Phải chăng vì hết yêu nên mới chọn cách im lặng? Không hẳn. Đó là hệ quả của quá trình dài chúng ta mải mê “vận hành” thế giới bên ngoài mà quên mất cách hiện diện bên trong tổ ấm.
Sự im lặng trong hôn nhân hiếm khi đến từ một mâu thuẫn lớn hay nhỏ. Nó thường bắt đầu từ những thay đổi rất nhỏ: cách ta giao tiếp ứng xử, cũng như hiện diện trước đối phương.
Khi vị thế xã hội tăng lên, “cái tôi” thường bộc lộ rõ nét và có xu hướng xâm lấn bầu không khí gia đình.
Tại nơi làm việc, chúng ta quen với lối tư duy quản trị: quyết định nhanh, kiểm soát vấn đề và ưu tiên hiệu quả. Nhưng khi mang nguyên “công thức vận hành” ấy về nhà, cái ta nhận được đôi khi là khoảng cách vô hình.
Tôi đã chứng kiến một vài trường hợp: người chồng lạm dụng các câu cầu khiến, thái độ áp đặt khiến vợ của họ nảy sinh cơ chế tự vệ: thu mình lại và ít chuyện trò, tâm sự.
Rõ ràng, người vợ chọn cách im lặng không phải vì không có nhu cầu sẻ chia, mà vì không còn cảm thấy an toàn để bộc lộ những tổn thương hay suy nghĩ thật.
Ở một lát cắt khác, năng lượng cảm xúc của mỗi người là có hạn. Áp lực từ nhiều phía, trách nhiệm và sự kỳ vọng của xã hội phần nào đang âm thầm rút nguồn năng lượng này hằng ngày.
Sau một ngày dài phải đóng vai những cá nhân bản lĩnh và quyết đoán, nhiều người trở về nhà trong trạng thái kiệt sức tâm lý. Lúc này, một nghịch lý đau lòng xảy ra: Chúng ta sẵn sàng tinh tế, lịch thiệp với cả thế giới, nhưng lại thờ ơ và thiếu kiên nhẫn với người bạn đời.
Thật vậy, khi cạn kiệt năng lượng cảm xúc, chức năng giao tiếp tự thân sẽ bị đình trệ. Lúc này, trò chuyện không còn là nhu cầu kết nối, mà trở thành một nghĩa vụ. Từ ít nói dẫn đến lười chia sẻ, và cuối cùng rơi vào trạng thái “đóng băng” cảm xúc.
Cộng hưởng với đó là quy luật biến đổi sinh học theo tuổi tác. Sự sụt giảm nội tiết tố tác động trực tiếp đến “hệ thống phần thưởng” trong não bộ, mà còn làm suy giảm nhu cầu gần gũi và gắn kết.
Nếu những món ăn tinh thần như cử chỉ quan tâm, sự chạm khẽ hay những lời hỏi han không được duy trì như một thói quen, sợi dây liên kết giữa hai người sẽ lỏng lẻo dần theo quy luật tự nhiên.
Thêm một nghịch lý nữa là nhiều người còn suy nghĩ chủ quan rằng “sống với nhau lâu phải tự hiểu”. Lâu dần, họ bỏ qua những cảm xúc, suy nghĩ của nhau.
Ngoài ra trong thời đại số, khoảng cách này càng rõ nét: mỗi người một thiết bị, một dòng thông tin, một thế giới riêng. Gần nhau về khoảng cách, nhưng xa nhau về cảm xúc.
Sự rạn nứt trong hôn nhân luôn phát đi tín hiệu từ rất sớm. Hãy thử rà soát lại mối quan hệ thông qua một vài “chỉ báo” sau đây:
– Khi bạn chia sẻ một vấn đề cá nhân, đối phương phản hồi bằng sự thấu cảm hay chỉ đơn thuần là xử lý thông tin?
– Sự im lặng giữa hai người là trạng thái thư giãn, bình yên hay là sự né tránh, ngột ngạt?
– Những cuộc trò chuyện gần đây chỉ xoay quanh việc vận hành đời sống (con cái, tiền bạc) hay có chỗ cho những cảm xúc riêng tư?
– Bạn có còn là người đầu tiên mà đối phương muốn chia sẻ không?
– Khi có xung đột, hai người tìm cách hiểu nhau hay tìm cách kết thúc nhanh?
Nếu các câu trả lời nghiêng về phía tránh né cảm xúc hoặc hỏi – đáp đơn thuần, đó là chỉ báo cho thấy cuộc hôn nhân đang thiếu đi chất lượng hiện diện.
Để khôi phục kết nối và hàn gắn, sau một “cái đầu lạnh” để nhận diện thực tế, chúng ta cần một “trái tim ấm” để thấu cảm.
Trong mọi mặt của đời sống, hiểu được xem là tiền đề của thương. Hãy nhìn sâu và đa chiều vấn đề để thấy phía sau sự im lặng của bạn đời có thể là sự mệt mỏi chưa được gọi tên, phía sau một phản ứng gay gắt có thể là những áp lực đang đè nặng.
Thay vì kỳ vọng đối phương phải “đọc vị” mình, mỗi người cần học cách bày tỏ nhu cầu và cảm xúc một cách rõ ràng, chân thành.
Sự chia sẻ, trò chuyện của những vợ chồng sống lâu với nhau cần được nuôi dưỡng bằng những nguyên liệu giản đơn hằng ngày: một bữa cơm chung không thiết bị để trò chuyện, một cuộc lắng nghe không ngắt lời, một lần chia sẻ cảm xúc thay vì chỉ trao đổi thông tin.
Quan trọng không kém là việc chăm sóc sức khỏe tinh thần cá nhân. Bởi lẽ một tâm hồn kiệt quệ sẽ rất khó để cộng hưởng và kết nối với một tâm hồn khác.
Hôn nhân phần lớn rạn nứt từ những điều nhỏ bé bị bỏ quên trong thời gian dài. Nhưng cũng chính vì vậy, nó có thể được hàn gắn từ những điều nhỏ bé nếu mỗi người đủ sẵn sàng thay đổi.
Suy cho cùng, điều giữ hai người ở lại bên nhau không phải là chúng ta đã đi cùng nhau bao lâu, mà là mức độ sẵn lòng để hiểu nhau trong mọi hoàn cảnh, tình huống.
Con số này không chỉ cho thấy mức độ phổ cập của công nghệ mà còn phản ánh một thực tế: không gian mạng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của trẻ.
Theo đó, vấn đề vì thế không còn là "có nên cho trẻ dùng Internet hay không", mà là làm sao để trẻ an toàn trong một môi trường vừa rộng mở, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Không gian số mang đến cơ hội học tập, kết nối, phát triển kỹ năng. Nhưng đi kèm với đó là những nguy cơ ngày càng tinh vi như bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nội dung độc hại, nghiện game, lệ thuộc mạng xã hội…
Như cảnh báo từ UNICEF, công nghệ có thể "ảo", nhưng những tổn thương mà trẻ em phải gánh chịu là hoàn toàn có thật . Một lời xúc phạm trên mạng có thể lặp lại vô hạn. Một hình ảnh bị phát tán có thể không bao giờ biến mất. Một cuộc trò chuyện tưởng chừng vô hại có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành vi thao túng.
Điều đáng lo hơn là trẻ em bước vào thế giới đó khi chưa có đủ khả năng tự bảo vệ. Các em tò mò, dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè và môi trường xung quanh.
Trong khi đó, chính thiết kế của các nền tảng lại hướng đến việc giữ chân người dùng càng lâu càng tốt, liên tục đề xuất nội dung, tạo vòng lặp tương tác.
Với người lớn, điều này đã khó kiểm soát; với trẻ em, đó là một "cái bẫy" tinh vi. Việc sử dụng Internet quá mức có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung, hành vi, cảm xúc, thậm chí cả sự phát triển não bộ và kỹ năng xã hội.
Trước thực tế đó, nhiều ý kiến đề xuất cần hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội sớm. Đây là phản ứng dễ hiểu khi phụ huynh chứng kiến những rủi ro ngày càng rõ ràng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, lệnh cấm không phải là lời giải trọn vẹn.
Trẻ em có thể tìm cách vượt rào, sử dụng tài khoản của người lớn, chuyển sang các nền tảng khác ít kiểm soát hơn. Khi đó, rủi ro không biến mất, mà chỉ chuyển sang những "vùng tối" khó nhận diện và khó can thiệp hơn.
Như nhiều chuyên gia nhận định, vấn đề không nằm ở việc trẻ có dùng Internet hay không, mà ở việc các em sử dụng như thế nào và có được chuẩn bị đủ kỹ năng hay chưa .
Thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không phải là tiếp cận công nghệ, mà là năng lực sử dụng an toàn.
Trẻ em online mỗi ngày, nhưng lại thiếu kỹ năng nhận diện nguy cơ, thiếu khả năng tự bảo vệ và thiếu cả nơi để tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp vấn đề.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh và giáo viên vẫn chưa theo kịp tốc độ thay đổi của môi trường số, dẫn đến khoảng trống trong việc đồng hành cùng trẻ.
Bảo vệ trẻ trên không gian mạng không thể là trách nhiệm của riêng gia đình, mà cần một hệ sinh thái nhiều tầng, với sự tham gia của gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý.
Phía gia đình, điều quan trọng nhất không phải là kiểm soát tuyệt đối, mà là thiết lập quy tắc và duy trì đối thoại. Cha mẹ cần hiểu con mình đang làm gì trên mạng, sử dụng nền tảng nào, tiếp xúc với nội dung gì. Việc cài đặt công cụ quản lý là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều cốt lõi là xây dựng sự tin cậy để trẻ sẵn sàng chia sẻ khi gặp vấn đề, thay vì giấu kín.
Đối với nhà trường, giáo dục cần mở rộng sang kỹ năng công dân số. Trẻ cần được dạy cách ứng xử trên mạng, cách bảo vệ dữ liệu cá nhân, cách nhận diện tin giả, cách phản ứng khi bị bắt nạt hoặc tiếp cận bởi người lạ. Những kỹ năng này quan trọng không kém bất kỳ môn học nào trong thời đại số.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp công nghệ, trách nhiệm không thể chỉ dừng ở việc cung cấp nền tảng. Khi rủi ro xuất phát từ chính thiết kế hệ thống, các nền tảng cần chủ động xây dựng môi trường an toàn hơn: kiểm soát nội dung theo độ tuổi, cải thiện cơ chế báo cáo, tăng cường xác minh người dùng và cung cấp công cụ hỗ trợ phụ huynh.
Cũng cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và hỗ trợ nạn nhân. Việt Nam đã có những bước tiến trong việc xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và tham gia các sáng kiến quốc tế nhưng trước tốc độ phát triển của công nghệ, các giải pháp cũng cần được cập nhật liên tục.
Quan trọng hơn cả, cần chuyển từ tư duy "ngăn chặn" sang "trao quyền". Trẻ em không thể bị tách khỏi thế giới số, nhưng có thể được trang bị để bước vào đó một cách an toàn. Khi có kỹ năng, có nhận thức và có sự hỗ trợ, các em không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà trở thành chủ thể có khả năng tự bảo vệ mình.
Không gian mạng sẽ tiếp tục mở rộng và trẻ em sẽ tiếp tục hiện diện trong đó nhiều hơn. Do đó không phải là làm cách nào để cấm cản mà là làm sao để các em không bị tổn thương khi tham gia. Đây là sự thật không thể trì hoãn!
Bộ Quốc phòng nhận được câu hỏi của công dân về quy định, điều kiện miễn, tạm hoãn tham gia dân quân tự vệ.
Người này cho biết mình 25 tuổi, hoàn cảnh gia đình khá khó khăn, cha bỏ từ nhỏ, mẹ có gia đình riêng, anh sống với dì và hai em họ.
Là lao động chính trong gia đình, người dì ngoài 55 tuổi, bị thoái hóa cột sống, không còn khả năng lao động ổn định. Hai người em họ một người đang học đại học và người còn lại đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nhưng chưa có việc làm ổn định.
Về sức khỏe, anh cho biết mình bị cận 2,25 độ, loạn 1,75 độ, giãn tĩnh mạch thừng tinh, viêm giác mạc dị ứng ánh sáng và gan nhiễm mỡ.
Tuy nhiên địa phương vẫn yêu cầu tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Anh đã trình bày hoàn cảnh nhưng được trả lời là năm nay bắt buộc tham gia do thiếu quân.
Về vấn đề này, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cho biết theo quy định, nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện thì có thể kéo dài đến hết 50 tuổi với nam, đến hết 45 tuổi với nữ.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ tại chỗ, cơ động, dân quân tự vệ biển, tự vệ phòng không, pháo binh, trinh sát, thông tin, công binh, phòng hóa, y tế là 4 năm; thường trực là 2 năm.
Tùy yêu cầu, nhiệm vụ, thời hạn có thể được kéo dài nhưng không quá 2 năm.
Đối với dân quân biển, tự vệ, chỉ huy đơn vị được kéo dài hơn nhưng không quá độ tuổi quy định.
Theo quy định, các trường hợp được tạm hoãn gồm: phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; nam giới một mình nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
Không đủ sức khỏe, có vợ hoặc chồng đang phục vụ trong quân đội, công an hoặc công tác ở vùng đặc biệt khó khăn;
Là lao động duy nhất trong hộ nghèo, hộ cận nghèo; trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được chủ tịch UBND cấp xã xác nhận…
Là vợ hoặc chồng, một con của thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61 - 80%; đang học tại trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; đang lao động, học tập, làm việc ở nước ngoài.
Đối với trường hợp được miễn, nếu là vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; quân nhân dự bị đã được sắp xếp; người trực tiếp nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người làm công tác cơ yếu: Chủ tịch UBND cấp xã, UBND cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.
Trường hợp tham gia dân quân thường trực phải đạt sức khỏe loại 1, 2, 3 theo kết luận của cơ sở y tế có thẩm quyền...
Căn cứ vào nội dung thư hỏi nêu trên và quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng cho biết việc tham gia dân quân tự vệ là nghĩa vụ của công dân. Nếu công dân đủ tiêu chuẩn tuyển chọn vào dân quân tự vệ thì không thuộc diện tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ trong thời bình.
Tuấn là con một. Từ nhỏ đến lớn, mọi sự chăm chút của bố mẹ đều dồn hết cho cậu. Những buổi sáng tinh mơ, bố đạp chiếc xe đạp cọc cạch chở con đến trường. Những buổi chiều mưa, mẹ đứng đợi trước cổng, tay cầm chiếc áo mưa rộng hơn thân người vì bà sợ con ướt.
Cả một thanh xuân của họ không phải là những chuyến đi xa mà là những vòng quay quen thuộc: nhà - trường - chợ - bệnh viện, rồi lại nhà.
Có lần Tuấn nói với tôi: "Ngày xưa bố mẹ chở mình đi học bằng xe đạp, giờ mình muốn chở lại họ bằng xe hơi do mình lái".
Khi bắt đầu đi làm, có thu nhập, Tuấn nhận ra một điều: thời gian của bố mẹ không còn dài như mình vẫn nghĩ.
Những nếp nhăn, những lần đau lưng, những buổi khám bệnh định kỳ, dấu hiệu của xương khớp thoái hóa, tiểu đường, huyết áp... tất cả như những dấu hiệu lặng lẽ báo rằng, nếu không đi cùng nhau bây giờ, thì có thể sẽ không còn kịp nữa.
Nhưng đưa bố mẹ đi du lịch không giống như đi với bạn bè. Cả quá trình đòi hỏi một sự chuẩn bị khác, và quan trọng nhất là một sự thấu hiểu. Tuấn bắt đầu từ những chuyến đi gần. Không phải những hành trình dày đặc điểm đến, mà là những chuyến đi nhẹ nhàng, đủ để bố mẹ có thể tận hưởng mà không mệt.
Một buổi sáng lên núi, một buổi chiều ra biển, hoặc đơn giản là một chuyến về quê ngoại, dừng lại ở những nơi mà bố mẹ từng nhắc đến trong câu chuyện cũ.
Cậu học cách đi chậm lại, không hối thúc, không ép lịch. Nếu bố muốn ngồi lâu hơn ở một quán cà phê ven đường, thì cứ ngồi. Nếu mẹ muốn chụp thêm vài tấm hình trước một hàng hoa, thì cứ chụp. Những điều tưởng chừng nhỏ nhặt ấy, hóa ra lại là phần quan trọng nhất của chuyến đi.
Tuấn cũng học cách quan sát. Trước mỗi chuyến đi, cậu tìm hiểu kỹ về nơi đến: đường đi có dễ không, có nhiều bậc thang không, thời tiết ra sao, có chỗ nghỉ chân không. Cậu chọn những khách sạn có thang máy, phòng rộng, giường êm. Cậu mang theo thuốc, nước ấm, cả những món ăn quen thuộc phòng khi bố mẹ không hợp khẩu vị.
Có lần trong một chuyến đi biển, bố Tuấn không muốn xuống nước, chỉ ngồi trên bãi cát nhìn sóng. Nếu là trước đây, có thể Tuấn sẽ thấy "uổng". Nhưng hôm đó cậu chỉ ngồi cạnh bố, hai cha con không nói gì nhiều, chỉ là cùng nhìn ra xa, nghe tiếng sóng, và chia sẻ một khoảng lặng hiếm hoi... giữa hai người đàn ông.
"Chuyến đó mình không nhớ là đã đi được bao nhiêu nơi, nhưng mình nhớ rõ khoảnh khắc ngồi cạnh bố. Tự nhiên thấy chỉ cần vậy thôi cũng đủ", Tuấn bày tỏ.
Đưa bố mẹ đi không phải để "check-in" hay hoàn thành một danh sách điểm đến. Đó là cách để ở bên nhau, theo một cách khác với trước đây. Khi còn nhỏ, bố mẹ dẫn ta đi, quyết định mọi thứ. Khi lớn lên, ta dẫn lại họ, nhưng không phải để thay thế mà để đồng hành.
Có một điều Tuấn nhận ra là bố mẹ không cần những chuyến đi xa xỉ, họ cần cảm giác được quan tâm. Một câu hỏi "Bố có mệt không?", một cái nắm tay khi xuống dốc, một ly nước đưa đúng lúc... tất cả những điều ấy đối với họ quý hơn bất kỳ khung cảnh đẹp nào.
Và đôi khi chính trong những chuyến đi ấy, ta mới thực sự hiểu bố mẹ mình. Hiểu rằng họ cũng từng có những ước mơ bị gác lại, những nơi muốn đến nhưng chưa có dịp.
Hiểu rằng sau vẻ ngoài mạnh mẽ, họ cũng có những mệt mỏi mà trước đây ta chưa từng để ý... Tuấn nói điều cậu sợ nhất không phải là không đủ tiền để đưa bố mẹ đi xa mà là đến một ngày có tiền rồi, nhưng không còn ai để đi cùng.
Quả thực chúng ta thường trì hoãn những điều quan trọng, với lý do "để sau". Sau khi công việc ổn định hơn, sau khi kiếm được nhiều tiền hơn, sau khi rảnh hơn... Nhưng thời gian không chờ ai. Và tuổi của bố mẹ thì càng không.
Đưa bố mẹ đi đó đi đây thực ra không phải là kế hoạch lớn lao mà có thể bắt đầu từ một buổi đi ăn tối, một chuyến về quê, hay một ngày dạo quanh thành phố.
Quan trọng không phải là đi đâu mà là đi cùng nhau, vì đến một lúc nào đó điều ta nhớ không phải là đã đi bao nhiêu nơi mà là đã có bao nhiêu lần được ngồi cạnh bố mẹ trên cùng một chuyến xe đi qua những chặng đường của đời mình.