Mục Lục
ToggleTrao đổi với Tuổi Trẻ Online, một lãnh đạo Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh xác nhận vào ngày 15-4 xảy ra một vụ nổ cục nóng điều hòa tại Công ty TNHH Mobase Việt Nam, Khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Vụ nổ khiến hai người là lao động sửa chữa máy điều hòa bị thương, không phải công nhân của công ty.
Theo hình ảnh tại hiện trường, sau tiếng nổ lớn, một số cửa kính của trụ sở công ty trên bị vỡ. Nhận được tin báo, lực lượng chức năng đã có mặt tại hiện trường, triển khai công tác cứu hộ, sơ cứu ban đầu cho các nạn nhân, đồng thời sơ tán công nhân viên ở khu vực lân cận để đảm bảo an toàn.
Nguồn tin của Tuổi Trẻ Online cho biết đến sáng 16-4, trong hai nạn nhân, một người bị thương nặng vẫn phải nằm ở bệnh viện theo dõi trong khi người còn lại bị thương nhẹ đã được hỗ trợ y tế, cho về nhà theo dõi.
Hiện các cơ quan chức năng đang thống kê thiệt hại và điều tra làm rõ nguyên nhân vụ nổ trên.
Được biết, Công ty TNHH Mobase Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn FDI, chuyên sản xuất vỏ điện thoại di động và các linh kiện điện tử kỹ thuật cao.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo thông báo tại văn bản số 153 của Ban Quản lý Dịch vụ Công ích (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh), các phương tiện thủy dưới 50 chỗ xuất phát từ cảng Cái Rồng đi các tuyến Cô Tô, Quan Lạn, Minh Châu chỉ được phục vụ dân sinh, cán bộ và lực lượng làm nhiệm vụ, không phục vụ khách du lịch.
Có nghĩa rằng, phần lớn du khách buộc phải di chuyển sang cảng Ao Tiên để tiếp tục hành trình ra đảo. Đây là bến cảng do tư nhân đầu tư hơn 600 tỉ đồng nằm cách đó vài cây số.
Việc điều tiết luồng khách nhằm đảm bảo an toàn vận tải là cần thiết. Tuy nhiên, cách triển khai hiện nay đang khiến nhiều người liên tưởng đến một hình thức "ngăn sông, cấm chợ" trong du lịch.
Trước đây, du khách có thể lựa chọn linh hoạt giữa cảng Cái Rồng và các phương tiện khác nhau để ra đảo, tàu cao tốc, tàu gỗ... phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính. Nay, khi bị "dồn" về một đầu mối là cảng Ao Tiên, quyền lựa chọn của khách gần như không còn.
Anh Phạm Thế Công, du khách từ Hà Nội chia sẻ: "Gia đình tôi đi du lịch tại đảo Cô Tô cũng thường chọn tàu nhỏ từ Cái Rồng vì tiết kiệm và đó cũng là trải nghiệm thú vị. Nay bắt buộc qua cảng Ao Tiên, khiến chi phí đội lên khá nhiều, chưa kể phải di chuyển lòng vòng."
Cũng theo anh Công, cái khó đó là cảng Cái Rồng có phục vụ tàu dân sinh cho người dân nhưng lại là tàu gỗ chạy chậm. Người dân Cô Tô muốn ra đất liền bằng tàu Cao Tốc thì bắt buộc phải qua cảng Ao Tiên và đóng thêm phí dịch vụ qua cảng.
Trong khi trước đây người dân các xã đảo vẫn sử dụng tàu cao tốc cỡ nhỏ để cập vào cảng Cái Rồng bình thường và bớt gánh nặng phí dịch vụ qua cảng.
Không chỉ du khách, một số doanh nghiệp lữ hành cũng bày tỏ lo ngại việc tập trung toàn bộ khách về một cảng Ao Tiên sẽ gây quá tải cục bộ, đặc biệt vào mùa cao điểm. Chưa kể khả năng đáp ứng của bến cảng Ao Tiên chưa phải đã phù hợp với tàu nhỏ.
Anh Bùi Đ., chủ tàu vận tải khách tuyến Vân Đồn - Quan Lạn cho hay, với các tàu cỡ nhỏ thì hành khách khi lên xuống gặp nhiều khó khăn, bởi mũi tàu không thể cập sát cầu cảng và chênh với độ cao khoảng 3 m, trong khi tàu chở khách cỡ nhỏ (dưới 100 chỗ) hoạt động khá đông ở đây.
Cũng theo anh Đ., lối lên xuống hiện nay của bến cảng Ao Tiên chỉ đủ cho một người lên hoặc xuống. Nếu hai người đi ngược chiều phải tránh nhau rất khó khăn; trong khi đó, toàn bộ đều không lắp rào chắn, nếu không may va chạm có thể bị ngã xuống biển.
Điểm gây bức xúc rõ nhất chính với người dân sinh sống tại các đảo là mức phí qua cảng Ao Tiên hiện nay đang duy trì mức 50.000 đồng/lượt/người. Trong bối cảnh giá xăng dầu liên tục biến động, chi phí vận hành tàu tăng cao, việc phát sinh thêm khoản phí này khiến giá vé tàu cao tốc đi các tuyến đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Cô Tô bị đẩy lên đáng kể.
Chị Nguyễn Thị Vân, người dân trên đảo Cô Tô cho biết, mỗi lần từ đảo vào đất liền hiện nay người dân mất gần 1 triệu/đồng lượt, nếu cộng thêm phí qua cảng Ao Tiên nữa thì chi phí sẽ tăng hơn, khiến người dân rất khó khăn.
"Người dân không có nhu cầu vào cảng du lịch vì chúng tôi đi lại là để mưu sinh, sinh hoạt đời thường. Du khách họ mới cần đến các trải nghiệm, tham quan, vì vậy cơ quan chức năng nên xem xét đến việc thu mức phí ra sao đối với người dân đảo", chị Vân chia sẻ
Thực tế, với một gia đình 4 người, chỉ riêng phí qua cảng Ao Tiên đã mất thêm 200.000 đồng/lượt, chưa kể chi phí vé tàu, di chuyển từ cảng tàu ra bến xe... và các dịch vụ khác. Điều này phần nào làm giảm sức hấp dẫn của du lịch Vân Đồn - Cô Tô, vốn đang cạnh tranh gay gắt với các điểm đến khác.
Hài hòa lợi ích nhà đầu tư, người dân giữ đảo
Các chuyên gia du lịch cho rằng, việc tổ chức vận tải cần đảm bảo nguyên tắc thuận tiện, đa dạng cạnh tranh lành mạnh. Khi chỉ tập trung vào một đầu mối như cảng Ao Tiên, nguy cơ độc quyền dịch vụ và tăng chi phí là điều khó tránh khỏi.
Trao đổi với Thanh Niên, lãnh đạo đặc khu Vân Đồn cho hay: "Không thể phủ nhận việc đầu tư bến cảng Ao Tiên đã làm đột phá hạ tầng du lịch cho địa phương, tăng sức hấp dẫn với du khách. Tuy nhiên, trước phản ánh của người dân, địa phương sẽ có trao đổi với doanh nghiệp để có chính sách phù hợp".
Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, việc tổ chức khai thác cũng cần đặt trong tổng thể hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, người dân và du khách. Đặc biệt, với các xã đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng…, sinh kế của người dân gắn chặt với biển và dòng khách du lịch.
Giữ chân người dân bám đảo, bám biển không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn liên quan đến an sinh, văn hóa và chủ quyền lâu dài. Vì vậy, trong quá trình khai thác cảng Ao Tiên, cần có chính sách linh hoạt, không "đóng cửa" các phương án vận chuyển truyền thống, đồng thời kiểm soát hợp lý các loại phí để không tạo thêm gánh nặng cho người dân và du khách.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/ngan-song-cam-cho-phien-ban-cang-ao-tien-185260408160836391.htm

Đại thủy nông Bắc Hưng Hải - hệ thống từng cung cấp nước tưới cho 130.000 ha đất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân. Phải làm gì để hồi sinh hệ thống là câu hỏi khiến cả nhà quản lý và chuyên gia sông ngòi phải tính toán thấu đáo.
Tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống
Bắc Hưng Hải gồm hơn 230 km kênh trục chính, hàng nghìn km kênh mương nội đồng cùng khoảng 1.900 cống, trạm bơm. Với mạng lưới quy mô lớn, trải dài qua Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hải Phòng, PGS.TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cho rằng muốn cải tạo phải bắt đầu từ tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống.
Bắc Hưng Hải được thiết kế trong bối cảnh cơ cấu sử dụng đất, nhu cầu nước tưới rất khác so với hiện nay. Nhiều năm qua, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong lưu vực đã được chuyển đổi sang đô thị, khu công nghiệp hoặc các loại hình sử dụng đất khác. Điều này khiến nhu cầu cấp nước và tiêu thoát nước của hệ thống thay đổi đáng kể so với thiết kế chỉ phục vụ tưới tiêu ban đầu.
"Cần xem lại năng lực tưới tiêu thực tế của hệ thống hiện nay đã thay đổi như thế nào, diện tích đất nông nghiệp còn bao nhiêu và nhu cầu cấp nước ra sao. Trên cơ sở đó mới có thể tính toán phương án cải tạo phù hợp", ông Tứ nói và nhận định việc đánh giá lại toàn bộ hiện trạng hệ thống là bước quan trọng để xác định quy mô đầu tư hợp lý, bảo đảm hiệu quả lâu dài của dự án cải tạo.
Cấp bách kiểm soát nguồn thải
Sau bước đánh giá toàn bộ hệ thống Bắc Hưng Hải, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng phải cấp bách kiểm soát nguồn thải. Cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh của khu vực, lượng nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư đổ vào Bắc Hưng Hải ngày càng tăng, tạo áp lực lớn đối với chất lượng nước.
Theo tính toán, hiện tổng lượng nước thải xả vào Bắc Hưng Hải khoảng 538.838 m3 mỗi ngày đêm, phân bố rộng khắp trên toàn lưu vực. Trong đó, Hưng Yên chiếm tỷ lệ lớn nhất 31%, tiếp đến là Hải Phòng 21%, Hà Nội 13%, Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả thải vẫn chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu khiến nhiều đoạn kênh rơi vào tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Cũng cho rằng phải kiểm soát nguồn thải, ông Lương Xuân Chính, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, phân tích khả năng tự làm sạch của kênh chỉ tồn tại trong giới hạn nhất định. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng chịu tải, chất lượng nước sẽ suy giảm nhanh.
"Bổ sung nguồn nước chỉ giúp pha loãng ô nhiễm trong một số thời điểm, còn muốn xử lý tận gốc thì phải kiểm soát được nguồn thải", ông Chính nói.
Tuy nhiên, kiểm soát nguồn thải trên mạng lưới như Bắc Hưng Hải là bài toán rất tốn kém, có thể vượt quá nguồn lực của địa phương, theo GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường. Bởi chi phí xây dựng và vận hành các nhà máy xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cao rất lớn, trong khi nhiều địa phương chưa hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải đô thị.
"Cần kết hợp nhiều biện pháp, từ kiểm soát nguồn thải, điều tiết dòng chảy đến tận dụng khả năng tự làm sạch của hệ thống sông kênh", ông Hạ đề xuất.
Phối hợp liên tỉnh
So sánh với việc cải tạo sông Tô Lịch, PGS.TS Đào Trọng Tứ cho rằng bài toán của Bắc Hưng Hải phức tạp hơn nhiều. Tô Lịch nằm hoàn toàn trong phạm vi Hà Nội, hệ thống Bắc Hưng Hải lại trải dài qua nhiều tỉnh với hàng loạt nguồn thải. Nếu mỗi địa phương làm một kiểu, không có cơ chế điều phối thống nhất thì rất khó đảm bảo các hạng mục cải tạo được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả.
TS Trần Đức Hạ cũng cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao thiết lập được cơ chế quản lý thống nhất cho toàn hệ thống Bắc Hưng Hải. Nếu không có cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp vùng, việc xử lý ô nhiễm hay cải tạo hạ tầng sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài.
Bởi Bắc Hưng Hải không chỉ là công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp như trước đây. Nó đang phải gánh thêm nhiều chức năng mới như tiêu thoát nước cho đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp; tiếp nhận nước thải và là khung sinh thái cảnh quan cho khu vực.
"Cần có cơ quan đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối chung toàn bộ hệ thống, từ đầu tư hạ tầng đến kiểm soát nguồn thải", ông Hạ kiến nghị.
Chờ đề án cải tạo quy mô lớn
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng đề án xử lý ô nhiễm và phát triển tổng thể hệ thống Bắc Hưng Hải, mục tiêu từng bước phục hồi chất lượng nước, nâng cao năng lực tưới tiêu và điều tiết nước, đồng thời thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh trong lưu vực.
Đề án tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Đầu tiên là nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi, cải tạo các công trình đầu mối, nạo vét tuyến kênh trục và kênh nhánh, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc tự động để theo dõi chất lượng nước và điều tiết dòng chảy.
Nhóm giải pháp thứ hai là kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng nước, thông qua việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn thải tại vị trí xả lớn, từng bước thu gom và xử lý nước thải trước khi đổ vào hệ thống. Cuối cùng là khai thác tổng hợp không gian hai bên kênh, kết hợp chỉnh trang cảnh quan, phát triển các tuyến đô thị sinh thái và dịch vụ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính toán tổng kinh phí dự kiến để cải tạo toàn diện hệ thống khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 6.000 tỷ đồng vốn đầu tư công để hoàn thiện hạng mục chính của hệ thống, gồm 4.505 tỷ nâng cấp hạ tầng thủy lợi, 100 tỷ hiện đại hóa công tác quản lý vận hành và khoảng 1.394 tỷ cải tạo các tuyến kênh trục. Các địa phương tham gia đầu tư nhiều hạng mục liên quan kiểm soát ô nhiễm và chỉnh trang hệ thống kênh.
Với quy mô lớn và lịch sử vận hành hơn nửa thế kỷ, chuyên gia và nhà quản lý cho rằng việc hồi sinh Bắc Hưng Hải không chỉ là chuyện cải tạo hệ thống thủy lợi mà là bài toán quản lý tổng hợp cả lưu vực rộng lớn. Nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều địa phương, bộ ngành và người dân trong lưu vực.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/lam-gi-de-hoi-sinh-bac-hung-hai-5050203.html

Ngày 14/4, Sở Xây dựng TP HCM giao Trung tâm Quản lý Giao thông và Hạ tầng kỹ thuật rà soát, đề xuất phương án chiếu sáng mỹ thuật, chiếu sáng trang trí và ánh sáng tương tác chuyển động cho loạt công trình trên.
Động thái này được triển khai theo chỉ đạo của Bí thư Thành ủy TP HCM Trần Lưu Quang về nghiên cứu giải pháp chiếu sáng nghệ thuật tại khu vực trung tâm, hình thành các điểm nhấn cảnh quan sống động về đêm.
Danh mục rà soát tập trung vào các không gian công cộng như công viên 30/4, Tao Đàn, cùng các dải bờ kênh, bờ sông đã hoàn chỉnh kè. Bên cạnh đó, mặt ngoài nhiều công trình bảo tồn lịch sử - văn hóa như Nhà thờ Đức Bà, chùa Giác Lâm, chợ Bến Thành, chợ Bình Tây, Lăng Ông Bà..., cùng các trục đường cửa ngõ và cầu lớn cũng được xem xét phương án chiếu sáng.
Đây là lần đầu TP HCM nghiên cứu triển khai chiếu sáng mỹ thuật trên quy mô lớn tại các không gian công cộng và công trình biểu tượng.
Ngoài các khu vực trên, Sở Xây dựng cũng yêu cầu rà soát những công trình ở trung tâm đã lắp hệ thống chiếu sáng mỹ thuật. Trường hợp cần thiết có thể đề xuất sửa chữa, thay thế hoặc bổ sung để tăng hiệu quả.
Một số công trình cũng được nghiên cứu ứng dụng công nghệ 3D mapping trên mặt ngoài, gắn với các sự kiện lịch sử tại từng địa điểm, góp phần đáp ứng nhu cầu văn hóa và giáo dục của người dân.
Trước đó, tháng 11/2025, TP HCM đã hoàn thành dự án chiếu sáng mỹ thuật tại nhiều công trình như cầu Mống, Nhà Thiếu nhi, Bảo tàng thành phố, cột cờ Thủ Ngữ và chợ Bến Thành. Mỗi nơi được thiết lập kịch bản ánh sáng riêng, có thể thay đổi màu sắc theo không gian và thời điểm, góp phần cải thiện cảnh quan ban đêm và quảng bá hình ảnh đô thị. Dự án này có tổng vốn gần 50 tỷ đồng từ ngân sách thành phố.
Ngoài ra, cuối năm 2024, hệ thống chiếu sáng mỹ thuật giai đoạn một trên cầu Ba Son, nối Khu đô thị Thủ Thiêm với quận 1 cũ, cũng đã được triển khai. Hệ thống đèn lắp trên dây văng, trụ tháp và hai bên kết cấu nhịp, làm nổi bật kiến trúc đặc trưng của công trình.
Tin Gốc: Vnexpress

