Mục Lục
ToggleNgay sau cuộc họp triển khai công tác ngân hàng ngày 9.4 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn chủ trì, Nam A Bank đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động lên đến 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Ở chiều ngược lại, mức giảm ấn tượng nhất nằm ở lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân, với biên độ giảm đến 3%/năm so với mức hiện hành. Mức lãi suất này được áp dụng cho khách hàng cá nhân kể từ ngày 11.4.2026.
Nam A Bank tiên phong điều chỉnh đồng thời trên cả hai chiều huy động và cho vay cũng phản ánh cách tiếp cận nhanh chóng của ngân hàng nhằm giảm áp lực chi phí vốn cho người vay. Việc thu hẹp biên độ lãi suất không chỉ giúp hạ nhiệt chi phí vốn mà còn tạo điều kiện để dòng tiền chảy mạnh hơn vào các khu vực sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng – những động lực chính thúc đẩy GDP.
Đại diện Nam A Bank cho biết: “Chúng tôi hiểu rằng, sự phát triển bền vững của ngân hàng luôn song hành cùng sức khỏe tài chính của khách hàng. Việc tiết giảm chi phí để dành nguồn lực giảm lãi suất cho vay đến 3% là nỗ lực rất lớn của Nam A Bank nhằm hưởng ứng sát sao chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Ngân hàng không chỉ cung cấp nguồn vốn, mà còn cung cấp giải pháp để khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh có thể tự tin tái đầu tư, phục hồi sản xuất trong giai đoạn then chốt này”.
Không chỉ dừng lại ở câu chuyện lãi suất, Nam A Bank tích hợp các giải pháp công nghệ vào hoạt động kinh doanh thực tiễn giúp khách hàng tiết giảm thời gian, chi phí quản lý….
Đối với phân khúc hộ kinh doanh, ngân hàng triển khai gói ưu đãi toàn diện. Theo đó, Nam A Bank miễn phí tài khoản số đẹp cho hộ kinh doanh mới mở tài khoản, giảm tối đa 0,1% phí dịch vụ chấp nhận thanh toán…
Song song đó, Nam A Bank đã hợp tác cùng VNPay triển khai dịch vụ Nộp thuế số, tích hợp từ phần mềm quản lý bán hàng, kê khai thuế đến hóa đơn điện tử và chữ ký số… Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm chuyển đổi số hóa toàn diện hoạt động của các hộ kinh doanh, giúp hộ kinh doanh tiết giảm chi phí quản lý và chuyên nghiệp hóa quy trình vận hành trong kỷ nguyên số.
Những hoạt động được thực thi kịp thời trên cho thấy Nam A Bank đang tập trung vào chiều sâu, thấu hiểu khó khăn của khách hàng và dùng công nghệ làm “đòn bẩy” để giữ chân người dùng trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh cao.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/nam-a-bank-giam-lai-suat-cho-vay-len-den-3-185260411153321597.htm
Bản đồ nhiệt đỏ rực ngày thứ 5, nắng nóng kéo dài thêm 5 - 7 ngày nữa
Hôm nay, bản đồ nhiệt cả nước tiếp tục đỏ rực vì tình trạng nắng nóng đặc biệt gay gắt kéo dài sang ngày thứ 5 liên tiếp. Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF) cho biết: Có đến 10 trạm quan trắc ghi nhận mức nhiệt từ 40 độ C trở lên. Mức nhiệt cao nhất ghi nhận được là 41,2 độ C tại Con Cuông và Đô Lương (Nghệ An) 41,1 độ C; Hà Tĩnh nóng nhất 40,2 độ C còn Quảng Trị 40 độ C…; độ ẩm thấp nhất phổ biến 35 - 45%.
Khu vực tây Bắc bộ, Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C như: Phù Yên (Sơn La) 39,8 độ C, Mai Châu (Phú Thọ) 40,1 độ C, Trà My (Đà Nẵng) 38,7 độ C, Ba Tơ (Quảng Ngãi) 38,5 độ, Sơn Hòa (Đắk Lắk) 39,4 độ…; độ ẩm thấp nhất phổ biến 40 - 45%.
Khu vực Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất ngày phổ biến từ 35 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C như: Ayunpa (Gia Lai) 37,8 độ C, Phước Long (Đồng Nai) 36,9 độ C…
Nhiệt độ thực đo hôm nay (10.4) và bản đồ dự báo nhiệt độ cao nhất trong 24 giờ tới
NGUỒN: NCHMF
Dự báo trong ngày 11 - 12.4, từ Thanh Hóa đến Huế tiếp tục có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 38 - 40 độ C, có nơi trên 40 độ C, độ ẩm phổ biến từ 35 - 40%.
Khu vực tây Bắc bộ, Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C, độ ẩm phổ biến từ 40 - 45%.
Khu vực Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C, độ ẩm phổ biến từ 45 - 50%.
Phát triển bền vững đô thị Việt Nam: Nâng tầm vị thế quốc gia

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Bộ Công thương lý giải về quyết định điều hành giá xăng dầu lúc nửa đêm

Chia sẻ thông tin tại cuộc họp báo thường kỳ Bộ Công thương ngày 9.4, ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng Kinh doanh xăng dầu và khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, đã giải thích về quyết định điều hành giá xăng dầu lúc nửa đêm trong một số kỳ điều hành vừa qua.
Ông Tuấn khẳng định, điều hành giá xăng dầu tuân thủ quy định tại Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6.3 của Chính phủ điều chỉnh thời gian điều hành giá xăng dầu khi giá thị trường thế giới tăng từ 7% nhằm bám sát giá xăng dầu thế giới và Nghị quyết số 55/NQ-CP ngày 19.3 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 36/NQ-CP khi giá thị trường thế giới tăng từ 15% trở lên và giảm từ 10% thì ra quyết định điều hành.
Theo đó, điều hành giá xăng dầu vào thời điểm nửa đêm trong một số kỳ "bất thường" xuất phát từ yêu cầu bám sát diễn biến thị trường thế giới và bảo đảm hiệu lực áp dụng đồng bộ trên toàn hệ thống.
Ông Nguyễn Anh Tuấn dẫn chứng 3 lý do để liên bộ Công thương - Tài chính ra quyết định điều hành giá xăng dầu vào nửa đêm.
Thứ nhất, giá xăng dầu thế giới thường biến động liên tục và chốt theo chu kỳ giao dịch quốc tế. Do đó, việc điều hành vào cuối ngày giúp cơ quan quản lý cập nhật đầy đủ dữ liệu giá mới nhất, từ đó xác định mức giá cơ sở sát thực tế, hạn chế độ trễ chính sách.
Thứ hai, nửa đêm là thời điểm phù hợp để triển khai đồng loạt trên toàn quốc, tránh xáo trộn hoạt động kinh doanh trong giờ cao điểm, đồng thời hạn chế tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc mua bán tranh thủ chênh lệch giá trước và sau điều chỉnh.
Thứ ba, trong các kỳ điều hành "bất thường", khi thị trường biến động nhanh, việc lựa chọn thời điểm này nhằm bảo đảm phản ứng chính sách kịp thời, góp phần ổn định tâm lý thị trường và kiểm soát tác động lan tỏa.
Tuy nhiên, Bộ Công thương cũng ghi nhận ý kiến về sự bất tiện đối với người dân và doanh nghiệp. Trong thời gian tới, bộ sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế điều hành, trong đó nghiên cứu khả năng điều chỉnh khung giờ công bố giá theo hướng phù hợp hơn, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước, tính minh bạch và điều kiện thực tiễn của thị trường.
"Quan điểm chung là tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, minh bạch, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý và ổn định thị trường", ông Tuấn nói.
Cũng theo Bộ Công thương, trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông làm gia tăng biến động nhanh và khó lường của giá dầu thế giới, bộ này đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành điều hành giá xăng dầu theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến thực tế và kịp thời điều chỉnh tần suất điều hành.
Bên cạnh chu kỳ điều hành định kỳ, trong những thời điểm thị trường biến động mạnh, cơ quan quản lý đã chủ động rút ngắn khoảng cách giữa các kỳ điều hành, thậm chí thực hiện điều chỉnh giá với tần suất cao hơn, trong đó có điều hành theo ngày, nhằm phản ứng nhanh với biến động giá thế giới, hạn chế độ trễ chính sách; giảm thiểu tác động lan tỏa đột ngột đến thị trường trong nước; ổn định tâm lý doanh nghiệp và người dân, tránh hiện tượng đầu cơ, găm hàng.
Ngoài ra, các công cụ điều hành như Quỹ bình ổn giá xăng dầu và chính sách thuế, phí được sử dụng đồng bộ, có trọng tâm để "làm mềm" các cú sốc giá, đặc biệt trong những giai đoạn giá thế giới tăng mạnh.
Bộ Công thương khẳng định, việc điều hành giá xăng dầu trong thời gian qua vừa linh hoạt cả về công cụ và tần suất đã góp phần quan trọng trong việc hạn chế biến động bất thường của giá xăng dầu trong nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong điều kiện thị trường năng lượng toàn cầu còn nhiều biến động, qua đó hỗ trợ kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.




