Giữa tháng 3, xã Sơn Lộ, tỉnh Cao Bằng chào đón đoàn tình nguyện “Kỷ yếu trên bản” bằng một trận mưa rừng. Con đường đất dẫn vào xã vốn đã khó đi, nay biến thành những rãnh bùn đỏ quạch. Những chiếc ôtô chở gần 100 thành viên phải nhích từng mét. Nhiều lần họ phải xuống đẩy xe vượt vũng lầy.
“Cảnh chúng tôi hay gặp trong 7 năm đi chụp ảnh ở vùng cao”, Lưu Minh Khương, 32 tuổi, trưởng đoàn nói. “Mỗi lần thấy mệt mỏi, tôi lại nhớ nụ cười của đám trẻ khi thấy mình trong khung hình làm động lực”.
Khương là người dân tộc Tày, quê ở bản Cây Thị, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cũ (nay là Bắc Ninh), làm nhiếp ảnh tự do tại Hà Nội. Năm 2019, trong chuyến đi săn ảnh tại Y Tý (Lào Cai), anh mang theo chiếc máy in ảnh. Thấy đám trẻ vây quanh, anh chụp và in tặng vài tấm.
“Hôm đó tôi chỉ mang đủ giấy in 5 tấm ảnh. Những đứa trẻ còn lại chạy theo xe, ánh mắt hụt hẫng khi thấy bạn có ảnh còn mình thì không khiến tôi áy náy”, chàng trai 32 tuổi kể. Anh tự hứa sẽ quay lại để tất cả đều có ảnh.
Từ tiếc nuối đó, Khương nảy ra ý tưởng chụp ảnh kỷ yếu cho mọi học sinh từ mầm non đến trung học cơ sở vùng cao. Thời gian đầu chỉ có anh và mấy người bạn cùng làm. Với thu nhập của thợ ảnh tự do, việc tự túc kinh phí cho những chuyến đi dài ngày là bài toán khó. Anh dành dụm tiền lương, tranh thủ ngày trống lịch khách để lên đường. Họ thường chỉ đến được một, hai trường mỗi năm. Có chuyến, Khương một mình chạy xe máy hàng trăm km, mang theo máy ảnh, máy in lên với lũ trẻ. Anh thường xin ngủ nhờ tại các điểm trường để tiết kiệm.
“Có đêm nằm lại bản, tôi trằn trọc về những điểm trường tiếp theo sẽ làm thế nào, tự hỏi liệu việc này có thay đổi được gì không. Nhưng chính những cái ôm của đám trẻ khi nhận ảnh là động lực cho tôi bước tiếp”, chàng trai Bắc Giang nói.
Bước ngoặt đến vào năm 2023 khi các video về hành trình của Khương lan truyền trên mạng xã hội, hút hàng triệu lượt xem. Hơn 1.000 người từ mọi miền đã đăng ký làm tình nguyện viên, đồng hành cùng anh. Dự án “Kỷ yếu trên bản” ra đời với đội ngũ nòng cốt 20 người và hàng trăm tình nguyện viên thay đổi theo từng mùa. Kinh phí đi lại do các thành viên tự túc, chi phí in ấn, khung ảnh do cộng đồng đóng góp.
Khương kể khó khăn nhất khi chụp trẻ vùng cao là các em chưa quen ống kính. Thấy máy ảnh, nhiều bé bỏ chạy. Để tiếp cận, nhóm tổ chức nấu trà sữa, bày gian hàng quà bánh. Khi các em bắt đầu chơi đùa, những chiếc máy ảnh mới hoạt động.
“Chúng tôi không yêu cầu các bé tạo dáng, thậm chí giữ nguyên những vệt lấm lem trên tay hay đôi má nẻ. Đó mới là vẻ đẹp”, Khương nói. Ảnh được chỉnh sửa, in và đóng khung ngay tại chỗ.
Gắn bó hơn ba năm với dự án, anh Minh Phụng, 38 tuổi, thợ ảnh ở Tuyên Quang, cho biết chuyến đi xã Sơn Lộ hồi tháng 3 là mùa kỷ yếu đặc biệt nhất. Nhóm phải di chuyển lên điểm lẻ Thôm Ngàn của trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Sơn Lập, cách trường chính hơn 15 km. Đường đi chỉ vừa lọt một bánh xe máy, một bên vách đá, một bên vực sâu. Giữa núi rừng không sóng điện thoại, cả nhóm phải vừa đi vừa hỏi đường dân bản.
“Mất gần ba tiếng đến nơi, quần áo đầy bùn đất nhưng thấy đám trẻ mặc đồ đẹp đợi sẵn giữa sân, mệt mỏi tan biến”, anh Phụng nói. Chuyến đi này, nhóm còn vào nhà chụp ảnh chân dung tặng các cụ già và cựu chiến binh, những người mà bức ảnh rõ nét nhất họ có là căn cước công dân.
Ông Đàm Văn Thắng, Phó bí thư Đảng ủy xã Sơn Lộ, cho biết đây là lần đầu học sinh địa phương được chụp kỷ yếu. Sơn Lộ là xã vùng cao đặc biệt khó khăn với 5 dân tộc thiểu số chung sống. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm hơn 45%; 3 xóm và 12 nhóm hộ chưa có điện lưới quốc gia. “Nhiều gia đình nhận được ảnh, trân trọng treo ở vị trí cao nhất trong nhà”, ông Thắng nói.
Cầm tấm hình trên tay, Hoàng Thị Phương, học sinh lớp 8A trường Sơn Lập, khóc. Trong ảnh, Phương mặc đồ dân tộc Mông đứng giữa sân trường. “Nhà không có điện thoại chụp hình. Em sẽ giữ bức ảnh này vì có thể đây là lần duy nhất em được chụp”, cô bé nói.
Bảy năm qua, hơn 10.000 khung ảnh từ “Kỷ yếu trên bản” được trao đi khắp các tỉnh Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang. Những lá thư tay viết lời nhắn “Cháu nhớ chú lắm”, “Chú đợi cháu đậu đại học xuống dưới xuôi nhé” là động lực để cả nhóm tiếp tục hành trình.
Khoa công tác xã hội - nhân học - xã hội học (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM) phối hợp tổ chức với Dự án Vượt Sóng (thuộc Nhà văn hóa Thanh niên.
PGS.TS Lê Minh Công (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM) nói người khuyết tật có tỉ lệ trầm cảm, lo âu cao gấp 2-3 lần, do tác động của nghèo đói, thất nghiệp và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ.
Người khuyết tật chịu gánh nặng về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ và căng thẳng. Tuy nhiên chỉ 27,8% được sàng lọc, tầm soát có hệ thống. Ngoài ra thiếu nhân sự tâm lý và công tác xã hội, hạn chế ngân sách và kỳ thị.
Ông Công đề xuất mô hình can thiệp theo hướng phân tầng. Tầng 1 tập trung vào phòng ngừa và sàng lọc sớm tại cộng đồng, thông qua trạm y tế, Đoàn Thanh niên… kết hợp truyền thông để giảm kỳ thị.
Tầng 2-3 triển khai các can thiệp tâm lý - xã hội tại phòng chức năng, phòng khám và cơ sở tâm lý thông qua tư vấn cá nhân và can thiệp gia đình. Tầng 4 là điều trị chuyên khoa tại bệnh viện tâm thần như chẩn đoán, điều trị bằng thuốc và các liệu pháp tâm lý chuyên sâu.
ThS Lê Thị Hương Giang (Đại học RMIT) đề xuất xây dựng dịch vụ hỗ trợ tiếp cận giáo dục đại học cho sinh viên khuyết tật, điển hình tại Đại học RMIT được hỗ trợ của Phòng Thúc đẩy bình đẳng và Tiếp cận giáo dục.
Năm 2025, có 286 sinh viên khuyết tật được hỗ trợ, tăng 25%. Nhóm cao nhất là vấn đề sức khỏe tinh thần và đa dạng thần kinh (56,3%) trải đều các chương trình và khoa/ngành học, từ đó nhu cầu hỗ trợ học tập đa dạng, cơ hội thực tập và việc làm.
Đại học RMIT hỗ trợ sinh viên thông qua các biện pháp cá nhân hóa, cụ thể là bản kế hoạch học tập cá nhân cho sinh viên khuyết tật. Bản này sẽ mô tả tình trạng sức khỏe và mức độ ảnh hưởng đến việc học tập, từ đó đưa ra các điều chỉnh phù hợp trong dạy và học. Kế hoạch được cập nhật mỗi học kỳ và chia sẻ đến các giảng viên phụ trách giảng dạy sinh viên đó.
Ngoài ra trong suốt quá trình học, sinh viên còn được hỗ trợ bởi các chuyên viên như tư vấn cho giảng viên về cách áp dụng kế hoạch học tập, cung cấp tài liệu cần thiết, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong lớp học, thực hành, thi cử và các hoạt động thực địa thông qua Student Aid Program.
Trường cũng thúc đẩy hợp tác liên đơn vị, như giới thiệu và chuyển gửi sinh viên giữa các bộ phận tham vấn tâm lý, tuyển sinh, học bổng… Đồng thời tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức như workshop, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm.
Giáo dục người khuyết tật dù khó khăn cũng phải tiên tiến, có chuẩn riêng và tích hợp công nghệ
Cô Nguyễn Thị Thân, Hiệu trưởng Trường khiếm thính Hy vọng Bình Thạnh, nói học sinh khiếm thính cần được hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hình ảnh trực quan và thiết bị trợ thính trong lớp học, thay vì chỉ tập trung vào phát triển ngôn ngữ nói.
Cô Thân nói thêm việc giảng dạy cần cá nhân hóa, với giáo trình được điều chỉnh phù hợp với khả năng nhận thức và ngôn ngữ của từng em. Lớp học hòa nhập cần có sĩ số hợp lý, đủ ánh sáng để đọc hình miệng, đồng thời các thiết bị công nghệ hỗ trợ.
Đối với giáo viên dạy học sinh hòa nhập, yêu cầu đặt ra là phải có kiến thức về giáo dục đặc biệt, có giáo viên trợ giảng, đồng thời cần sự kiên nhẫn, thấu cảm trong quá trình giảng dạy. Những học sinh còn khả năng nghe thông qua thiết bị trợ thính có thể phát triển ngôn ngữ tốt hơn nếu được hỗ trợ phù hợp.
Ngoài ra các em cần được rèn luyện sự tự tin trong giao tiếp và nhận được sự đồng hành từ gia đình, tài liệu học tập cũng cần được điều chỉnh theo năng lực của từng học sinh.
Ông Cao Tiền Vị - người sáng lập ASIF Foundation - nói dù đã có luật, việc triển khai và hướng dẫn thực hiện còn nhiều bất cập, cần tiếp tục hoàn thiện. Ví dụ việc cấp thẻ chứng nhận khuyết tật còn phức tạp, cần ứng dụng công nghệ để đơn giản hóa thủ tục.
Đồng thời các quy định về công trình công cộng, y tế, vệ sinh… cần được thiết kế phù hợp. Một ưu tiên cấp bách khác là đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật.
Phó chủ tịch Hội Bảo trợ trẻ em TP.HCM Nguyễn Văn Tính nói cần thay đổi nhận thức và cách tiếp cận, chuyển từ cách nhìn mang tính từ thiện, thương hại sang tiếp cận dựa trên quyền con người. Hỗ trợ người khuyết tật không chỉ dừng ở lòng tốt cá nhân, mà phải đảm bảo họ có đủ các quyền và chính sách đáng được hưởng.
Bên cạnh đó, cách hiểu về các mức độ khuyết tật (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng) còn chưa thống nhất. Nhiều nơi vẫn cho rằng “đặc biệt nặng” là phải liệt hoàn toàn, trong khi pháp luật đã quy định rõ, gây ảnh hưởng quyền lợi và chế độ của người khuyết tật.
Hiện nay, giáo dục chuyên biệt chủ yếu chỉ dừng ở cấp tiểu học, nên khi lên THCS, học sinh buộc phải chuyển sang môi trường hòa nhập. Tuy nhiên nhiều em chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng, tâm lý và định hướng, dẫn đến khó khăn trong học tập, hòa nhập và gây lúng túng cho cả giáo viên lẫn học sinh.
Với Sơn, mỗi sản phẩm hoàn chỉnh hay vỡ nứt đều là một phần của hành trình sáng tạo. "Gốm dạy tôi kiên nhẫn, dạy tôi cách chấp nhận cả thành công lẫn đổ vỡ", Sơn nói.
Sinh ra và lớn lên ở làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), nghệ nhân 8X Nguyễn Trường Sơn đến với gốm một cách tự nhiên như hơi thở. Đất không chỉ là vật liệu mà là ký ức, là môi trường sống, là nhịp sinh hoạt quen thuộc của cả một làng nghề.
Tuổi thơ của anh gắn với những công việc nhỏ trong xưởng gia đình. "Từ khi còn nhỏ, bố mẹ đã cho lũ trẻ chúng tôi cùng san sẻ công việc. Có rất nhiều công đoạn trong quá trình làm gốm mà tôi có thể phụ giúp như chuốt hàng, làm men... Yêu gốm, yêu đất có lẽ là từ khi ấy", anh nhớ lại.
Nhưng Sơn không chọn con đường lặp lại những gì đã có. Anh tin rằng làm gốm là một quá trình thay đổi liên tục bởi nếu chỉ dừng ở việc tái hiện, gốm sẽ chết. Cũng chính từ suy nghĩ ấy mà cuối năm 2021, anh cùng một nhóm bạn trẻ đã sáng lập thương hiệu gốm BỤT. Dự án ra đời không ngoài ước mong người trẻ của làng nghề sẽ viết tiếp câu chuyện của gốm Bát Tràng bằng ngôn ngữ đương đại, nơi truyền thống và sáng tạo song hành.
Những ngày đầu, gốm BỤT tập trung vào các dòng bình hoa độc bản. Mỗi chiếc bình có hình dáng, màu men, bề mặt khác nhau, không chiếc nào giống chiếc nào. Người chơi gốm nhanh chóng nhận ra dấu ấn riêng: thô mộc nhưng tinh tế, phóng khoáng mà có chiều sâu.
Khi dòng sản phẩm này được đón nhận, Sơn tiếp tục mở rộng biên độ sáng tạo sang tranh gốm - một địa hạt khó hơn, đòi hỏi sự kết hợp giữa kỹ thuật gốm, hội họa và cảm xúc. Trong xưởng, những bức tranh gốm được tạo hình thủ công, phơi khô rồi đưa vào lò nung.
Có bức thành công, có bức nứt vỡ sau nhiều ngày chờ đợi. Sơn không né tránh những thất bại ấy. "Có những chuyến lò hỏng tới hai phần ba số tác phẩm - anh kể rồi tiếp - Ai cũng tiếc nhưng tôi nghĩ đơn giản không sao hết, tất cả chỉ là thử thách và chuyến sau chắc chắn sẽ thành công". Sự bình thản đó chắc phải đến từ trải nghiệm đủ dài với đất, lửa và cả những giới hạn của con người.
Nhiều năm làm nghề, Nguyễn Trường Sơn chọn phải đi để làm mới mình. Anh đã từng thực hiện hành trình đi bộ xuyên Việt, tự cho mình khoảng lùi cần thiết giữa nhịp sống quá nhanh. Anh nói muốn có không gian và thời gian chậm lại cho riêng mình, tách khỏi dự án, công việc để có trải nghiệm mới.
Và chuyến đi giúp anh tiếp xúc sâu hơn với đời sống văn hóa ở nhiều vùng miền, song điều đọng lại sâu đậm nhất với anh là tình người. Những đêm trú mưa dưới mái hiên trường học, những bữa cơm giản dị của người dân miền núi sẻ chia... đều trở thành chất liệu sống động cho sáng tạo của Sơn sau này.
Trong các bộ sưu tập của gốm BỤT, Sơn không giấu mong muốn kể câu chuyện văn hóa Việt bằng ngôn ngữ gốm. Bộ sưu tập Phứ Cầu lấy cảm hứng từ trang sức của phụ nữ Mông là một ví dụ. Những chiếc bình mang dáng dấp đôi khuyên tai vùng cao, gợi hình ảnh người phụ nữ bước đi giữa núi rừng Tây Bắc.
Con đường Sơn chọn không dễ. Khởi nghiệp trong một làng nghề lâu đời đồng nghĩa với việc phải tìm lối đi riêng mà không tách rời gốc rễ. Có khó khăn trong việc xây dựng đội ngũ, thử nghiệm nguyên liệu, chọn men, nung lò mà mỗi bước đi đều là bài học.
Điều giúp anh vững lòng là luôn tự hỏi "Vì sao mình bắt đầu?" bởi chính câu hỏi ấy kéo anh trở về với tình yêu ban đầu dành cho đất, cho gốm và cho câu chuyện văn hóa mà anh muốn kể.
Ở đó, người ta hay gọi những người gắn bó lâu năm trong nghề là nghệ nhân. Nhưng Trường Sơn chỉ dám tự nhận mình là một nghệ sĩ gốm. Anh muốn gốm bay bổng hơn, không bị đóng khung. Điều này không có nghĩa anh làm gốm xa rời thực tế mà là tự cho mình quyền dám thử nghiệm, dám thất bại và dám kể câu chuyện của thời đại mình đang sống qua mỗi tác phẩm.
Tết năm nay, căn nhà của cụ Phạm Văn Phất ở thôn Đa Phạn, xã Vạn Lộc (xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc cũ) đông đủ con cháu. Trong những tiếng cười và chúc tụng, cụ vẫn nói mong ước lớn nhất của cả cuộc đời vẫn là tìm được gia đình ruột thịt. "Tôi mong trước khi nhắm mắt xuôi tay, biết được mình còn ai thân thích để thắp nén hương cho tổ tiên", cụ Phất nói.
Năm 1945, cậu bé Phạm Văn Phất, 15 tuổi, theo cha - một thợ sửa đồng hồ - rời làng Tùng Sáu (huyện Hải Hậu, Nam Định cũ, nay là xã Hải Thịnh, Ninh Bình) vào Thanh Hóa mưu sinh. Trong ký ức, đó là những chuyến đi dài bằng đường biển, ghé qua các làng chài, ở lại một thời gian rồi lại tiếp tục rong ruổi.
Hai cha con dừng chân tại làng Đa Phạn, ở nhờ một gia đình người địa phương. Sau vài lần đưa con về quê rồi quay lại, đến lần thứ ba vào Thanh Hóa, người cha quyết định gửi con trai lại cho gia đình chủ nhà nuôi dưỡng rồi một mình lên thuyền về quê. Đó là lần cuối hai cha con gặp nhau.
"Tôi đứng trên đê nhìn theo thuyền cha khuất dần về phía biển. Tôi nghĩ ông sẽ sớm quay lại nhưng từ đó bặt vô âm tín", cụ Phất kể.
Những ngày sau đó, cậu thiếu niên 15 tuổi vẫn đi ra bến thuyền, chờ đợi trong vô vọng. Không có tin tức, không một lời nhắn gửi. Giữa những năm tháng biến động của lịch sử đất nước, cậu thiếu niên 15 tuổi khi ấy tự suy đoán cha có thể gặp nạn trên biển hoặc hỏng thuyền. Phất ở lại vùng đất Hậu Lộc, được gia đình chủ nhận nuôi và đổi sang họ Phạm.
Hơn 80 năm qua, hành trình tìm lại cội nguồn của cụ Phất là một chuỗi những hy vọng, có lúc nhen nhóm nhưng rồi lụi tàn theo thời gian. Điều khiến ký ức về quê hương không bị phai mờ là bởi khi xa quê, cụ đã đủ lớn để ghi nhớ tên đất, tên làng.
Trong trí nhớ, quê nhà là làng Tùng Sáu với con đê chạy dài tít tắp, xen kẽ là cồn cát nhấp nhô, những căn nhà thưa thớt dưới rặng phi lao. Cuối làng có một chiếc cống ngăn mặn. Cụ còn nhớ lớp học chữ quốc ngữ của một ông đồ nho và căn nhà nhỏ mái tranh nơi gia đình sinh sống.
Năm 30 tuổi, khi đã lập gia đình và dù hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, cụ từng một mình lần tìm về quê theo trí nhớ. Cụ đi bộ qua nhiều làng mạc ven biển vùng Hải Hậu, hỏi thăm nhiều người, nhưng đáp lại chỉ là những cái lắc đầu. "Tôi trở về nhà, dù rất buồn nhưng vẫn có niềm tin một ngày nào đó sẽ tìm được nguồn cội", cụ kể.
Cụ Phất cho biết quê vợ ở Nghĩa Hưng (Nam Định cũ), cách làng Tùng Sáu khoảng 20 km. Mỗi lần về quê ngoại, cụ lại mượn xe đạp đi hỏi thăm các cụ cao niên và tìm kiếm tại các nghĩa trang địa phương. Cụ nhớ cha tên Riệp (hoặc Diệp), có bốn chị gái là Nghiệp, Nối, Bay và Máy.
Năm 2006, trong một lần trở lại Hải Hậu, cụ Phất dừng chân trước nhà thờ cổ cách đê Cồn Tròn không xa. Nhìn thấy một chiếc cống lớn, cụ nhận định đây là nơi mình từng xuống thuyền cùng cha năm xưa.
"Lúc đó, bố tôi đứng trên triền đê rất lâu nhìn về làng rồi bất chợt khóc như một đứa trẻ", ông Phạm Văn Châu, con trai cụ, kể lại, "Đó là khoảnh khắc cụ tin rằng "mình đã chạm vào quê hương".
Dù vậy, gia đình vẫn không tìm thêm được dấu vết nào của người thân.
Những năm gần đây, do sức khỏe yếu, cụ Phất không thể tự đi xa. Việc tìm kiếm được con cháu tiếp nối thông qua mạng xã hội, thăm hỏi các nhà thờ và tra soát các khu nghĩa trang. Tuy nhiên, việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại. Theo đại diện chính quyền địa phương, sau năm 1954, nhiều gia đình ở vùng Hải Hậu đã di cư, khiến dấu vết về một gia đình thợ sửa đồng hồ từ gần một thế kỷ trước hầu như không còn.
Ở tuổi 96, điều cụ Phất trăn trở không phải là những vất vả đã trải qua, mà là câu hỏi chưa có lời đáp: người thân trong gia đình giờ có còn ai hay không.
Con cháu cụ cho biết vẫn chưa từ bỏ hy vọng. Họ tiếp tục tìm kiếm thông tin, mong một ngày nào đó có người nhận ra những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé trong câu chuyện. "Chỉ cần một manh mối nhỏ, gia đình cũng sẽ tìm đến cùng", ông Phạm Văn Châu nói.