Trong hôn lễ hôm 20/3, trước sự chứng kiến của hai gia đình, anh nhắc lại lời hứa từ 5 năm trước sẽ luôn chăm sóc và ở bên cô.
Cả hôn trường lặng đi. Nhiều người biết để đi đến đám cưới này, Khánh Trình, 27 tuổi, và Xuân Thủy, 26 tuổi, đã vượt qua 5 năm sóng gió bởi căn bệnh hiếm của cô.
Họ quen nhau năm 2021 khi cùng làm việc tại một nhà hàng Nhật Bản ở TP HCM. Trình quê Đồng Nai, làm giám sát, còn Thủy là sinh viên, làm trưởng ca bán thời gian.
Ấn tượng của Trình với cô gái đến từ một lần anh lạc đường khi đi dự tiệc của công ty. Anh hỏi đường trong nhóm chat nhưng không ai phản hồi, Thủy là người duy nhất nhắn tin hướng dẫn anh từng đoạn. Dù chưa gặp, cách nói chuyện rõ ràng và sự nhiệt tình khiến anh chú ý.
Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, mâu thuẫn xuất hiện. Một lần xử lý sự cố tại quầy bar, Trình trách móc khiến Thủy tổn thương. Dù chàng trai đã xin lỗi sau đó, Thủy vẫn “chiến tranh lạnh” suốt 6 tháng.
Sau dịch Covid-19, khoảng cách giữa họ dần được gỡ bỏ khi hai người nối lại liên lạc. Cùng thời điểm, Thủy trải qua biến cố khi bà ngoại qua đời. Mất mát khiến cô trầm cảm nhẹ.
Trình bắt đầu xuất hiện nhiều hơn trong cuộc sống của Thủy. Anh nhắn tin hỏi thăm, rủ cô đi ăn, mang trà sữa đến tận nơi để động viên. Sau hai tháng, Trình bày tỏ tình cảm. Anh nói rằng ai cũng có lúc sai, nhưng nếu có người ở bên đủ lâu, họ có thể cùng nhau sửa lại và đi tiếp. “Câu nói là lời tỏ tình, và cũng là lời hứa”, Trình kể.
Giữa năm 2022, Thủy bắt đầu thấy cơ thể có dấu hiệu lạ. Khi nhìn vào điện thoại hay bảng menu, hình ảnh bị tách đôi. Cô chóng mặt, bước đi chệch hướng, nhiều lần phải bám tường để giữ thăng bằng. Ban đầu, Thủy nghĩ chỉ là mệt vì làm việc quá sức nên vẫn cố chịu đựng cho đến khi không thể đứng vững.
Sau khi đi khám, bác sĩ kết luận cô mắc hội chứng OMAS (Opsoclonus Myoclonus Ataxia Syndrome), một chứng rối loạn thần kinh hiếm ở người trưởng thành, gây rung giật nhãn cầu liên tục, mất kiểm soát thăng bằng và suy giảm vận động.
Thủy được điều trị bằng corticoid liều cao. Cơ thể cô tích nước nhanh, tăng khoảng 10 kg. Một buổi chiều trở về sau đợt điều trị, cô đứng trước gương rất lâu. Nhìn gương mặt, tay chân sưng phù, Thủy đề nghị chia tay. “Tôi không muốn người đồng hành với mình phải khổ, để anh tìm người khác khỏe mạnh hơn”, Thủy nói.
Nhưng Trình từ chối. Hàng ngày sau giờ làm, anh ghé nhà dìu cô tập đi. Khi việc điều trị kéo dài, anh xin nghỉ việc vào bệnh viện cùng bạn gái. Anh đi theo cô từng buổi truyền thuốc, ghi lại giờ giấc, mang vớ, nhắc cô ăn đúng bữa. Những đêm ở lại phòng bệnh, anh ngủ trên ghế gấp cạnh giường, sáng sớm lại ra ngoài mua đồ ăn rồi quay về trước khi Thủy tỉnh giấc. “Tôi chỉ muốn ở cạnh cô ấy nhiều nhất có thể”, Trình nói.
Nhưng bốn tháng sau, bệnh của cô tái phát nặng hơn. Quá trình điều trị hơn một năm sau đó chỉ giúp cô phục hồi khoảng 70% chức năng vận động.
Thủy rơi vào trầm cảm. Có những ngày cô bật khóc không lý do, những đêm mất ngủ kéo dài. Khi cảm giác bất lực tăng lên, Thủy một lần nữa đề nghị chia tay.
Trình vẫn nói không. Sáng hôm sau anh mang về bốn chú chó con. Kể từ hôm đó, Thủy bận rộn với việc chăm sóc đàn chó, cho ăn, nấu nướng, chải lông và chơi đùa cùng chúng. Cô bắt đầu nhận vài công việc online để khuây khỏa, không bị kéo vào nỗi buồn bệnh tật.
Họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất cũng là lúc Trình nhận ra mình không thể thiếu Thủy. Tháng 8/2025, chàng trai cầu hôn ở Mũi Điện, Phú Yên.
Hôn nhân của họ nhận được sự chúc phúc từ hai bên gia đình. Chị Thu Hiền, 33 tuổi, chị ruột của Trình, cho biết trước đó Trình thường đưa Thủy về nhà chơi. Khi mẹ Trình bệnh, anh phải về chăm sóc. Thủy cũng theo để phụ giúp. Chính khoảng thời gian đó giúp gia đình dần gắn bó và thương mến cô gái này. Sau này khi biết Thủy bệnh, gia đình cũng luôn động viên em.
“Tôi thấy em trai mình thay đổi, trưởng thành, biết lo cho gia đình hơn”, chị Hiền nói.
Trình nói suốt 5 năm qua anh chưa từng thấy khó khăn khi ở cạnh Thủy. Dù sức khỏe thay đổi, cô vẫn giữ nguyên sự chân thành và ấm áp như ngày đầu. “Tình yêu không phải phép tính thiệt hơn mà nằm ở sự đồng điệu về tâm hồn”, anh nói.
Randy Shilling tốt nghiệp kỹ sư dầu khí tại Texas. Trong 10 năm đầu sự nghiệp, ông sống trong một căn hộ thuê. Bước ngoặt đến vào năm 30 tuổi khi ông chuyển sang làm việc tại nhà máy hóa chất với mức lương tăng 15%. Qua nhiều lần thăng chức, người đàn ông 58 tuổi hiện sở hữu nhà riêng và quỹ hưu trí hơn 3 triệu USD.
Ông Shilling gần như không nhận ra mình đã vươn lên tầng lớp trung lưu bậc cao. "Tôi vẫn là người bình thường, không có ôtô hay tivi đắt tiền nhưng khi cần mua gì, tôi có thể mua ngay lập tức", ông nói. Vợ chồng ông hiện có thu nhập khoảng 220.000 USD một năm.
Theo báo cáo năm 2024 của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), khoảng 31% người Mỹ thuộc nhóm trung lưu bậc cao, tăng mạnh so với 10% của năm 1979. AEI phân loại thu nhập thành 5 nhóm, trong đó hộ gia đình ba người thu nhập 133.000-400.000 USD thuộc nhóm trung lưu bậc cao. Thu nhập vượt mức này được xem là giàu có.
Hiện tại, quy mô hai nhóm cao nhất đang phình to. Ngược lại, nhóm "nghèo hoặc cận nghèo" (thu nhập dưới 40.000 USD) giảm từ 30% xuống còn 19% trong cùng giai đoạn.
Nhiều gia đình ngạc nhiên khi thấy mình bước sang nấc thang kinh tế mới. Họ tự nhận cuộc sống chỉ dễ chịu hơn chứ không giàu có. Những người này thường làm văn phòng phổ thông thay vì chủ doanh nghiệp. Chuyên gia kinh tế Scott Winship của AEI giải thích: "Các nhóm thu nhập cao mở rộng vì tiền lương tăng nhanh hơn vật giá, đặc biệt đối với nhóm lao động trí thức có bằng cấp".
Hôn nhân cũng là đòn bẩy tài chính. Phân tích của Viện Đô thị chỉ ra, hơn 80% người thuộc nhóm trung lưu bậc cao và giàu có đang sống cùng bạn đời, giúp họ gộp chung thu nhập và chia sẻ sinh hoạt phí.
Gabriel Martinez, 34 tuổi, là một ví dụ. Khởi đầu với mức lương 50.000 USD năm 2015, hiện anh kiếm được 180.000 USD mỗi năm tại một tập đoàn công nghệ. Nhờ vợ chồng cùng đi làm và kiểm soát tài chính, họ đã trả hết khoản nợ học phí đại học 100.000 USD và mua được căn nhà 160 m2 ở Texas. "Cha tôi từng làm việc với mức lương chưa đến 40.000 USD. Tôi biết ơn vì không giậm chân tại chỗ như thế hệ trước", Martinez chia sẻ.
Không còn nỗi lo cơm áo, trăn trở lớn nhất của anh hiện tại là dạy con không ỷ lại, nhất là khi thanh thiếu niên trong vùng thường lái ôtô sang đi học.
Dữ liệu từ Trung tâm Nghiên cứu Pew cũng cho thấy xu hướng này. Năm 2023, 19% người Mỹ nằm trong nhóm thu nhập trên 200.000 USD, tăng từ mức 11% năm 1971. Ngoài lương, tài sản của họ tăng vọt nhờ sự bùng nổ của thị trường chứng khoán và bất động sản.
Với ông Chris Wogan, 76 tuổi, ở bang Pennsylvania, tuổi hưu diễn ra êm đềm hơn kỳ vọng. Lớn lên trong gia đình nghèo, cựu thẩm phán này có thu nhập 175.000 USD từ lương hưu và cổ tức. Vợ chồng ông vừa mua một ngôi nhà trong cộng đồng hưu trí cao cấp và thường xuyên du lịch nước ngoài. "Tôi nghĩ mình chỉ là tầng lớp trung lưu bình thường, nhưng có lẽ tôi đã làm tốt hơn mình tưởng", ông nói.
Dù tài chính dư dả, nhiều người vẫn mang tâm lý phòng thủ. Bà Laura Shields, 46 tuổi, ở bang New Jersey có thu nhập gia đình 240.000 USD. Bà đủ tiền cho con đi ngoại khóa ở nước ngoài những vẫn áp lực khi nghĩ đến học phí đại học đắt đỏ sắp tới và xác định sẽ phải vay mượn thêm.
Giữa tháng 2, tài khoản TikTok @papafromjapan của một người đàn ông Nhật Bản 74 tuổi thu hút hàng trăm nghìn lượt xem, giải thích thuật ngữ "madogiwazoku".
Khái niệm này chỉ nhóm nhân viên bị điều chuyển sang các vị trí ít áp lực, bàn làm việc thường đặt gần cửa sổ. Công việc hàng ngày của họ là xử lý giấy tờ đơn giản hoặc trả lời một vài email. Họ bị tách hoàn toàn khỏi các dự án quan trọng nhưng vẫn được nhận mức lương ổn định.
Thay vì sa thải như phương Tây, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản chọn cách giữ lại nhóm lao động không còn bắt kịp công nghệ hay chiến lược mới. Những người này chủ yếu là nam giới ở độ tuổi cuối 50 đến 60, từng được tuyển dụng theo chế độ làm việc trọn đời (shushin koyo) và trả lương theo thâm niên. Doanh nghiệp đánh giá họ là những nhân viên trung thành, ít phàn nàn và không gây xung đột.
Hiện tượng này phản ánh tình trạng già hóa lực lượng lao động tại Nhật Bản. Số liệu năm 2022 cho thấy hơn 25% người từ 65 tuổi trở lên tại nước này vẫn đi làm, cao hơn mức 20% tại Mỹ và 10% tại Anh. Theo khảo sát của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, 80% người lao động muốn tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu, trong đó 70% muốn gắn bó với cơ quan cũ.
Chính phủ Nhật Bản cũng thúc đẩy xu hướng này. Các nhà chức trách cung cấp nhiều khoản trợ cấp để khuyến khích doanh nghiệp duy trì việc làm cho nhân sự đến tuổi 70. Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho biết một số công ty đã áp dụng mô hình kéo dài tuổi nghỉ hưu để bảo toàn quyền lợi cho nhân viên.
Dưới góc độ quản trị, việc không sa thải người yếu kém giúp doanh nghiệp ổn định tâm lý nhân viên, tránh tạo ra nỗi sợ mất việc. Các công ty cũng tận dụng kinh nghiệm tích lũy nhiều thập kỷ của nhóm lao động lớn tuổi để hỗ trợ đào tạo nội bộ.
Tuy nhiên, sự tồn tại của nhóm "nhân viên cửa sổ" gây ra những phản ứng trái chiều từ đồng nghiệp trẻ. Khảo sát của công ty tư vấn Shikigaku với những nhân sự từ 20 đến 39 tuổi cho thấy, gần 50% xác nhận công ty họ có "người cao tuổi không làm việc". Công việc chính của nhóm này thường là hút thuốc, ăn vặt, tán gẫu, lướt web hoặc chỉ ngồi nhìn.
90% thanh niên tham gia khảo sát cho biết nhóm "ngồi cạnh cửa sổ" tác động tiêu cực đến môi trường công sở. Họ cho rằng tình trạng này làm giảm tinh thần đồng đội, đẩy áp lực công việc sang người trẻ và gia tăng gánh nặng chi phí cho công ty.
Trong những cuộc trò chuyện gia đình, không khó để bắt gặp sự so sánh: người trẻ hôm nay "yếu đuối hơn", "dễ tổn thương hơn", trong khi thế hệ trước dù nghèo khó, vất vả vẫn sống kiên cường, ít khi than vãn.
Thực tế người trẻ ngày nay cởi mở hơn trong việc chia sẻ cảm xúc, sẵn sàng nói về lo âu, trầm cảm, áp lực công việc hay khủng hoảng bản thân. Nhưng chính sự cởi mở ấy lại khiến họ bị nhìn nhận "mong manh" hơn.
Câu hỏi đặt ra là liệu thế hệ trước thật sự không có vấn đề tâm lý hay họ chỉ không gọi tên chúng?
Nhiều người thuộc thế hệ cha mẹ lớn lên trong bối cảnh kinh tế khó khăn, chiến tranh hoặc thời kỳ hậu chiến. Cuộc sống khi đó ưu tiên sự sinh tồn: có cái ăn, có việc làm, nuôi được gia đình. Trong hoàn cảnh đó, cảm xúc cá nhân thường bị đặt xuống sau cùng. Không phải họ không buồn, không áp lực mà là không có điều kiện để dừng lại và đối diện với những cảm xúc đó.
Sự khác biệt lớn giữa hai thế hệ không nằm ở việc ai "mạnh mẽ" hơn mà ở cách họ đối diện với cảm xúc.
Thế hệ trước thường chọn cách im lặng, coi khó khăn là điều phải vượt qua. Thế hệ trẻ, ngược lại, có xu hướng gọi tên vấn đề, tìm kiếm sự hỗ trợ và đặt câu hỏi về sức khỏe tinh thần.
Nếu thế hệ trước đối mặt với khó khăn về vật chất thì người trẻ ngày nay lại chịu áp lực từ những yếu tố vô hình hơn: cạnh tranh nghề nghiệp, kỳ vọng xã hội, mạng xã hội và sự so sánh liên tục. Những áp lực này không dễ nhìn thấy nhưng lại tác động sâu đến tâm lý. Khi không được thấu hiểu, chúng dễ bị đánh giá là "chuyện nhỏ", dẫn đến khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng lớn.
Thay vì đặt hai thế hệ lên bàn cân, có lẽ điều cần thiết hơn là sự thấu hiểu. Người lớn có thể thử lắng nghe nhiều hơn, thay vì so sánh. Người trẻ cũng có thể nhìn lại để hiểu rằng sự kiên cường của thế hệ trước là điều đáng trân trọng.
Sức khỏe tinh thần không phải là câu chuyện của riêng một thế hệ. Nó là vấn đề chung, chỉ khác nhau ở cách mỗi thời đại gọi tên và đối diện. Một xã hội trưởng thành không phải là xã hội không có nỗi buồn mà là nơi con người có thể nói về nỗi buồn của mình mà không bị phán xét.
Thế hệ cha mẹ có thể đã đi qua những tổn thương mà chưa từng gọi tên cho chúng. Thế hệ trẻ hôm nay lại đang học cách gọi tên nỗi buồn. Cả hai, theo những cách khác nhau, đều đang cố gắng sống tốt hơn.
Và có lẽ thay vì hỏi ai mạnh mẽ hơn, điều đáng hỏi hơn là chúng ta có đang cho nhau đủ không gian để được yếu đuối một cách lành mạnh hay chưa.