nhóm 4 (Big 4) NH thương mại cổ phần (TMCP) nhà nước hiện đã lên bằng, thậm chí cao hơn các NH TMCP. Tại một chi nhánh của NH BIDV, nhân viên tư vấn cho biết hiện LS cho vay mua BĐS là 11%/năm và chốt cố định 12 tháng; sau đó LS được tính bằng lãi suất tiết kiệm NH công bố kỳ hạn 24 tháng cộng thêm biên độ 5%. Như vậy nếu so với giữa tháng 3, LS cho vay mua BĐS của BIDV đã tăng thêm khoảng 1%/năm.
Tại Vietcombank, nhân viên cho hay NH đang áp dụng LS 9,6%/năm đối với gói vay cố định 6 tháng, lên 10,5%/năm nếu cố định trong 12 tháng đầu tiên. Sau thời gian cố định, LS thả nổi được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của NH này cộng 3,3% nhưng không thấp hơn LS sàn (hiện nay LS sàn của Vietcombank là 11,1%/năm). Theo thông báo mới nhất, VietinBank cũng nâng LS vay mua BĐS cố định trong 24 tháng đầu lên hơn 12% mỗi năm và sau đó thả nổi nhưng không thấp hơn LS cho vay sàn của NH này là 14%/năm. Tương tự, nhân viên một chi nhánh Agribank tại TP.HCM cũng thông tin LS cho vay BĐS hiện đã lên sát 10%/năm nhưng chỉ chốt cố định trong vòng 1 năm… Như vậy, LS cho cá nhân vay mua BĐS tại nhóm NH Big 4 đã tăng cao gần gấp đôi so với mức từ 6 - 6,5%/năm của một năm trước.
Đáng chú ý, không chỉ tăng cao mà một số NH cũng khá dè dặt khi tư vấn cho khách hàng có nhu cầu vay mua nhà. Nhân viên chi nhánh BIDV nói thẳng, nếu khách hàng thế chấp nhà đang ở thì có thể làm hợp đồng dạng vay tiêu dùng với LS 10%/năm và hồ sơ sẽ được phê duyệt nhanh hơn. Nhân viên Agribank cũng không mấy mặn mà khi được hỏi về gói vay mua nhà và cũng thông báo, hiện hồ sơ xét duyệt chậm hơn trước nên có thể phải chờ…
Trong khi đó, LS tại một số NH TMCP cũng đã vượt 12%/năm sau thời gian ưu đãi ban đầu. Chẳng hạn, NH TMCP Phương Đông áp dụng LS cho vay 10,75%/năm chốt trong 6 tháng đầu và sau đó bằng LS cơ sở cộng 3,25%; hoặc LS 11,5%/năm trong vòng 12 tháng đầu tiên và sau đó tính bằng LS cơ sở cộng 3,5%. Trong đó, LS cơ sở của NH này được tính là LS cơ sở kỳ hạn 13 tháng ban hành từng thời kỳ. Tại NH TMCP Quốc tế (VIB), LS cho vay mua nhà dao động từ 9,5 - 12%/năm (tuỳ theo thời gian ưu đãi cố định từ 6 - 12 tháng). Sau thời gian ưu đãi, LS được tính theo LS cơ sở ban hành theo thời kỳ cộng biên độ cố định 3%. Giả sử khách hàng chọn LS 10,5%/năm cho thời gian chốt cố định 12 tháng thì sau khi thả nổi sẽ lên sát 13%/năm; nếu chọn mức LS 12%/năm thì sau đó LS sẽ lên đến 15%/năm sau 2 năm.
Tương tự, Techcombank công bố LS cho vay mới mua nhà là 9,5%/năm và cố định trong 12 tháng đầu tiên; sau đó LS được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng của chính NH cộng biên độ 3,5%... Những NH TMCP nêu trên đều cho biết vẫn nhận hồ sơ vay của khách hàng cá nhân thông thường và thời gian giải ngân chỉ giải quyết trong vòng 1 tuần.
Không chỉ LS cho vay mới tăng cao, những khách hàng vay cũ cũng đang sốt ruột với việc điều chỉnh lãi vay. Anh Trung ở P.Tân Thuận (Q.7 cũ), TP.HCM, đang có hợp đồng vay mua căn hộ được 3 năm tại một NH TMCP. Chỉ sau năm đầu tiên áp dụng LS gần 10%/năm thì sau đó LS thả nổi và điều chỉnh 3 tháng một lần. Năm 2025, LS anh phải trả dao động chỉ khoảng 11,6 - 11,8%/năm. Mới nhất từ đầu tháng 4, LS của anh được thông báo lên 13,6%/năm. Vì thế, chỉ riêng tiền lãi anh phải trả lên gần 13 triệu đồng/tháng, cao hơn thời điểm đầu năm 1 triệu đồng/tháng. "Hợp đồng vay đến 15 năm nên cứ nghe LS tăng cao là thót tim. Mỗi lần điều chỉnh lên là phải "bóp mồm bóp miệng" để trả lãi đúng hạn cho NH", anh Trung nói.
Tương tự, chị Thu Hương (Q.Tân Phú cũ), TP.HCM, cũng có hợp đồng cũ vay mua nhà đã hơn 4 năm, cuối tháng 3 vừa rồi cũng bị điều chỉnh LS lên 14%/năm từ mức 12%/năm trước đó. Như vậy dù nợ gốc đã giảm dần thì tổng số tiền hằng tháng chị thanh toán cũng không giảm đi so với cuối năm 2025 do tiền lãi gia tăng.
Trong khi đó, chị V.K tại P.Tân Định (Q.1 cũ), TP.HCM, cũng đang nơm nớp lo khi hợp đồng vay sắp hết thời gian ưu đãi. Chị chia sẻ hợp đồng vay mua nhà của chị tại BIDV trước đây với LS 6,5%/năm cố định trong 18 tháng. Đến tháng 6 này sẽ hết thời gian ưu đãi thì LS trong hợp đồng ghi rõ sẽ được điều chỉnh bằng LS tiết kiệm của NH cộng biên độ 4%. Hiện nay LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của BIDV niêm yết là 6,5%/năm thì đến kỳ điều chỉnh, LS của chị V.K sẽ tăng lên 10,5%/năm. Thế nhưng thực tế LS có thể còn cao hơn vì chưa rõ NH tính thế nào. "Mấy hôm nay nghe LS tiết kiệm lên cao rồi LS cho vay cũng tăng mạnh là tôi ngán vì thế nào LS của mình cũng bị điều chỉnh tăng theo. Nhà tôi đang tính toán gom tiền hết mức có thể, kể cả vay mượn anh chị em thêm một thời gian ngắn để đến lúc đó thanh toán bớt phần gốc càng nhiều càng tốt. Vì chỉ trả bình thường thì riêng phần lãi đã tăng mạnh so với thời gian trước đây", chị V.K chia sẻ.
Trả lời thắc mắc khi người viết hỏi vì sao LS cho vay tăng cao, nhân viên tín dụng các NH đều cho rằng do LS tiết kiệm đã bị đẩy lên liên tục nên đầu ra cũng phải lên theo. Hơn nữa, chính sách của NH Nhà nước cũng đưa ra thông điệp kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng BĐS trong năm 2026 không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành (khoảng 15%/năm). Vì vậy một số NH không còn nhiều quota giải ngân cho vay BĐS.
Bên cạnh đó, tình trạng thanh khoản của các NH cũng chưa khả quan khi lượng tiền huy động vẫn thấp hơn lượng tiền cho vay trong thời gian qua. Theo báo cáo tình hình KT-XH quý 1/2026 của Cục Thống kê, đến ngày 24.3, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,04% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức 1,89% của cùng kỳ năm trước. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0,44%, giảm mạnh so với 1,23% cùng kỳ năm 2025. Ngược lại, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 2,15%, gần bằng mức 2,28% của quý 1/2025. Điều này khiến LS huy động vẫn được đẩy lên cao, kéo theo LS cho vay nói chung, mua nhà nói riêng đi lên.
Theo Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn nhà nước là 8,51 triệu tỉ đồng, phần còn lại sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân và nước ngoài.
Phát biểu tại hội thảo "40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" chiều 13.4, tại Hà Nội, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn đang đóng vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đến cuối năm 2024, tổng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỉ đồng, tăng 19,07% so với năm 2023. Trong đó, tín dụng cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%; tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh chiếm khoảng 46%.
"Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện đang cao hơn tốc độ huy động vốn, qua đó tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3 năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ tăng khoảng 0,31%.
Ngành ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, song nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng sẽ thiếu bền vững", bà Tùng lưu ý.
Theo bà Tùng, thời gian qua, dù có nhiều giải pháp nhằm nâng hạng thị trường vốn, quy mô thị trường vẫn hạn chế. Cần phát triển thêm các nguồn vốn khác như quỹ đầu tư, để hỗ trợ doanh nghiệp theo những mô hình linh hoạt hơn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới, bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo 2 cấu phần chính: vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Với vốn chủ sở hữu, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.
Song song, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán tiến gần mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
"Một nguồn lực quan trọng khác là vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn", bà Hạnh nói.
Khá lưu tâm khía cạnh Chính phủ dẫn dắt việc thành lập các quỹ đầu tư quốc gia, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup, phân tích, hiện Việt Nam đã có đề án thành lập quỹ nhà ở quốc gia.
Sẽ rất tốt cho giải bài toán vốn nếu Chính phủ có thể nghiên cứu và xem xét mô hình như: quỹ đầu tư hạ tầng nhằm giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; quỹ tăng trưởng quốc gia nhằm hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao như một số nước đã làm...
Nhấn mạnh hiện vấn đề lớn khi các dự án tiếp cận vốn ngoài ngân hàng là tính hấp dẫn còn thấp, theo vị này, phải nhanh chóng cải thiện điều này. Kinh nghiệm quốc tế là không nên làm dự án riêng lẻ mà gộp danh mục dự án.
"Về cải cách thị trường vốn, hiện Bộ Tài chính đã có đề án tái cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Hiệu quả triển khai sẽ cao hơn nếu như phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp vào chiều sâu, để nhiều doanh nghiệp ngoài ngân hàng tham gia hơn...", ông Thuân nói.