Mục Lục
ToggleSở Xây dựng TP.HCM vừa có văn bản gửi Bộ Xây dựng và Cục Đường bộ Việt Nam phản ánh một số khó khăn trong công tác quản lý, bình ổn giá cước vận tải đường bộ, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp.
Theo Sở Xây dựng thành phố, chi phí nhiên liệu hiện chiếm khoảng 30-40% tổng chi phí hoạt động của đơn vị kinh doanh vận tải. Trong khi đó, giá nhiên liệu biến động mạnh thời gian qua đã tạo áp lực lớn đến chi phí vận hành.
“Nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm từ 20 – 70% số chuyến, thậm chí hoạt động cầm chừng hoặc bù lỗ”, văn bản nêu.
Trước thực tế này, Sở Xây dựng thành phố kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét miễn, giảm phí sử dụng đường bộ, phí sử dụng dịch vụ đường bộ phù hợp với tình hình thực tế.
Đồng thời cơ quan chức năng cần nghiên cứu cơ chế giãn, giảm một số nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn khó khăn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vận tải duy trì hoạt động.
Sở cũng đề xuất Cục Đường bộ Việt Nam nghiên cứu xây dựng và triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kê khai giá cước vận tải đường bộ, kết nối đồng bộ giữa Trung ương và địa phương, phục vụ công tác quản lý và dự báo thị trường trước biến động giá nhiên liệu.
Đối với hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định, Sở Xây dựng thành phố kiến nghị xem xét đề xuất các địa phương chỉ đạo đơn vị quản lý bến xe báo cáo Sở Tài chính để thực hiện miễn, giảm giá dịch vụ xe ra, vào bến xe khách, tạo sự thống nhất trong triển khai.
Ngoài ra nhằm đảm bảo ổn định hoạt động vận tải tuyến cố định, Sở Xây dựng thành phố đề xuất tạm thời chưa xử lý thu hồi thông báo đăng ký khai thác tuyến đối với các đơn vị thực hiện từ 50% số chuyến đã đăng ký trong một tháng.

Chiều 8/4, tại phiên thảo luận tổ về dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng Luật Thủ đô cần được thiết kế như một thiết chế pháp lý đặc thù, đủ năng lực dẫn dắt, tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển, nhưng đồng thời phải bảo đảm kỷ cương, kỷ luật và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Nguyên tắc xuyên suốt là phân cấp, phân quyền triệt để hơn, song đi kèm trách nhiệm giải trình rõ ràng và cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, tránh buông lỏng quản lý.
Ông chỉ ra những điểm nghẽn lớn của Hà Nội hiện nay nằm ở quy hoạch, hạ tầng, quản trị đô thị và cơ chế huy động nguồn lực. Trong đó, quy hoạch phải được tiếp cận với tầm nhìn dài hạn, ổn định, không điều chỉnh theo từng nhiệm kỳ. Người dân và doanh nghiệp cần nhìn thấy rõ định hướng phát triển để đồng thuận và chủ động tham gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng các mô hình không gian phát triển dài hạn, xác định rõ khu đô thị, khu bảo tồn văn hóa di sản, khu công nghiệp, trường học, dịch vụ. Thực trạng hiện nay cho thấy quy hoạch còn phân tán theo từng dự án nhà ở, thiếu đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông và hệ thống thoát nước, dẫn đến tình trạng "xây dựng đến đâu, tắc đường đến đó".
Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu phát triển các đô thị vệ tinh và các phường mới theo tiêu chuẩn hiện đại, đồng bộ về nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học, công viên và hệ thống giao thông công cộng như đường sắt đô thị, tàu điện trên cao. Đây là điều kiện then chốt để giãn dân khu vực nội đô, giảm áp lực hạ tầng và tổ chức lại không gian đô thị một cách bền vững.
"Khi các thành phố vệ tinh có đầy đủ tiện ích và kết nối giao thông thuận tiện, người dân sẽ sẵn sàng rời bỏ những căn gác xép chật hẹp trong phố cổ để ra ngoài sinh sống", ông nói.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, quản trị để phục vụ phát triển. Luật cần tập trung vào các nguyên tắc khung, tạo không gian thể chế để Thủ đô chủ động thiết kế, thử nghiệm và triển khai chính sách phù hợp với đặc thù, trong khi các nội dung linh hoạt nên giao cho Chính phủ và chính quyền thành phố quy định.
Một nội dung then chốt khác là cơ chế phân cấp, phân quyền phải thực chất, rõ ràng, gắn với năng lực thực thi và nguồn lực tài chính. Việc giao quyền phải đi liền điều kiện thực hiện, tránh tình trạng giao quyền nhưng không đủ nguồn lực, tiềm ẩn rủi ro trong quản lý và thực thi.
Đối với các cơ chế thí điểm khác với quy định hiện hành, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu làm rõ phạm vi, chỉ áp dụng với lĩnh vực thực sự đặc thù, có đánh giá đầy đủ và kiểm soát chặt chẽ. Hà Nội có lợi thế về nguồn lực, nhân lực chất lượng cao và hệ thống nghiên cứu nên cần được trao không gian thử nghiệm đổi mới sáng tạo, nhưng không để việc thí điểm kéo dài thiếu kiểm soát hoặc trở thành cách hợp thức hóa bất cập. Đồng thời, luật cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm đi kèm ràng buộc trách nhiệm.
Ông cũng đề nghị rà soát các chính sách về khoa học công nghệ, tài chính ngân sách, đầu tư hạ tầng và liên kết vùng để bảo đảm tính đột phá, tránh trùng lặp với cơ chế chung. Thủ đô không thể phát triển nếu tách rời vùng, trong khi nhiều dự án hạ tầng lớn như các tuyến vành đai hay sân bay nằm trên địa bàn các địa phương lân cận, đòi hỏi cơ chế phối hợp hiệu quả về quy hoạch và nguồn lực. Mọi chính sách phát triển cần bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và người dân, không đánh đổi quyền lợi cơ bản của người dân để lấy tăng trưởng.
"Sửa đổi Luật Thủ đô không chỉ là hoàn thiện khung pháp lý mà còn là lựa chọn mô hình phát triển và quản trị. Thủ đô được trao quyền cao hơn thì phải chịu trách nhiệm cao hơn; có cơ chế đặc thù thì phải tạo ra kết quả vượt trội và khi thí điểm phải kiểm soát được rủi ro", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói và nhấn mạnh Hà Nội cần trở thành hình mẫu về quản trị hiện đại, kỷ luật nghiêm minh và trách nhiệm, từ đó lan tỏa kinh nghiệm cho cả nước.
Đại biểu Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, cho rằng việc sửa đổi Luật Thủ đô cần đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành, khi nhiều luật đã được Quốc hội khóa trước thông qua với các cơ chế, chính sách vượt trội. Cơ quan soạn thảo cần rà soát các quy định ưu đãi ở các luật liên quan để bảo đảm thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo.
Ông cũng đề nghị đối chiếu dự thảo với các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị như về kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa..., bảo đảm cùng một hướng phát triển và không tạo ra độ vênh chính sách. "Dự thảo chưa thể hiện đầy đủ nội dung về quốc phòng, an ninh, trong khi đây là yêu cầu đặc thù của Thủ đô", ông nói, cho rằng cần bổ sung cơ chế bảo vệ, đầu tư ngân sách cho lực lượng vũ trang và gắn với không gian vùng để bảo đảm an ninh tổng thể.
Liên quan phát triển đô thị, ông cho rằng các cơ chế về nhà ở và cải tạo đô thị chưa phản ánh đầy đủ tinh thần các nghị quyết đã ban hành. Hai vấn đề lớn là giao thông và nhà ở cần có giải pháp cụ thể, đủ mạnh để tạo chuyển biến thực tế, trong đó có thể xem xét lại điều kiện đồng thuận của người dân khi triển khai các dự án cải tạo để tránh tình trạng kéo dài, không thực hiện được.
Ông Trịnh Xuân An đánh giá các khái niệm không gian tầm cao và không gian ngầm là hướng tiếp cận mới, nhưng hiện chưa có nền tảng pháp lý đầy đủ. Do đó, ông đề xuất nghiên cứu quy định cụ thể hơn, thậm chí xây dựng khung pháp lý riêng, để bảo đảm có thể triển khai đồng bộ, tránh vướng mắc khi thực hiện.
"Cần làm rõ mối quan hệ giữa Luật Thủ đô với các nghị quyết đặc thù đang áp dụng cho thành phố, cũng như cơ chế chuyển tiếp khi luật có hiệu lực, nhằm tránh xung đột pháp lý và bảo đảm tính thống nhất, khả thi", đại biểu nhấn mạnh.
Sơn Hà
Tin Gốc: https://vnexpress.net/nguoi-dan-se-roi-pho-co-neu-do-thi-ve-tinh-du-tien-ich-5060148.html
Thời Sự
'Vàng ở đâu?': Khi doanh nghiệp phải đối mặt với giải trình tài sản

Trong kinh doanh, không phải rủi ro nào cũng bắt đầu từ một hành vi sai rõ ràng. Có rủi ro chỉ bộc lộ khi hệ thống bị đặt trước yêu cầu phải giải trình: doanh nghiệp đang thực sự nắm giữ điều gì, và quyền đối với tài sản đó đã được xác lập tới đâu?
Trong bối cảnh thị trường vàng biến động gần đây, một số vụ việc liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng đã thu hút sự quan tâm của dư luận.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở từng trường hợp cụ thể, mà ở một vấn đề rộng hơn: khoảng cách giữa giao dịch vàng được ghi nhận và quyền tài sản thực sự được xác lập theo quy định pháp luật.
Trên thực tế, không phải mọi giao dịch vàng đều kết thúc bằng việc chuyển giao tài sản ngay lập tức. Nhiều giao dịch được thực hiện thông qua giấy hẹn nhận vàng, xác nhận trên hệ thống hoặc các cam kết sẽ giao tài sản trong tương lai.
Ở góc độ vận hành, đây là những giải pháp linh hoạt, giúp doanh nghiệp tối ưu dòng tiền và đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, việc một giao dịch đã được ghi nhận không đồng nghĩa với việc quyền sở hữu tài sản đã được hình thành đầy đủ.
Trong nhiều trường hợp, người mua đã thanh toán, doanh nghiệp đã ghi nhận giao dịch, nhưng tài sản chưa được chuyển giao, chưa được định danh rõ ràng hoặc chưa thể đối chiếu một cách minh bạch.
Khi đó, giá trị đang tồn tại có thể chỉ là một nghĩa vụ sẽ được thực hiện, thay vì một quyền tài sản đã hoàn chỉnh. Rủi ro vì vậy không nằm ở bản thân giao dịch, mà ở chỗ giao dịch đó tạo ra quyền đã được xác lập hay mới chỉ dừng lại ở một cam kết.
Từ góc nhìn thực tiễn, những rủi ro này thường xuất phát từ sự không đồng nhất giữa 3 yếu tố: dữ liệu giao dịch, dòng tiền và tài sản thực tế.
Dòng tiền có thể đã được thanh toán, nhưng tài sản chưa được xác định tương ứng; hệ thống nội bộ có thể ghi nhận đầy đủ, nhưng không được thiết kế theo logic pháp lý để có thể đối chiếu khi cần thiết; cách hiểu của doanh nghiệp về giao dịch có thể hợp lý trong vận hành, nhưng lại khác với cách tiếp cận của cơ quan quản lý khi xem xét dưới góc độ pháp lý.
Một nguyên tắc quen thuộc trong kinh doanh là "pháp luật không cấm thì được làm". Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nguyên tắc này cần được hiểu đầy đủ hơn. Một giao dịch không bị cấm không đồng nghĩa với việc nó sẽ được bảo vệ trong mọi trường hợp.
Pháp luật chỉ có thể bảo vệ những gì doanh nghiệp chứng minh được là quyền hợp pháp của mình. Khoảng cách giữa "được thực hiện" và "được bảo vệ" chính là vùng rủi ro mà nhiều doanh nghiệp chưa nhận diện đầy đủ.
Điểm đáng lưu ý là phần lớn doanh nghiệp không gặp rủi ro vì cố ý vi phạm, mà vì hệ thống vận hành chưa được chuẩn bị cho tình huống phải giải trình dưới một cách hiểu khác. Trong điều kiện bình thường, hệ thống có thể vận hành trơn tru trong thời gian dài. Nhưng khi có yêu cầu kiểm tra, những điểm chưa rõ ràng trong việc xác lập quyền, đối chiếu tài sản hoặc chứng minh dòng tiền có thể trở thành vấn đề.
Vì vậy, điều doanh nghiệp cần lưu ý không chỉ là vận hành hiệu quả, mà còn là khả năng chứng minh và đối chiếu toàn bộ giao dịch khi có yêu cầu từ bên ngoài. Mỗi giá trị được ghi nhận cần có cơ sở để xác định rõ bản chất pháp lý; mỗi dòng tiền cần gắn với một trạng thái tài sản cụ thể; và toàn bộ hệ thống cần đảm bảo tính nhất quán khi được xem xét từ góc độ quản lý.
Trong nhiều trường hợp, nếu giao dịch được nhìn nhận và cấu trúc ngay từ đầu dưới góc độ này, rủi ro có thể được kiểm soát sớm hơn. Điều quan trọng không phải là hạn chế hoạt động kinh doanh, mà là xác định rõ tại mỗi thời điểm doanh nghiệp đang nắm giữ quyền tài sản hay mới chỉ phát sinh một nghĩa vụ sẽ được thực hiện trong tương lai. Sự phân biệt này có ý nghĩa quyết định khi xảy ra tranh chấp hoặc khi hoạt động bị đặt dưới sự kiểm tra.
Thực tế cũng cho thấy, trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng yêu cầu cao về tính minh bạch và khả năng giải trình, những khoảng trống trong việc xác lập quyền tài sản có thể tạo ra rủi ro không chỉ về nghĩa vụ tài chính mà còn về pháp lý.
Đây không phải là vấn đề riêng của một doanh nghiệp hay một lĩnh vực cụ thể, mà là thách thức chung đối với các mô hình kinh doanh có yếu tố "tài sản trên hệ thống" hoặc giao dịch chưa được hiện thực hóa ngay.
Cuối cùng, vấn đề không còn nằm ở việc doanh nghiệp có bao nhiêu giá trị được ghi nhận, mà ở việc khi cần thiết, doanh nghiệp có thể chứng minh những giá trị đó tồn tại như một quyền tài sản hợp pháp hay không. Khi dữ liệu, dòng tiền và tài sản không còn được nhìn nhận trong cùng một logic, rủi ro sẽ bắt đầu xuất hiện.
Trong nhiều trường hợp, những giá trị được ghi nhận trong quá trình vận hành chỉ đến khi bị kiểm tra mới bộc lộ rằng cơ sở pháp lý của chúng chưa đủ vững.
Vì vậy, rủi ro đôi khi không bắt đầu từ hành vi, mà từ chính cách giao dịch và hệ thống được thiết kế ngay từ đầu. Việc chủ động nhìn lại cấu trúc giao dịch và khả năng giải trình, vì thế, không chỉ là yêu cầu tuân thủ, mà là một phần của chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Ngày 8/4, UBND phường Vũng Tàu lấy ý kiến người dân về đồ án quy hoạch chi tiết công viên chuyên đề tại khu đất số 21 đường Thống Nhất.
Khu đất nằm ở vị trí đắc địa gần biển Bãi Trước, gần nhà thờ Vũng Tàu. Dù được quy hoạch là đất cây xanh, khu vực này nhiều năm qua chưa được khai thác hiệu quả, cỏ mọc um tùm, xuất hiện tình trạng xả rác sinh hoạt, ảnh hưởng mỹ quan và an ninh trật tự.
Theo đồ án, nơi đây sẽ phát triển thành công viên chuyên đề "không gian sáng tạo STEAM", tích hợp các yếu tố khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học. Điểm nhấn là khối nhà trung tâm kết hợp trưng bày, dịch vụ, thiết kế theo kiến trúc phỏng sinh học với hình tượng bạch tuộc.
Công viên dự kiến có thêm khu tái hiện kỷ Jura với mô hình khủng long ngoài trời và khu vui chơi sáng tạo cho trẻ em.
Về cơ cấu sử dụng đất, hơn 65% diện tích dành cho cây xanh, vườn hoa; công trình dịch vụ chiếm khoảng 6,4%. Không gian được tổ chức mở, kết nối trực tiếp với các tuyến đường xung quanh, giữ lại cây cổ thụ, bổ sung lối đi bộ và hệ thống chiếu sáng.
Dự án dự kiến khởi công trong quý 3, vốn đầu tư khoảng 20 tỷ đồng và hoàn thành cuối năm nay. Công trình được kỳ vọng trở thành không gian sinh hoạt cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân.
Sau sáp nhập với Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương, TP HCM chủ trương tận dụng các khu đất bỏ không, chậm khai thác để phát triển công viên, tăng mảng xanh và không gian công cộng cho người dân.
Trường Hà
Tin Gốc: https://vnexpress.net/khu-dat-vang-o-vung-tau-duoc-quy-hoach-cong-vien-5060143.html

