Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất “đời thường” – làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận – liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần “học nhiều hơn”, mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.
Sau 30 năm hình thành và phát triển, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 do Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong khởi xướng không chỉ trở thành sân chơi tri thức uy tín của học sinh mà còn chính thức được xác lập kỷ lục Việt Nam vào hôm nay, 5.4, với dấu ấn là kỳ thi có lịch sử tổ chức lâu năm, liên tục, do một trường THPT sáng lập và tổ chức.
Tại lễ tổng kết và phát thưởng, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) đã chính thức xác lập kỷ lục đến Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong với nội dung: Kỳ thi Olympic truyền thống 30 tháng 4: Kỳ thi học sinh giỏi dành cho học sinh chuyên lớp 10,11 do một trường THPT khởi xướng tổ chức thường niên liên tục và lâu năm nhất tại Việt Nam.
Được thành lập từ năm 1927 với tiền thân là Collège Petrus Ký, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là một trong những cơ sở giáo dục có lịch sử lâu đời và giàu truyền thống bậc nhất tại TP.HCM. Không chỉ dừng lại ở thành tích học tập xuất sắc, nhà trường còn là đơn vị tiên phong tổ chức nhiều hoạt động học thuật quy mô lớn, trong đó nổi bật nhất là Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4.
Ra đời từ năm 1995, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 là sáng kiến của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong nhằm tạo nên một sân chơi tri thức dành cho học sinh chuyên lớp 10 và lớp 11.
Từ một kỳ thi quy mô nhỏ với 15 đoàn và 109 thí sinh, Olympic 30/4 đã nhanh chóng phát triển thành sự kiện thường niên có quy mô lớn. Đây được xem là sân chơi học thuật uy tín, nơi các đội tuyển đến từ các trường THPT chuyên trên toàn quốc có cơ hội giao lưu, cọ xát, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa các thầy cô đồng thời nâng cao năng lực học tập của học sinh. Bên cạnh đó, cuộc thi còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng và phát triển những học sinh tiềm năng, làm nền tảng để thành lập các đội tuyển tham gia các kỳ thi lớn hơn.
Đến năm 2026, kỳ thi lần thứ 30 quy tụ 131 đoàn với khoảng 3.829 thí sinh tham dự, cho thấy sức hút ngày càng mạnh mẽ và vị thế ngày càng được khẳng định của kỳ thi.
Trải qua 30 năm, kỳ thi đã trở thành "bệ phóng" cho nhiều học sinh trước khi bước vào các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế. Không ít thí sinh từng tham dự đã tiếp tục đạt thành tích cao, đóng góp vào nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Với TP.HCM, đây là một hoạt động học thuật tiêu biểu, góp phần củng cố vị thế trung tâm giáo dục của cả nước. Trên bình diện rộng hơn, mô hình Olympic 30/4 đã tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy phong trào học tập và kết nối hệ thống các trường chuyên trên toàn quốc.
Phát biểu tại lễ tổng kết, bà Phạm Thị Bé Hiền, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đã điểm qua quá trình hình thành và phát triển của cuộc thi; tri ân Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo qua các thời kỳ đã có công sáng lập kỳ thi. Cô chia sẻ: "Có những giai đoạn vì dịch bệnh, kỳ thi buộc phải tạm dừng nhưng tinh thần của kỳ thi chưa bao giờ gián đoạn, nhờ sự ủng hộ, chỉ đạo sát sao của Sở GD-ĐT TP.HCM, sự quyết tâm của lãnh đạo nhà trường; sự kiên trì, trách nhiệm và ngọn lửa đam mê trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của các thầy cô đã giúp kỳ thi giữ vững giá trị và niềm tin... Olympic truyền thống 30/4 không chỉ là một kỳ thi mà là một phần ký ức được gìn giữ, một phần truyền thống được tiếp nối và là niềm tự hào lớn lao của các thế hệ thầy và trò suốt 30 năm".
Phát biểu trước khi công bố quyết định trao tặng Kỷ lục Việt Nam, bà Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc, Tổng thư ký Hội đồng Xác lập Kỷ lục Việt Nam, cho biết: "Việc Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 được xác lập Kỷ lục Việt Nam là sự ghi nhận xứng đáng cho hành trình 30 năm bền bỉ của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong. Đây không chỉ là sự tôn vinh, mà còn là minh chứng cho giá trị thực tiễn của một mô hình giáo dục hiệu quả, góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời xây dựng môi trường học tập tích cực, truyền cảm hứng. Chúng tôi tin tưởng rằng, trên nền tảng đã được xây dựng, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 sẽ tiếp tục phát triển, thích ứng và lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, đóng góp tích cực cho sự nghiệp giáo dục của TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung".
Ngày 4-4, tại tỉnh Vĩnh Long, Trường đại học Trà Vinh đã tổ chức lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường đại học Trà Vinh thành Đại học Trà Vinh.
Phó thủ tướng Lê Thành Long ký quyết định chuyển Trường đại học Trà Vinh thành Đại học Trà Vinh. Như vậy, Đại học Trà Vinh là cơ sở giáo dục đại học thứ 13 của cả nước.
Đây là bước ngoặt quan trọng, khẳng định năng lực phát triển bền vững, bước phát triển mới của nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Đại học Trà Vinh là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc UBND tỉnh Vĩnh Long. Trường đại học Trà Vinh được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập ngày 19-6-2006 trên cơ sở Trường cao đẳng Cộng đồng (thuộc Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam - Canada), trở thành một trong những trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Năm 2026, Trường đại học Trà Vinh tuyển sinh 10 ngành ở bậc tiến sĩ, 20 ngành ở bậc thạc sĩ, 9 chuyên khoa cấp I, 1 chuyên khoa cấp II, và 49 ngành đào tạo ở bậc đại học thuộc nhiều lĩnh vực như nông nghiệp - thủy sản; kỹ thuật công nghệ; ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật Khmer Nam Bộ và nhân văn; khoa học sức khỏe, kinh tế - luật - logistics - quản trị; sư phạm, hóa ứng dụng, ngoại ngữ, du lịch, công nghệ sinh học và môi trường…
Trong đó, trường mở thêm hai ngành mới là tâm lý học và công nghệ nông nghiệp.
Hiện Đại học Trà Vinh có các trường thành viên gồm: Trường Kinh tế - Luật; Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn; Trường Y dược cùng với Bệnh viện Đại học Trà Vinh; Trường Kỹ thuật Công nghệ và Trường Thực hành sư phạm.
Đại học Trà Vinh có 27 chương trình đào tạo đạt kiểm định chất lượng quốc tế theo các tiêu chuẩn uy tín như FIBAA (Châu Âu), AUN-QA (Đông Nam Á) và ABET (Hoa Kỳ), đưa Đại học Trà Vinh vào nhóm các trường đại học có số chương trình đạt kiểm định quốc tế hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại buổi lễ, Đại học Trà Vinh đã công bố quyết định thành lập Hội đồng chiến lược gồm 10 thành viên. GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM làm cố vấn cấp cao Hội đồng chiến lược. GS.TS Phạm Tiết Khánh làm Chủ tịch Hội đồng chiến lược của Đại học Trà Vinh.
Đồng thời, UBND tỉnh Vĩnh Long công bố quyết định thành lập Ban giám đốc Đại học Trà Vinh, PGS.TS Nguyễn Minh Hòa được bổ nhiệm làm giám đốc, cùng 3 Phó giám đốc là TS Phan Quốc Nghĩa; PGS.TS Diệp Thanh Tùng và TS Thạch Thị Dân.
Phát biểu tại buổi lễ, bà Hồ Thị Hoàng Yến - Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long - nhấn mạnh việc chuyển đổi thành Đại học Trà Vinh không chỉ là thay đổi về tổ chức mà là bước chuyển mang tính chiến lược về mô hình phát triển, phương thức quản trị và sứ mệnh.
Nhà trường phải phát triển toàn diện, vừa đào tạo, vừa nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức, gắn chặt với yêu cầu thực tiễn của địa phương và vùng.
Đại học Trà Vinh cần chuyển mạnh từ tư duy "đào tạo cái mình có sang đào tạo cái xã hội cần", từ truyền thụ kiến thức sang kiến tạo tri thức và dẫn dắt đổi mới sáng tạo; đồng thời trở thành hạt nhân kết nối giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - xã hội.
Quyết định chuyển thành Đại học Trà Vinh tạo nền tảng vững chắc để mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên cứu khoa học, đồng thời hình thành hệ thống các trường thành viên, viện, trung tâm theo mô hình đại học hiện đại.
Từ đó, nâng cao hiệu quả tự chủ đại học, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phụng sự cộng đồng hướng đến người học thành công, trường học hạnh phúc, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long nói riêng, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước nói chung.
Trường tiểu học và trung học Sasayama, từng nổi tiếng với tên gọi dài nhất tại Nhật Bản, đã chính thức đóng cửa từ đầu tháng 4, khép lại lịch sử hơn 70 năm, do số lượng học sinh theo học ngày càng ít.
Tên chính thức của trường là “Trường tiểu học và trung học cơ sở Sasayama thuộc Liên hiệp các trường tiểu học và trung học Sasayama do thị trấn Ainan, quận Minamiuwa, tỉnh Ehime và thành phố Sukumo, tỉnh Kochi quản lý” (tên gọi tắt là Trường tiểu học và trung học Sasayama). Ngôi trường này nổi tiếng vì có tên dài nhất tại Nhật Bản.
Ngôi trường tọa lạc ở thị trấn Ainan, tỉnh Ehime, sát con sông Shinogawa là ranh giới giữa hai tỉnh Ehime và tỉnh Kochi. Cách đây 70 năm, cư dân ở thị trấn hai bên bờ sông thường xuyên qua lại và cùng nhau thống nhất thành lập trường trung học vào năm 1949, trường tiểu học vào năm 1952 và đặt tên gọi mang dấu ấn của cả hai địa phương.
Theo thông lệ của trường, học sinh sau khi nhập học đều phải thường xuyên luyện đọc tên trường trong các giờ ra chơi đến khi thuộc lòng.
Mặc dù với những người khác việc đọc tên trường quá dài là một phiền toái, nhưng đối với không ít cựu học sinh của trường thì đây lại là niềm tự hào, là “điểm nhấn” khi giới thiệu về bản thân.
Vào thời kỳ cao điểm nhất là cuối những năm 50 của thế kỷ trước, trường có khoảng 300 học sinh theo học, nhưng sau đó số lượng giảm dần. Đến năm học 2025 chỉ còn 9 học sinh, trong đó có 3 học sinh tiểu học và 6 học sinh trung học.
Điều này khiến việc duy trì vận hành trường gặp nhiều khó khăn.
Hiện phía tỉnh Kochi không còn học sinh nào theo học và từ tháng 4, các học sinh còn lại của trường sẽ chuyển sang các trường khác trong thị trấn Ainan, với khoảng 110 học sinh tiểu học và 60 học sinh trung học.
Việc đóng cửa ngôi trường nhiều năm tuổi để lại không ít tiếc nuối cho những người dân từng gắn bó từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên điều này cũng phản ánh một thực trạng tỉ lệ sinh giảm ngày càng nghiêm trọng tại Nhật Bản, đặc biệt là tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, khiến nhiều trường học khó duy trì đủ số lượng học sinh cần thiết và buộc phải sáp nhập với các trường khác.