Đó cũng chính là lý do khiến ông Lương Dũng Nhân cùng nhóm học trò của tiến sĩ Lê Nguyên Phương tổ chức Ngày hội An lạc miễn phí dành cho mọi người từ tháng 11-2024 đến nay. 5 Ngày hội An lạc đã được tổ chức tại TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng.
Ngày hội An lạc lần thứ 5 được tổ chức tại Hà Nội ngày 18-4, với sự tham dự của hàng trăm bạn trẻ bao gồm cả nam lẫn nữ, một số phụ nữ trung niên.
Giữa hai nhịp hướng dẫn người tham gia Ngày hội An lạc lắng nghe mình và kết nối với những người xung quanh, ông Lương Dũng Nhân chia sẻ những câu chuyện gợi suy nghĩ ông nhận được từ 5 lần tổ chức ở ba miền đất nước.
Đầu tiên, ông đã gặp nhiều người trẻ mang cùng một câu chuyện: Công việc tốt, lương đủ, điện thoại đầy danh bạ, mạng xã hội hàng trăm bạn bè, nhưng khi cảm thấy đau khổ trào dâng vào một buổi tối bất kỳ, không có cái tên nào họ dám gọi.
Thậm chí nhiều bạn trẻ chia sẻ chính gia đình cũng là một nơi chốn không mang đến cảm giác an toàn cho họ.
Vậy mà ở những Ngày hội An lạc, ông đã chứng kiến những người tham dự, có cả học sinh, sinh viên, người đi làm ba mươi tuổi, phụ huynh năm mươi tuổi, ngồi xuống và bật khóc ngay trong vài phút đầu tiên.
Họ nói rằng lần đầu tiên sau rất lâu, họ được cảm thấy mình không phải gồng lên để “ổn”.
Lần đầu tiên họ nhận ra cái mỏi trong vai mình đã ở đó suốt nhiều năm mà họ chưa bao giờ dám thả lỏng xuống.
Bởi vì Ngày hội An lạc thiết kế một không gian đủ yên tĩnh, đủ ấm áp, đủ an toàn, nơi những người tham dự được hướng dẫn quay về với cảm giác đang diễn ra ngay trên cơ thể mình.
Ở đó, những người hướng dẫn thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc không đưa ra lời khuyên, không phân tích, không đánh giá, không đi tìm lời giải hộ người tham dự.
Bởi điều những người đang mỏi mệt cần nhất là một không gian tràn đầy sự hiện diện thật sự và quan tâm trọn vẹn của người khác một cách trực tiếp, không qua màn hình.
Trở lại câu chuyện các học viên của Ngày hội An lạc lập tức cởi bỏ “áo giáp”, bật khóc ngay vài phút đầu tiên tham dự ngày hội, ông Dũng Nhân nói là bởi không gian ấy tạo cho người tham gia cảm giác an toàn.
Con người chỉ thực sự được chữa lành khi hệ thần kinh ở trạng thái an toàn. Khi ấy cơ thể chuyển sang chế độ kết nối xã hội, biểu cảm khuôn mặt mềm lại, giọng nói dịu xuống, khả năng học hỏi và phục hồi mới khởi sinh.
Ngược lại, khi hệ thần kinh đang ở chế độ cảnh giác liên tục thì dù có nghe bao nhiêu lời khuyên đúng đắn cũng không thấm vào được. Đáng tiếc, điện thoại và mạng xã hội, với thiết kế kích thích liên tục, đang đẩy hệ thần kinh của người trẻ về phía cảnh giác.
Ông Lương Dũng Nhân cho biết nhiều học viên chia sẻ với ông trước đây, mỗi khi buồn, họ mở điện thoại.
Sau khi trở về từ Ngày hội An lạc, họ bắt đầu làm một việc khác: bước ra khỏi phòng, đi bộ xuống sân, ngồi trên ghế đá và thở. Đôi khi gặp một người hàng xóm ra tưới cây thì cười và chào một câu. Chỉ vậy thôi, nhưng cảm giác đó khác hẳn với ba tiếng lướt Facebook.
Ông Dũng Nhân nói trong mỗi chúng ta đều có một phần biết rất rõ rằng thứ khiến mỗi chúng ta được chữa lành, được làm dịu cơn đau không nằm trong màn hình, mà phải là sự kết nối trực tiếp giữa người với người.
Bộ Quốc phòng nhận được câu hỏi của công dân về quy định, điều kiện miễn, tạm hoãn tham gia dân quân tự vệ.
Người này cho biết mình 25 tuổi, hoàn cảnh gia đình khá khó khăn, cha bỏ từ nhỏ, mẹ có gia đình riêng, anh sống với dì và hai em họ.
Là lao động chính trong gia đình, người dì ngoài 55 tuổi, bị thoái hóa cột sống, không còn khả năng lao động ổn định. Hai người em họ một người đang học đại học và người còn lại đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nhưng chưa có việc làm ổn định.
Về sức khỏe, anh cho biết mình bị cận 2,25 độ, loạn 1,75 độ, giãn tĩnh mạch thừng tinh, viêm giác mạc dị ứng ánh sáng và gan nhiễm mỡ.
Tuy nhiên địa phương vẫn yêu cầu tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Anh đã trình bày hoàn cảnh nhưng được trả lời là năm nay bắt buộc tham gia do thiếu quân.
Về vấn đề này, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cho biết theo quy định, nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện thì có thể kéo dài đến hết 50 tuổi với nam, đến hết 45 tuổi với nữ.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ tại chỗ, cơ động, dân quân tự vệ biển, tự vệ phòng không, pháo binh, trinh sát, thông tin, công binh, phòng hóa, y tế là 4 năm; thường trực là 2 năm.
Tùy yêu cầu, nhiệm vụ, thời hạn có thể được kéo dài nhưng không quá 2 năm.
Đối với dân quân biển, tự vệ, chỉ huy đơn vị được kéo dài hơn nhưng không quá độ tuổi quy định.
Theo quy định, các trường hợp được tạm hoãn gồm: phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; nam giới một mình nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
Không đủ sức khỏe, có vợ hoặc chồng đang phục vụ trong quân đội, công an hoặc công tác ở vùng đặc biệt khó khăn;
Là lao động duy nhất trong hộ nghèo, hộ cận nghèo; trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được chủ tịch UBND cấp xã xác nhận…
Là vợ hoặc chồng, một con của thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61 - 80%; đang học tại trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; đang lao động, học tập, làm việc ở nước ngoài.
Đối với trường hợp được miễn, nếu là vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; quân nhân dự bị đã được sắp xếp; người trực tiếp nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người làm công tác cơ yếu: Chủ tịch UBND cấp xã, UBND cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.
Trường hợp tham gia dân quân thường trực phải đạt sức khỏe loại 1, 2, 3 theo kết luận của cơ sở y tế có thẩm quyền...
Căn cứ vào nội dung thư hỏi nêu trên và quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng cho biết việc tham gia dân quân tự vệ là nghĩa vụ của công dân. Nếu công dân đủ tiêu chuẩn tuyển chọn vào dân quân tự vệ thì không thuộc diện tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ trong thời bình.
Đằng sau những tấm thẻ xác nhận khuyết tật đối với nhiều trường hợp sẽ là một hành trình đi xa và vất vả.
Thương mẹ, từ một người phụ nữ từng đi chợ, làm vườn, chăm lo mọi việc trong nhà, mẹ trở thành người cần được chăm sóc.
Gia đình tôi sau đó làm hồ sơ để mẹ được hưởng chế độ trợ cấp ở diện là con liệt sĩ bị khuyết tật (ông ngoại tôi là liệt sĩ, bà ngoại là thương binh). Khoản hỗ trợ hằng tháng tuy không lớn nhưng phần nào giúp trang trải chi phí thuốc men cho mẹ. Chúng tôi rất biết ơn về sự hỗ trợ này, vì gia đình thuộc diện khó khăn và neo đơn. Nhưng để có được tấm giấy xác nhận ấy, hành trình với chúng tôi đúng là hành trình những chuyến đi xa.
Vì mẹ thuộc diện con liệt sĩ (theo quy định về thủ tục hành chính trường hợp thân nhân là con bị khuyết tật nặng phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh - TT) nên mẹ không thể chỉ khám ở xã như diện khuyết tật thông thường, mà phải nhiều lần xuống bệnh viện tuyến tỉnh theo chỉ định để khám và hoàn tất hồ sơ.
Quãng đường cả đi lẫn về hơn 100 cây số, trong khi mẹ không thể tự đi lại. Mỗi lần như vậy, gia đình đều phải thuê xe taxi, vì tuyến đường và phương tiện công cộng ở ngoài quê không phù hợp cho người ngồi xe lăn.
Chi phí khám bệnh, chi phí di chuyển, thời gian chờ đợi… tất cả dồn lại thành một gánh nặng không nhỏ cho mấy mẹ con. Thật vất vả, để được xác nhận là "khó khăn", người ta lại phải vượt qua một hành trình cũng khá khó khăn.
Câu chuyện của mẹ tôi không phải là cá biệt. Nhiều người khuyết tật ở diện con em liệt sĩ, đặc biệt ở vùng nông thôn, đang gặp những khó khăn tương tự khi tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Tôi nghĩ một trong những điều cần được cải thiện là cách thức triển khai. Thay vì yêu cầu người khuyết tật di chuyển xa để thẩm định, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể tổ chức các đợt khám, đánh giá tại địa phương cấp thôn, xã. Việc cử đội ngũ y bác sĩ đến tận nơi, thậm chí là tận nhà (trường hợp nhiều người neo đơn, không thể đi lại,...) không chỉ giảm chi phí cho người dân, mà còn thể hiện sự chủ động của chính sách.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cũng cần được đơn giản hóa. Việc phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ phức tạp vô tình khiến nhiều người nản lòng, thậm chí từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình. Một chính sách nhân văn không chỉ nằm ở nội dung hỗ trợ, mà còn ở cách nó đến được với người cần.
Ngoài chính sách trợ cấp, vấn đề lớn hơn là khả năng tiếp cận các tiện ích và cơ hội việc làm của người khuyết tật.
Nhiều công trình công cộng vẫn thiếu lối đi cho xe lăn. Phương tiện giao thông chưa thân thiện. Nơi làm việc hiếm khi được thiết kế phù hợp. Điều đó khiến người khuyết tật, dù có năng lực, vẫn khó hòa nhập.
Để thay đổi điều này, cần có những quy định rõ ràng hơn về thiết kế không gian tiếp cận trong xây dựng, giao thông và môi trường làm việc.
Người khuyết tật không cần được "ưu tiên" theo nghĩa đặc biệt, mà cần một môi trường đủ công bằng để họ có thể tự bước đi theo cách của riêng mình.
Sau những tháng ngày đầu đầy tuyệt vọng, mẹ tôi dần học cách sống cùng chiếc xe lăn. Bà tập làm lại những việc nhỏ, từ việc tự di chuyển trong nhà, đến việc nấu ăn, chăm sóc bản thân. Có những ngày mẹ buồn, có những lúc mệt mỏi, nhưng bà không cho phép mình dừng lại quá lâu. Bà vẫn lọ mọ làm những việc trong khả năng để ngày trôi qua có ý nghĩa.
"Tàn nhưng không phế" - câu nói tưởng chừng quen thuộc ấy, với mẹ tôi, không phải là khẩu hiệu, mà là một hành trình.
Người khuyết tật, hơn ai hết, cần vượt qua chính mình. Nhưng để làm được điều đó, họ cần một môi trường không rào cản, một xã hội không định kiến, và một hệ thống chính sách đủ thấu hiểu.
Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, mà còn bằng cách nó đối xử với những người yếu thế nhất.
Người khuyết tật không cần những lời hứa lớn lao. Họ cần những thay đổi cụ thể từ chính sách thuận tiện hơn, không gian dễ tiếp cận hơn, và một ánh nhìn công bằng hơn từ cộng đồng.
Từ những quan sát của một người mất thị lực bẩm sinh, tôi hiểu rằng sự cống hiến ấy không phải là phép màu sẵn có. Đó là cuộc đối thoại công bằng giữa nỗ lực từ cá nhân và sự thấu cảm thực tâm của xã hội.
Sinh non với ngoại hình chỉ lớn bằng một "chú cá lóc", ký ức tuổi thơ của tôi được dệt nên bằng xúc giác và trí nhớ thay vì màu sắc. Tôi bắt đầu hành trình cuộc đời của mình bằng cách tập ghi nhớ vị trí từng món đồ vật nhỏ trong nhà do gia đình hướng dẫn, rồi dần mở rộng ra những địa hình phức tạp hơn.
Đó là những ngày lẩn mẩn đếm từng bước chân trên con đường quen thuộc từ nhà đến trường, cảm nhận sự thay đổi của mặt đường dưới đế giày để biết mình đang ở đâu.
Tôi học cách nhận diện bạn bè qua nhịp điệu của tiếng bước chân, hiểu về sự bao la của không gian qua tiếng gió rít, hay sự dội lại của âm thanh trong một căn phòng trống. Và trên hết, tôi cảm nhận tình yêu hay sự chân thành qua tông giọng, qua những rung cảm nhỏ nhất trong hơi thở của người đối diện.
Nhiều người thường ngạc nhiên khi biết tôi đã học hòa nhập với các bạn sáng mắt trừ năm 7 tuổi, hiện giờ là sinh viên khiếm thị hiếm hoi theo học chuyên ngành quan hệ quốc tế - Trường đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM.
Họ thắc mắc: Vì sao tôi lại chọn một ngành nghề vốn đòi hỏi sự quan sát nhạy bén, những nghi thức ngoại giao khắt khe và khả năng giao tiếp bằng ánh mắt?
Câu trả lời nằm ở niềm tin của tôi về sự kết nối.
Tôi tin rằng trong bất kỳ thời đại nào, sự gắn kết giữa người với người vẫn là điều quan trọng nhất.
Minh chứng rõ nhất trong đời tôi là dấu mốc tuổi 20, khi tôi trở thành đồng tác giả trẻ nhất trong cuốn sách "Không có đá quá mềm" cùng giáo sư Phan Văn Trường.
Chính sự kết nối về tư duy và niềm tin mà thầy dành cho một cô học trò khiếm thị đã biến những rào cản tưởng chừng như đá cứng trở nên mềm mại.
Hay trong chuyến tham gia Hội nghị Thanh niên khiếm thị khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Manila philippines, do Quỹ The Nippon Foundation tổ chức vào năm 2023, sự kết nối và đồng cảm từ những người bạn quốc tế trong hội nghị giúp tôi mở mang tư duy, bước ra khỏi "ốc đảo" của chính mình.
Đầu năm nay, tại tọa đàm "Ánh sáng từ trái tim và khát vọng" do Trường trung học Thực hành (Trường đại học Sư phạm TP.HCM) tổ chức, tôi đã có một cuộc gặp gỡ đặc biệt. Đứng trước các em học sinh đang tràn đầy hoài bão nhưng cũng không ít chênh vênh, tôi nhận ra: sự khiếm khuyết về thể xác không đáng sợ bằng sự thiếu hụt niềm tin vào bản thân.
Tôi chia sẻ với các bạn về cách dùng AI làm "đôi mắt" thứ hai để tự học đa ngoại ngữ và xử lý tài liệu. Khi kể về cách tôi dùng tính năng voice chat của AI để tự học đa ngoại ngữ, thông qua tiếng ồ, à của các em.
Các bạn sẽ hiểu ra rằng công nghệ không chỉ để giải trí, mà là công cụ để giúp người khiếm thị nâng cao năng lực của mình. Cuộc đối thoại ấy không đơn thuần là chia sẻ kỹ năng, mà là sự truyền lửa: Khi ta đủ khát khao, thế giới mới sẽ mở ra theo cách bạn không ngờ tới.
Nhiều người hỏi tôi, liệu sự tự tin và tinh thần lạc quan có phải là "chìa khóa vạn năng" giúp người khuyết tật luôn vững bước? Tôi cho rằng, lạc quan là nền tảng để bắt đầu tự tin sống hòa nhập.
Hòa nhập thực chất không chỉ nằm ở quyền được giáo dục, mà còn ở quyền được thụ hưởng cái đẹp và sự an toàn. Khoảnh khắc tôi đeo tai nghe, lắng nghe từng cử chỉ của nghệ sĩ Thành Lộc tại sân khấu Thiên Đăng (dự án Từ tai đến mắt) là một giây phút kỳ diệu. Đó là khi khát khao của tôi gặp được một "điểm tựa" thấu cảm từ cộng đồng.
Nhưng cuộc đời không chỉ có ánh đèn sân khấu. Vẫn còn đó những góc khuất rủi ro nơi cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women Viet Nam) khẳng định: 76,8% phụ nữ và trẻ em khuyết tật trở thành đối tượng dễ tổn thương trước vấn nạn quấy rối tình dục.
Để góp phần giảm thiểu điều này, lớp tập huấn phòng chống xâm hại tình dục dành cho học sinh khiếm thị do tôi thực hiện tại mái ấm Huynh Đệ Như Nghĩa (cùng Tổ chức Nơ Xanh Việt Nam) giúp những nữ sinh nơi đây bảo vệ bản thân trước sóng gió cuộc đời.
Sau cùng, nỗ lực cá nhân dù phi thường đến đâu cũng chỉ là một nửa chiếc chìa khóa. Nếu người khuyết tật cố gắng 200% sức lực nhưng xã hội vẫn thiếu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, thiếu cơ hội việc làm công bằng, thì mọi nỗ lực sẽ như "muối bỏ biển".
Vì vậy đừng chỉ trao tặng chúng tôi những đóa hoa hướng dương rực rỡ trong ngày lễ, hãy trao cho chúng tôi chiếc chìa khóa của sự thấu cảm thực tâm. Để mỗi bước đi không còn là những nỗ lực đơn độc, mà là hành trình cộng hưởng chung của những con người tin vào sức mạnh của sự kết nối chân thành.