GS. TS Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng – Viện Công nghệ cao Việt Nhật và giảng viên cao cấp tại khoa Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia năm 2025, hồi tháng 3.
Giải thưởng mang tên nhà toán học người Nga – Sophia Kovalevskaia, để vinh danh những nhà khoa học nữ có thành tựu xuất sắc của Việt Nam.
Tại Đại học Xây dựng Hà Nội, chị Nga giảng dạy môn Xử lý nước thải, Hóa nước – Hóa môi trường, Công nghệ xử lý nước thải bậc cao và Quản lý tổng hợp nguồn nước. Hướng nghiên cứu của chị tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
“Giải Kovalevskaia là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm”, chị Nga nói.
Chị Nga có bố là GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia khoa học hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước. Thừa hưởng tinh thần học tập, nghiên cứu từ gia đình, chị sớm đam mê khoa học, khát khao khám phá những kiến thức mới.
Năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội, khoa Kỹ thuật hạ tầng và cấp thoát nước. Khi ấy, lựa chọn của chị giản đơn – muốn tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời nghiên cứu.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp, nhờ tư duy logic về kỹ thuật, được rèn giũa từ môi trường khoa học trong gia đình. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Bên cạnh đó, kỹ thuật cấp thoát nước vốn là tổng hòa liên ngành kỹ thuật-xã hội, liên quan con người và môi trường, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống. Đây đều là những vấn đề thách thức mà chị quan tâm, thôi thúc chị tiếp tục học lên cao, theo con đường nghiên cứu, giảng dạy.
Năm 1996, chị Nga tốt nghiệp xuất sắc, sau đó nhận học bổng du học thạc sĩ tại Viện Kỹ thuật Châu Á (AIT), Thái Lan. Trước ngày lên đường, nhiều người “rào” rằng học sâu về ngành này rất nặng. Nhưng chị Nga không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
“Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực”, chị Nga tâm niệm.
Ba năm sau, chị nhận học bổng tiến sĩ tại Đại học Tokyo – ngôi trường top 1 Nhật Bản, rồi làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Theo chị Nga, mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều có những khó khăn, đòi hỏi chị có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu để tự chinh phục tri thức mới.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị “lăn lộn” để nhìn thấu đáo một bài toán. Khi đã ra được định hướng tốt nhất, “việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình”.
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là “thành tựu”, theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, khi nghiên cứu không đạt kỳ vọng ban đầu, chị quay lại “lục lọi”, đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được “thắp” thêm sự tự tin để đi tiếp.
Tới nay, chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp bộ. Mỗi nghiên cứu đều là “đứa con khoa học” mà chị dành nhiều tâm huyết, tiêu biểu là công trình phát triển công nghệ màng lọc MBR và AnMBR trong xử lý nước thải.
Theo chị Nga, công nghệ này có hiệu quả cao và mở ra nhiều tiềm năng ngoài xử lý và loại bỏ ô nhiễm. Nó giúp tái sử dụng nước cho những mục đích phi ăn uống (như nông nghiệp), đồng thời cho phép thu hồi những vật chất có ích để tái tạo sản phẩm phục vụ cuộc sống, ví dụ khí sinh học từ nguồn thải.
Trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, môi trường, chị Nga nhận định hành trình đưa kết quả từ phòng thí nghiệm tới thực tế là rất dài. Nó đòi hỏi nguồn lực lớn để triển khai trên quy mô rộng, cùng sự hợp lực từ các cơ quan nhà nước và ý thức doanh nghiệp để môi trường được đặt vào đúng vị thế quan trọng.
Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn cho một lĩnh vực đời sống rất quan trọng. Đây cũng là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu, cống hiến cho phát triển xanh, sạch và bền vững.
Chị Nga cho rằng chất lượng nước luôn là vấn đề quan trọng ở tất cả cấp độ phát triển của xã hội, nên những nghiên cứu về nó sẽ không bao giờ dừng lại. Nữ giảng viên dự định tiếp tục tìm hiểu ứng dụng công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán ngoài khả năng của công nghệ truyền thống.
Nhìn lại hành trình, chị Nga tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới chính là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
“Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua”, chị Nga tâm niệm.
Chị cũng tin rằng, trong những nghiên cứu kỹ thuật liên quan tới đời sống, các nhà khoa học nữ có lợi thế ở khả năng thấu cảm, sự phối hợp hài hòa trong nhóm nghiên cứu và khả năng nhìn nhận thấu đáo. Dù phải gánh vác nhiều trách nhiệm, đó cũng là cơ hội quý để rèn luyện nỗ lực, sự kiên trì và khả năng tổ chức công việc hiệu quả.
“Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công”, chị nói.
Liên quan vụ việc, sở này vừa ban hành công văn gửi đến UBND các phường: Gia Định, Bình Quới, Bình Thạnh, Thạnh Mỹ Tây, Bình Lợi Trung và các trường học nhận suất ăn công nghiệp từ Công ty H.P. - nơi cung cấp suất ăn cho Trường tiểu học Bình Quới Tây (phường Bình Quới, TP.HCM) cùng công ty này.
Theo chỉ đạo của UBND TP.HCM, sở có công văn gửi đến 5 phường, cung cấp danh sách các trường ở TP.HCM nhận suất ăn cùng công ty với Trường tiểu học Bình Quới Tây.
"Các trường đã chọn công ty khác cung cấp suất ăn cho học sinh. Còn Công ty H.P. đang được kiểm tra, kiểm tra mẫu lưu, điều tra dịch tễ. Khi nào có kết quả sở sẽ công bố", bà Lan thông tin.
Nội dung công văn liên quan đến việc chấn chỉnh công tác kiểm tra, giám sát an toàn vệ sinh thực phẩm tại các bếp ăn tập thể, đặc biệt là tại các cơ sở giáo dục nói chung và liên quan đến nghi ngộ độc thực phẩm tại Trường Bình Quới Tây nói riêng.
Sở An toàn thực phẩm TP.HCM đã lập đoàn điều tra tại trường và đoàn kiểm tra đột xuất về chấp hành quy định pháp luật về an toàn thực phẩm đối với Công ty H.P. - đơn vị cung cấp suất ăn cho học sinh trường tiểu học này.
Trong quá trình điều tra, xử lý, chờ xác định nguyên nhân sự cố, sở này đề nghị UBND các phường tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về an toàn thực phẩm đối với các trường học, đơn vị nhận suất ăn công nghiệp từ Công ty H.P..
Trước đó ngày 13-4, các trường THCS: Lam Sơn (phường Gia Định), Thanh Đa (phường Bình Quới), Bình Quới Tây (phường Bình Quới) đã tạm dừng ăn bán trú cho đến khi có thông báo tiếp theo.
Riêng Trường tiểu học Bình Quới Tây đã dừng ăn bán trú ngay từ ngày 9-4. Các trường này đều có cùng nhà cung cấp suất ăn là Công ty H.P..
Công văn của Sở An toàn thực phẩm TP.HCM có đính kèm danh sách 22 trường học, đơn vị nhận suất ăn từ Công ty H.P..
Phường Bình Quới có các trường: tiểu học Bình Quới Tây, THCS Bình Quới Tây, THCS Thanh Đa.
Phường Gia Định có Trường THCS Lam Sơn và các trường tiểu học: Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Lê Đình Chinh (CS1), Lê Đình Chinh (CS2), Lam Sơn và Trung tâm Trẻ mồ côi 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Phường Thạnh Mỹ Tây có Trường THCS Cửu Long và các trường tiểu học: Đống Đa, Phù Đổng, Thạnh Mỹ Tây.
Phường Bình Lợi Trung có Trường THPT Trần Văn Giàu cùng các trường tiểu học: Yên Thế, Nguyễn Bá Ngọc, Phan Văn Trị.
Phường Bình Thạnh có các trường tiểu học: Trần Quang Vinh, Tầm Vu, Ngôi Nhà Thông Thái.
Có một thực tế đáng suy nghĩ, theo nhiều thống kê và quan sát xã hội, rất ít học sinh THPT tham gia việc nhà thường xuyên.
Chúng tôi thử khảo sát sơ bộ trong gần 150 học sinh THPT (3 lớp học), thì thấy tỷ lệ học sinh không bao giờ biết tự ủi đồ đi học là rất lớn, khoảng từ 30 - 40%. Tỷ lệ tương tự với các việc như gặt đồ, quét nhà, rửa chén bát... Điều đó đặt ra một câu hỏi gia đình đang ở đâu trong việc giáo dục kỹ năng sống ở nhà cho con em?
Không ít phụ huynh quan niệm rằng nhiệm vụ chính của con là học, còn mọi việc khác đã có cha mẹ lo. Từ việc nhỏ như dọn dẹp phòng, rửa chén, đến những việc cần kỹ năng hơn như nấu ăn, quản lý chi tiêu… tất cả đều được người lớn "bao trọn". Sự hy sinh ấy xuất phát từ tình thương, nhưng lại tiềm ẩn một hệ quả lâu dài là con trẻ mất đi cơ hội học cách tự lập.
Trong khi đó theo các chuyên gia tâm lý giáo dục, lứa tuổi THPT là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trước khi bước vào đời. Việc thiếu kỹ năng sống không chỉ khiến các em gặp khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến khả năng thích nghi khi học xa nhà, đi làm hoặc xây dựng cuộc sống riêng sau này. Đáng nói hơn, nhiều em hình thành tâm lý ỷ lại, thụ động. Khi mọi thứ đã có người khác làm thay, các em không còn nhu cầu học hỏi hay chịu trách nhiệm cho chính cuộc sống của mình.
Nhiều phụ huynh nghĩ rằng làm việc nhà sẽ ảnh hưởng đến việc học. Tuy nhiên, theo quan điểm người viết bài thì ngược lại. Học sinh biết chia sẻ việc nhà thường có ý thức trách nhiệm cao hơn, kỹ năng quản lý thời gian tốt hơn và tinh thần tự lập rõ rệt hơn.
Giúp việc nhà, nếu được phân bổ hợp lý, không hề lấy đi thời gian học tập mà còn giúp học sinh hiểu giá trị của lao động, rèn luyện tính kỷ luật và kiên trì, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề trong đời sống thực tế. Một học sinh biết tự nấu ăn, tự giặt giũ, tự sắp xếp không gian sống… cũng chính là một người đang học cách làm chủ bản thân. Đó là những bài học không có trong sách giáo khoa, nhưng lại theo các em suốt đời.
Nhà trường dạy kiến thức, xã hội có thể tạo môi trường, nhưng chính gia đình mới là nơi đặt nền móng cho thói quen và kỹ năng sống. Trẻ em không tự nhiên biết làm việc nhà, mà các em học bằng cách quan sát và được hướng dẫn. Nếu cha mẹ luôn làm thay, hoặc không giao việc cụ thể, trẻ sẽ không hình thành được ý thức trách nhiệm. Ngược lại, những gia đình biết cách giáo dục con thông qua việc nhà sẽ giao việc phù hợp với độ tuổi (rửa chén, quét nhà, nấu ăn đơn giản…); không làm thay khi con có thể tự làm; kiên nhẫn hướng dẫn thay vì trách mắng khi con làm chưa tốt; xem việc nhà là trách nhiệm chung, không phải "giúp đỡ" cha mẹ. Và chính trong không gian gia đình, những kỹ năng tưởng chừng nhỏ bé ấy dần tích lũy thành năng lực sống bền vững.
Đừng đợi đến khi con rời nhà mới dạy con tự lập. Nếu gia đình không chuẩn bị từ sớm, con trẻ sẽ phải học những bài học cơ bản nhất trong hoàn cảnh bị động và áp lực hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu ngay từ khi còn ở nhà, các em đã được rèn luyện từng chút một, thì khi bước ra đời, các em sẽ tự tin, chủ động và thích nghi nhanh hơn.
Thực ra không thiếu những bài học từ sách vở, nhà trường (cả sách chương trình cũ và mới) đã dạy học sinh những kỹ năng sống. Từ thời nhỏ các em đã biết đến các bài thơ giản dị như về việc đánh răng; việc "Quạt cho bà ngủ" (tên bài thơ của Thạch Quý) là hành động nhỏ nhưng đầy tình cảm, dạy trẻ biết chăm sóc người thân, biết quan tâm.
Sách giáo khoa cũng dạy bé biết phụ giúp việc nhỏ trong nhà trong bài Tí Xíu (Ngô Văn Phú); giúp trẻ quan sát lao động để hiểu giá trị lao động chân chính trong bài tập đọc Bố làm thợ mộc (Ngô Quân Miện); hoặc văn bản tập đọc Đẹp mà không đẹp dạy trẻ biết giữ gìn không gian công cộng sạch đẹp...
Những bài học nói trên không chỉ dạy chữ mà còn dạy cách sống bằng những hình ảnh giản dị, gần gũi.
Chỉ tiếc rằng giữa sách vở, lý thuyết nhà trường và ứng dụng thực tế còn khoảng cách khá xa. Để lấp đầy khoảng cách này cần sự sẵn sàng hợp sức của cha mẹ học sinh.
Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.