Mục Lục
ToggleNgày 7.4, Trường đại học Y dược Cần Thơ cho biết, vừa công bố thông tin tuyển sinh năm 2026 với 2.854 chỉ tiêu; trong đó 2.460 hệ chính quy, 394 chỉ tiêu hệ liên thông và văn bằng 2.
Trường tiếp tục duy trì 14 ngành đào tạo chính quy, trong đó ngành y khoa chiếm số lượng lớn nhất với 1.030 chỉ tiêu, theo sau là dược học với 200 chỉ tiêu và răng hàm mặt với 170 chỉ tiêu. Đối tượng tuyển sinh gồm thí sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông, đảm bảo các tiêu chuẩn về sức khỏe cũng như thí sinh người nước ngoài có nguyện vọng theo học tại môi trường giáo dục y tế hàng đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Nhà trường áp dụng 5 phương thức xét tuyển đại học. Cụ thể như sau:
Bên cạnh hệ chính quy, Trường đại học Y dược Cần Thơ còn tuyển sinh hệ liên thông và văn bằng 2 với tổng số 394 chỉ tiêu cho 10 ngành đào tạo như y khoa, y học cổ truyền, dược học và điều dưỡng, hộ sinh… Thí sinh dự tuyển hệ liên thông có thể lựa chọn nhiều phương thức linh hoạt như xét kết quả thi tốt nghiệp, thi bổ trợ kết hợp học bạ lớp 12, hoặc xét kết quả học tập bậc trung cấp và cao đẳng… Đặc biệt, chương trình văn bằng 2 ngành dược học và y học dự phòng sẽ ưu tiên xét tuyển dựa trên điểm trung bình tích lũy toàn khóa của bậc đại học đã tốt nghiệp.
Mức học phí dự kiến cho năm học 2026 tại Trường đại học Y dược Cần Thơ có sự phân hóa theo từng ngành học và hệ đào tạo. Đối với sinh viên đại học chính quy, học phí dao động từ khoảng 50,1 triệu đồng đến 71,05 triệu đồng mỗi năm, trong đó hai ngành y khoa và dược học có mức thu cao nhất.
Đối với hệ liên thông và văn bằng 2, học phí dự kiến cao hơn, nằm trong khoảng từ 60,1 triệu đồng đến 85,26 triệu đồng mỗi năm tùy theo chuyên ngành.

Hồi tháng 3, GS Nga – Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật, giảng viên trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia dành cho các nhà khoa học nữ xuất sắc.
"Đây là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm", chị Nga nói.
Là nữ giáo sư duy nhất của ngành Xây dựng được công nhận từ năm 2014 đến nay, hướng nghiên cứu của chị Nga tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
Chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp Bộ. GS Nga cũng đang chủ trì dự án SATREPS với vốn ODA của Nhật Bản để phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm cho Việt Nam.
Cùng đó là dự án Phục hồi hệ thống sông nội đô (sông Tô lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu). Nhóm của chị đã xem xét các nguồn nước trong lưu vực sông, bao gồm nước mặt, nước ngầm tầng nông, nước mưa và nước thải sau xử lý, qua đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật để kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái.
Hành trình dấn thân vào những bài toán hóc búa ở đô thị của chị Nga mang bóng dáng người bố - GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước.
Được thừa hưởng tinh thần học tập và niềm say mê khoa học, năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam quyết định thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội. Mong muốn của chị là tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời theo đuổi.
Ở đây, chị nhận ra ngành kỹ thuật cấp thoát nước không chỉ có những con số khô khan mà là sự giao thoa giữa kỹ thuật và xã hội, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp nhờ tư duy logic về kỹ thuật đã được rèn giũa từ bé. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Năm 1996, sau khi tốt nghiệp xuất sắc, chị lên đường sang Thái Lan học thạc sĩ, rồi chinh phục tấm bằng tiến sĩ tại Đại học Tokyo – ngôi trường số 1 Nhật Bản. Trước những lời "cảnh báo" rằng ngành này quá nặng nhọc với phụ nữ, chị không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
"Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực", chị Nga tâm niệm.
Chị Nga sau đó làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Nữ giáo sư nhìn nhận mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều đòi hỏi có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu của đề bài.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị "lăn lộn" để nhìn thấu đáo vấn đề. Khi đã ra được định hướng, "việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình".
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là "thành tựu", theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, mỗi khi kết quả không đạt kỳ vọng, chị cần mẫn quay lại "lục lọi", đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được "thắp" thêm sự tự tin để đi tiếp.
Chị Nga là người tiên phong ở Việt Nam nghiên cứu công nghệ màng lọc kỵ khí (AnMBR) để xử lý nước thải, phù hợp với khí hậu Việt Nam.
Điểm đặc biệt của công nghệ này không chỉ nằm ở việc làm sạch nguồn nước mà còn mở ra nhiều tiềm năng: tái sử dụng nước cho nông nghiệp hay thu hồi những vật chất có ích (như khí sinh học) để phục vụ cuộc sống.
Chị Nga nhìn nhận hành trình đưa nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thực tế rất dài, đòi hỏi sự kiên trì của người làm nghề và sự chung tay của cả cộng đồng. Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu về phát triển xanh, sạch và bền vững.
Sau 30 năm "lăn lộn" với những bài toán khó, chị Nga đánh giá chất lượng nước sẽ luôn là vấn đề sống còn của xã hội. Chị dự định tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán mà phương pháp truyền thống chưa thể chạm tới.
Nhìn lại chặng đường đã qua, nữ giáo sư tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
"Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua", chị Nga tâm niệm.
Chị cũng nhìn nhận phụ nữ có những lợi thế riêng trong ngành kỹ thuật nhờ sự thấu cảm, khả năng phối hợp hài hòa và nhìn nhận thấu đáo.
"Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công", chị nói.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Sau 8 năm, quy mô thi đánh giá năng lực 'phình to' tới mức nào?

ĐH Quốc gia TP.HCM ngày 15.4 công bố phổ điểm kỳ thi đánh giá năng lực (V-ACT) đợt 1 năm nay của 133.483 thí sinh hợp lệ. Số lượng thí sinh đợt 1 cũng tiếp tục lập kỷ lục mới trong lịch sử tổ chức, dù tốc độ tăng trưởng của năm nay không tăng đáng kể nếu so với các năm bùng nổ là 2021 (tăng hơn 44.000 thí sinh so với cùng đợt năm trước), 2025 (tăng hơn 32.000) và 2019 (tăng gần 29.000).
Trong đó, 2021 là năm Covid-19 bùng phát khắp Việt Nam đặc biệt tại các tỉnh, thành phía nam; 2025 là năm đầu tiên học sinh lớp 12 thi tốt nghiệp THPT theo chương trình mới và cũng là năm V-ACT đổi mới cấu trúc đề thi; và 2019 đánh dấu V-ACT từ một kỳ thi nội bộ dùng để xét tuyển trong các trường thành viên ĐH Quốc gia TP.HCM trở thành một phương thức tuyển sinh được các trường ngoài hệ thống này công nhận.
Ngoài các mốc tăng trưởng mạnh mẽ kể trên, các năm còn lại ghi nhận tốc độ tăng ổn định trong đợt 1, dao động từ vài ngàn đến hơn chục ngàn thí sinh. Mức thấp nhất được ghi nhận vào năm 2024 khi chỉ tăng hơn 5.700 thí sinh, tuy nhiên nếu xét về tỷ lệ tăng chậm nhất thì năm 2026 khi chỉ tăng 5,7%. Riêng 2020 là năm duy nhất ghi nhận số lượng thí sinh giảm, cũng là năm bắt đầu xuất hiện những ca Covid-19 đầu tiên ở nước ta.
Nhìn chung số thí sinh dự thi đợt 1 năm nay cao gấp 30 lần so với năm đầu tiên tổ chức và tương đương khoảng 1/9 số thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT. Con số này cũng vượt tổng số thí sinh thi HSA của ĐH Quốc gia Hà Nội - vốn dự kiến có 120.000 lượt thi sau 6 đợt (mỗi thí sinh được đăng ký tối đa 2 lượt thi mỗi năm - PV).
Việc chúng tôi chọn đợt 1 làm mốc đối sánh xuất phát từ thực tế có một số năm V-ACT chỉ tổ chức một đợt thi là 2022, 2021 (hủy hay không tổ chức đợt 2 vì Covid-19) và 2018 (năm đầu tiên tổ chức); cũng như không ít thí sinh đợt 1 sẽ tiếp tục dự thi đợt 2 để cải thiện điểm số. Vì thế, dữ liệu về số thí sinh thi đợt 1 là chỉ dấu phù hợp để đảm bảo tính đồng nhất và đo lường sát sườn sức hút ban đầu của kỳ thi ở từng năm.
Một trong những lý do thúc đẩy sự phổ biến của V-ACT là việc ngày càng nhiều cơ sở giáo dục ĐH công nhận kết quả và sử dụng điểm kỳ thi này trong quá trình tuyển sinh. Từ 7 đơn vị công nhận trong nội bộ ĐH Quốc gia TP.HCM ở năm đầu tổ chức, đến nay số trường đã tăng hơn 16 lần, lên 118 ĐH, CĐ trên cả nước. Đáng chú ý, trong số này có sự xuất hiện của nhiều trường quân đội cũng như các trường danh tiếng phía bắc.
Quy mô địa phương tổ chức thi V-ACT cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới sức lan tỏa của kỳ thi, khi tạo điều kiện cho đông đảo thí sinh tiếp cận. Từ vài đô thị trung tâm như TP.HCM, Cần Thơ và Quy Nhơn vào năm 2018, kỳ thi ngày càng mở rộng độ phủ, lên đến 17 địa phương vào năm 2022. Bản đồ tổ chức thi tiếp tục mở rộng thêm 4 tỉnh nữa vào năm 2023, sau đó tăng 3 tỉnh vào năm 2024 trong đó có Thừa Thiên - Huế.
Điều này đã đánh dấu bước tiến nổi bật của V-ACT trên dải miền Trung sau nhiều năm Đà Nẵng là điểm đến xa nhất về phía bắc.
Tới năm 2025, kỳ thi lần đầu đặt chân tới Cà Mau - điểm cực nam của Tổ quốc - giúp nâng tổng số tỉnh, thành tổ chức thi lên 25. Thời điểm này, chỉ còn Kon Tum, Gia Lai, Đắk Nông, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Hậu Giang là chưa có điểm thi V-ACT nào. Đến năm 2026, sau sáp nhập địa giới hành chính, kỳ thi này đã chính thức được phủ khắp tất cả địa phương từ Huế trở vào nam.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, việc kỳ thi hoàn toàn kiểm tra thí sinh dựa trên năng lực học thuật, tư duy như SAT, ACT chứ không phải năng lực thuộc lòng; lệ phí thi ở mức vừa phải (360.000 đồng vào năm 2026); hay việc có một phương án khác để vào ĐH song song với xét tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT... cũng là những động lực quan trọng thúc đẩy thí sinh tìm tới V-ACT những năm qua.
Những yếu tố nêu trên góp phần đưa V-ACT, trước đó có tên tiếng Anh viết tắt là APT, trở thành kỳ thi quan trọng hàng đầu với sĩ tử miền Nam vào mỗi mùa tuyển sinh, kéo theo đó là một thị trường luyện thi sôi động và đa dạng: từ trực tiếp đến trực tuyến, từ dạy live đến bán video quay sẵn, từ tài liệu nội bộ đến sách tham khảo được phát hành công khai...
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Tòa án điện tử cần một thế hệ nhân lực mới vừa biết luật, vừa biết công nghệ

Ngày 10-4, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM phối hợp cùng Tòa án nhân dân khu vực 1 - TP.HCM tổ chức tọa đàm "Tòa án điện tử trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam".
PGS.TS Ngô Hữu Phước, Phó trưởng khoa phụ trách khoa luật kinh tế, Trường đại học Kinh tế - Luật, cho rằng tòa án điện tử cần được nhìn nhận như một mô hình vận hành tư pháp mới, trong đó toàn bộ quy trình tố tụng được thiết kế lại trên nền tảng số.
Theo ông, tòa án điện tử có thể chia thành ba cấp độ gồm số hóa dữ liệu, thực hiện các giao dịch tố tụng trực tuyến và cấp độ cao nhất là tái cấu trúc toàn diện theo nguyên tắc "digital by design" (tạm dịch: thiết kế số ngay từ đầu).
Ở cấp độ cuối cùng, công nghệ đi vào lõi vận hành của tòa án, từ quản lý dữ liệu, kết nối liên thông, hỗ trợ tra cứu, cho tới ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các tác vụ tư pháp.
Theo ông, muốn xây dựng tòa án điện tử thì phải có khung pháp lý đồng bộ, hạ tầng công nghệ đủ mạnh, dữ liệu được chuẩn hóa và bảo mật.
Quan trọng hơn cả, đội ngũ thẩm phán, thư ký, cán bộ tư pháp phải được đào tạo bài bản về năng lực số, từ kỹ năng vận hành hệ thống đến khả năng đánh giá chứng cứ điện tử, tổ chức phiên tòa trực tuyến và xử lý các tình huống phát sinh trong môi trường số.
Ông Nguyễn Cao Trí, Tòa án nhân dân khu vực 1 - TP.HCM, chia sẻ một trong những chuyển động rõ nhất là quá trình từng bước số hóa quy trình tố tụng, từ tiếp nhận đơn, quản lý hồ sơ cho đến tổ chức xét xử.
Nhờ sử dụng phần mềm quản lý án, hệ thống lưu trữ dữ liệu điện tử và các công cụ hỗ trợ điều hành, thời gian xử lý, hạn chế sai sót và tăng khả năng theo dõi tiến độ giải quyết vụ việc đã giảm đáng kể.
Một khó khăn được ông Trí nhấn mạnh là yếu tố con người. Theo ông, không phải cán bộ nào cũng sẵn sàng thích ứng ngay với môi trường làm việc số, trong khi kỹ năng công nghệ thông tin giữa các vị trí còn chưa đồng đều.
Vì vậy xây dựng tòa án điện tử cần đi cùng chiến lược đào tạo liên tục, giúp đội ngũ thẩm phán, thư ký và cán bộ tư pháp vừa sử dụng thành thạo công cụ, vừa thay đổi tư duy làm việc theo hướng phù hợp với mô hình tư pháp số.

