Nguyễn Khánh Linh (25 tuổi), trọ ở chung cư Opal Garden (P.Hiệp Bình, TP.HCM; trước đây là P.Hiệp Bình Chánh, TP.Thủ Đức, TP.HCM). Linh cho biết thuê căn hộ này với giá 7,5 triệu đồng. Mỗi tháng, ngoài tiền thuê, Linh còn phải trả tiền điện, nước, chi phí khác… với khoảng hơn 2 triệu đồng. Điều đáng nói, Linh cho biết dù chi gần chục triệu đồng mỗi tháng như vậy nhưng thuê phòng trọ chỉ để ngủ hàng đêm. Còn ban ngày, Linh đi làm.
“Có những khi đi công tác 5, 6 ngày. Lắm lúc tôi về quê. Có tháng chỉ ở được 18 – 20 ngày. Nói là ở nhưng thực tế chỉ để ngủ tới sáng dậy đi làm”, Linh kể.
Trần Anh Tuấn (28 tuổi), trọ ở chung cư Ehome 3 (P.An Lạc, TP.HCM; trước là P.An Lạc, Q.Bình Tân, TP.HCM) cũng có chung câu chuyện. Tuấn cho biết: “Tôi gần như không sống ở chung cư. Chỉ để ngủ thôi”.
Tuấn kể căn hộ thuê rộng 67m², có ban công, máy lạnh, bếp nhỏ, giá thuê 7 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên hàng ngày chỉ sử dụng nó như một “khách sạn dài hạn”: tối về ngủ, sáng rời đi.
Theo Tuấn, căn hộ chỉ là nơi chốt lại một ngày. Tuấn cho biết lịch trình lặp lại đều đặn: 7 giờ sáng rời căn hộ, ăn sáng ở ngoài. 8 giờ vào công ty. Trưa đi ăn cùng đồng nghiệp. Chiều tan làm lại ghé quán cà phê gặp bạn bè, đối tác. Tối đi tập gym hoặc chơi thể thao. “Đến khi quay về phòng, thường đã gần 22 giờ. Mỗi ngày tôi ở căn hộ chắc tầm 6 – 7 tiếng, mà chủ yếu là ngủ. Có hôm bận quá, về chỉ kịp tắm rồi đi ngủ”, Tuấn kể.
Hà Thị Thanh Nhàn (26 tuổi), trọ ở chung cư The Emerald Golf View Bình Dương (P.Lái Thiêu, TP.HCM; trước là P.Lái Thiêu, TP.Thuận An, Bình Dương), cho biết mỗi tháng thuê phòng giá 5,5 triệu đồng. Chi phí bảo trì, tiền điện, nước, rác, dịch vụ khác… thêm 3 triệu đồng. Trong phòng đầy đủ bếp, máy giặt, máy lạnh…
“Nhưng suốt nửa năm ở đây, tôi chỉ sử dụng bếp vài lần. Nhiều đồ đạc khác trong phòng cũng chưa đụng đến. Cửa ra ban công hiếm khi được mở. Có lúc tôi nghĩ, tôi bỏ ra gần 9 triệu đồng mỗi tháng mà dùng chưa tới 30% giá trị của nó”, Nhàn nói.
Những câu chuyện như vừa kể khá nhiều. Chị Đặng Thị Thùy Hoa (32 tuổi, ngụ ở 109 Trần Khắc Chân, P.Đức Nhuận, TP.HCM; trước là P.9, Q.Phú Nhuận, TP.HCM), cho biết ban ngày làm việc tại công ty hoặc quán cà phê. Cuối tuần, chị thường về quê hoặc đi chơi xa. “Có tháng tôi ở phòng chắc chưa tới 10 ngày. Nhưng vẫn phải trả đủ tiền là 7 triệu đồng”, chị Hoa nói.
Chị Hoa cho rằng việc “ít ở phòng trọ” không hẳn là lãng phí, mà là lựa chọn phù hợp với nhịp sống. “Tôi gần như “sống ngoài đường” suốt cả ngày. Ở ngoài tôi có nhiều năng lượng hơn. Ở phòng dễ bị ì, lười, buồn ngủ”, chị Hoa chia sẻ.
Đặng Ánh Quỳnh (27 tuổi, trọ ở 200 Nguyễn Đình Chính, P.Phú Nhuận, TP.HCM; trước đây là P.11, Q.Phú Nhuận, TP.HCM) cho biết chọn học bài ở thư viện, làm việc nhóm ở quán cà phê, ăn uống ở ngoài. Phòng trọ chỉ là nơi để “ngả lưng”.
“Tôi không thấy tiếc tiền. Vì nếu ở phòng nhiều, có khi tôi lại tiêu cực hơn. Với tôi, phòng trọ như là “nơi sạc pin”. Công việc của tôi cần giao tiếp nhiều, nên tôi thích ra ngoài. Phòng trọ là không gian để nghỉ ngơi, tách khỏi thế giới”, Quỳnh nói và cho rằng: “Việc trả tiền cho một không gian yên tĩnh, riêng tư, dù chỉ dùng vài tiếng mỗi ngày vẫn đáng giá”.
Ở góc nhìn của người cho thuê trọ, anh Nguyễn Hoài Việt (37 tuổi, chủ khu trọ ở đường Linh Trung, P.Linh Xuân, TP.HCM; trước là P.Linh Trung, TP.Thủ Đức, TP.HCM), cho biết xu hướng này đang phổ biến hơn.
Anh Việt nói: “Khách thuê đa phần là dân văn phòng trẻ. Họ đi suốt ngày, tối mới về. Có người cả tuần không thấy mặt. Chính điều này khiến mô hình phòng trọ ngày càng giống “khách sạn dài hạn”. Đó là có nội thất đầy đủ, dịch vụ tiện nghi nhưng ít sự gắn bó lâu dài. Khách thuê trọ không cần không gian sinh hoạt nhiều, họ cần sự tiện lợi và riêng tư”.
Cũng theo anh Việt, có một nghịch lý là càng đầu tư phòng đẹp, tiện nghi, người thuê lại càng… ít sử dụng. “Có phòng trang bị bếp xịn, máy giặt mới, nhưng khách không dùng. Họ ăn ngoài, giặt ngoài hết”, anh Việt nói.
Theo các chuyên gia, hiện tượng này phản ánh sự thay đổi trong cách người trẻ định nghĩa “nơi ở”.
Thạc sĩ tâm lý Huỳnh Hải Huy, Trung tâm tư vấn tâm lý Inner Light (P.Chợ Quán, TP.HCM; trước là P.2, Q.5, TP.HCM), cho rằng: “Không gian sống của người trẻ đang bị “phân mảnh”. Thay vì gói gọn trong một căn phòng, các nhu cầu được tách ra. Như làm việc ở công ty hoặc không gian làm việc chung, gặp gỡ ở quán cà phê, giải trí ở trung tâm thương mại… Phòng trọ chỉ còn chức năng nghỉ ngơi. Nó không còn là “trung tâm đời sống” như trước”, ông Huy phân tích và nói thêm: “Bên cạnh đó, áp lực công việc và nhịp sống nhanh khiến nhiều người không còn thời gian để sống trong phòng trọ. Việc về phòng sớm, nấu ăn, nghỉ ngơi đôi khi bị một bộ phận người trẻ xem là lãng phí thời gian”.
Chuyên gia xã hội học Lưu Thị Huyền Trân, Trung tâm tâm lý ứng dụng Mind Talk Space (P.Cát Lái, TP.HCM; trước là P.Cát Lái, TP.Thủ Đức, TP.HCM), khuyến nghị người trẻ nên cân nhắc lại mối quan hệ với không gian sống, tức nơi thuê để ở.
“Cần tái định nghĩa phòng trọ. Không chỉ là nơi ngủ, mà nên là nơi phục hồi năng lượng. Điều này có thể bắt đầu từ những thay đổi nhỏ như: nấu ăn vài bữa mỗi tuần, trang trí không gian theo sở thích, dành thời gian “ở nhà” có chủ đích. Cũng nên cân đối chi tiêu. Nếu thời gian sử dụng phòng quá ít, có thể xem xét thuê phòng nhỏ hơn, ở ghép…”, bà Trân nói.
Ở miền Tây, sa kê là loài cây quen thuộc, nhưng thường chỉ để che bóng mát và người dân chủ yếu dùng trái làm bánh chứ chưa khai thác nhiều. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đánh giá sa kê có tiềm năng thành cây lương thực trong tương lai và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhận thấy tiềm năng này, nhóm sinh viên Trường ĐH FPT Cần Thơ đã bắt tay làm trà và sữa gạo sa kê. Nhóm gồm 5 thành viên: Trương Tử Hoài Ngọc (trưởng nhóm), Trần Thị Loan Anh, Nguyễn Văn Nghĩa, Phạm Duy Phương và Phạm Thị Anh Thư.
Hoài Ngọc cho biết để tạo ra những sản phẩm chất lượng, nhóm đã dành nhiều thời gian nghiên cứu quy trình chế biến công phu. Với sản phẩm trà, thay vì dùng lá xanh vốn chứa nhiều mủ, nhóm chọn lá già đã ngả màu vàng hoặc nâu. Lá sau khi hái được rửa sạch, sấy khô theo tỷ lệ riêng; khi nấu, thêm một chút đường phèn để tạo vị thanh ngọt, dễ uống.
Trong khi đó, việc làm sữa gạo sa kê phức tạp hơn. Trái gọt bỏ vỏ, xử lý với nước chanh tươi để loại bỏ mủ và giữ độ trắng. Phần thịt xắt thành những miếng nhỏ mang đi xay nhuyễn, rồi phối hợp với gạo nấu thành dạng sữa. Chiều lòng thực khách, nhóm còn khéo léo kết hợp thêm hương lá dứa và hương bắp để "thực đơn" thêm phần đa dạng.
Hai sản phẩm của nhóm đã được thử nghiệm tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng Cần Thơ về độ an toàn. Hiện nay, nhóm đã đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng và nhận được nhiều đánh giá tích cực từ khách hàng.
Thành công bước đầu với trà và sữa là động lực để nhóm tiếp tục mơ xa hơn. "Thời gian tới, chúng em sẽ nghiên cứu làm bánh snack, bánh mochi từ trái sa kê và đầu tư hơn vào mẫu mã, bao bì để sản phẩm chuyên nghiệp hơn", Hoài Ngọc nói.
Tiến sĩ Lê Cảnh Bích Thơ, giảng viên bộ môn khởi nghiệp Trường ĐH FPT Cần Thơ, đánh giá cao tính thực tiễn của dự án; bởi trà sa kê ngoài tính giải khát thì còn có giá trị dinh dưỡng; trong khi sữa gạo sa kê cung cấp hàm lượng tinh bột tốt. Chính vì vậy, nhà trường đã cấp vốn
20 triệu đồng để các sinh viên thực hiện. Với chất lượng đạt được, vừa qua trường đã hỗ trợ ki ốt để nhóm bày bán sản phẩm trong nhiều sự kiện.
Chia sẻ tại Hành trình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc (diễn ra cuối năm 2025 tại Quảng Châu, do Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Đông tổ chức), TS Trương Thị Bích Hạnh, Phó hiệu trưởng Trường THPT chuyên Khoa học xã hội và nhân văn (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội), đã đưa ra cách tiếp cận giàu chiều sâu lịch sử để lý giải nền tảng của tình hữu nghị và giá trị của giao lưu nhân văn giữa hai quốc gia.
Theo TS Trương Thị Bích Hạnh, nhìn lại lịch sử, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 - thời điểm mang tính bước ngoặt đối với cả hai dân tộc, có 3 điểm tương đồng cơ bản giữa hai nước Việt - Trung, được gọi là "3 chữ đồng": đồng văn (cùng chung nền tảng văn hóa), đồng chủng (có sự gần gũi về nguồn gốc) và đồng bệnh (cùng đối mặt với nguy cơ mất nước và tình trạng lạc hậu). Chính những điểm tương đồng này đã tạo nên sự gắn bó tự nhiên, thúc đẩy các thế hệ yêu nước hai nước tìm đến nhau trong hành trình cứu quốc.
Bà Hạnh cho biết có 3 thế hệ người Việt Nam sang Trung Quốc tìm đường cứu nước. Từ những nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19, đến thế hệ Phan Bội Châu với nỗ lực xây dựng các tổ chức cách mạng, và sau đó là thế hệ do Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Ở chiều ngược lại, nhiều nhà cách mạng Trung Quốc, tiêu biểu là Tôn Trung Sơn, cũng từng hoạt động tại Việt Nam, góp phần tạo nên sự giao thoa tư tưởng và hành động giữa hai dân tộc.
Theo TS Trương Thị Bích Hạnh, những thành công hay thất bại của các thế hệ đi trước đều để lại di sản quý giá, trong đó có nền tảng của tình hữu nghị Việt - Trung ngày nay. Đây chính là "gốc rễ" để hai nước tiếp tục phát triển giao lưu nhân văn trong bối cảnh hiện đại.
Từ nền tảng lịch sử đó, bà Hạnh cho rằng giao lưu nhân văn Việt Nam - Trung Quốc hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Không chỉ dựa trên sự tương đồng về lịch sử và văn hóa, hai nước còn có quá trình đồng hành trong việc tìm kiếm con đường phát triển và thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950.
Đặc biệt, TS Hạnh nhấn mạnh sự mở rộng từ "3 chữ đồng" trong lịch sử sang một "chữ đồng" mới trong hiện tại - đó là "đồng hành", cùng hướng tới xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai. Qua đó, bà khẳng định các chương trình giao lưu nhân văn không chỉ mang ý nghĩa giao lưu đơn thuần, mà còn là sự tiếp nối lịch sử, góp phần củng cố hiểu biết, tăng cường tin cậy và làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Là một học giả của Trung Quốc, ông Ngưu Khải Quân, Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, ĐH Trung Sơn, cũng cho rằng Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng và liên kết về mặt văn hóa. Trong số các quốc gia Đông Nam Á, người Trung Quốc dễ dàng giao tiếp và thấu hiểu nhất chính là với người Việt Nam và người Singapore. "Xét từ góc độ này, nếu Trung Quốc muốn giao lưu và hợp tác sâu rộng với các nước Đông Nam Á, thì Việt Nam và Singapore sẽ là những cầu nối quan trọng nhất, cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân", ông Ngưu Khải Quân nhận định thêm.
Theo ông Quân, hiện nay có rất nhiều sinh viên Trung Quốc sang Việt Nam học tập, khảo sát và cũng có rất nhiều lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc. Đồng thời, giao lưu học thuật giữa các chuyên gia, học giả hai nước cũng nở rộ và số lượng người Trung Quốc đang làm ăn, kinh doanh tại Hà Nội và TP.HCM cũng rất lớn. "Tôi cho rằng đây đều là những cầu nối quan trọng giúp hai nước Trung - Việt thấu hiểu nhau hơn", Viện trưởng Ngưu Khải Quân nêu.
Nhận định về các biện pháp thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới, ông Ngưu Khải Quân kỳ vọng trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò cầu nối tích cực trong tăng cường hợp tác kinh tế cũng như đẩy mạnh giao lưu nhân văn giữa hai nước nói riêng và Trung Quốc - ASEAN nói chung. "Tôi cho rằng trước hết, hai bên có thể thúc đẩy hợp tác kinh tế. Một trong những khía cạnh hợp tác nhiều tiềm năng phải kể đến là lĩnh vực robot và năng lượng mới. Đây được coi là những thế mạnh của Trung Quốc hiện nay", ông Quân khẳng định.
Ngoài ra, hai bên có thể thúc đẩy giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân. Theo Viện trưởng Quân, cả văn hóa và kinh tế đều còn rất nhiều dư địa để hai bên trao đổi, giao lưu và học hỏi. Khi được hỏi đánh giá của ông về Năm giao lưu nhân văn Việt - Trung 2025, ông Ngưu Khải Quân cho biết sẽ sử dụng 3 từ: thấu hiểu, tôn trọng, và giao lưu.
"Chỉ cần hai bên tăng cường giao lưu, thì chúng ta sẽ thấu hiểu nhau hơn, từ đó dẫn đến sự tôn trọng lẫn nhau. Và càng tôn trọng nhau, thì quan hệ hai nước sẽ càng tiến xa hơn và bền vững hơn. Như tôi đã đề cập, văn hóa hai nước Trung - Việt có rất nhiều điểm tương đồng. Trong số những người nước ngoài tôi từng tiếp xúc, người Việt Nam là những người mà tôi dễ dàng trao đổi sâu sắc nhất. Khi đã có sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau, những mâu thuẫn nhỏ giữa các quốc gia đều có thể giải quyết được. Giao lưu càng nhiều, quan hệ đôi bên sẽ càng bền vững và lâu dài", ông Quân nhấn mạnh.
Có mặt trong Hành trình hữu nghị Việt - Trung, ông Nguyễn Việt Dũng, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, đã cùng các đại biểu tham quan nhiều di tích mang dấu ấn sâu đậm của tình hữu nghị Việt - Trung như: Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, nơi có ngôi mộ liệt sĩ Việt Nam Phạm Hồng Thái. Ông Dũng đã có những chia sẻ sâu sắc về tầm quan trọng và ý nghĩa của hành trình thăm các "địa chỉ đỏ" đối với quan hệ hai nước.
Theo ông Nguyễn Việt Dũng, hành trình đỏ là nhịp cầu nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại năng động. Việc đoàn đại biểu được thăm lại những di tích lịch sử gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối tại Trung Quốc là một trải nghiệm vô cùng xúc động. Đây là cơ hội để thế hệ trẻ thấu hiểu sâu sắc về tình đoàn kết, sự kề vai sát cánh giữa hai dân tộc trong những giai đoạn lịch sử gian khổ nhưng vẻ vang, từ đó tiếp thêm động lực để giữ gìn và phát huy tình hữu nghị truyền thống.
Cũng trong hành trình này, đoàn đại biểu đã gặp những học giả Trung Quốc yêu mến Việt Nam. Ông Phòng Vĩnh Phu, nghiên cứu viên cao cấp Trung tâm Đông Nam Á (ĐH Trung Sơn), là một trong những người gắn bó lâu dài với Việt Nam và nói tiếng Việt như người Việt. Ông đã hơn 30 lần đến Việt Nam, đi qua nhiều địa phương từ Lạng Sơn đến Phú Quốc. Năm 2012, dù đã cao tuổi, ông vẫn cố gắng về Nghệ An để thăm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cho biết mỗi ngày ông dành hơn một giờ để đọc tin tức Việt Nam. Ông bày tỏ ấn tượng với sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là tinh thần cải cách và khát vọng vươn lên trong giai đoạn mới.
"Tôi đã tham gia giảng dạy cho nhiều sinh viên người Việt Nam, họ rất chăm chỉ, dễ mến, có chí tiến thủ. Các thế hệ thanh niên hai nước cần kiên trì đi theo con đường lý tưởng cách mạng của các bậc tiền bối, vun đắp cho tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững", ông Phòng Vĩnh Phu bày tỏ. (còn tiếp)
Trong chuyến công tác tham gia "Hành trình đỏ" tại vùng lưỡng quảng Quảng Đông và Quảng Châu (Trung Quốc) vào cuối năm 2025, đoàn đại biểu các nhà báo chúng tôi đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều bạn trẻ của Trung Quốc và Việt Nam. Họ đã chia sẻ những trải nghiệm quý giá của mình khi tham gia hành trình ý nghĩa này.
"Tôi rất nhớ Hà Nội, nhớ hồ Gươm, nhớ hồ Tây thơ mộng, nhớ những món ăn rất ngon, nhớ những người bạn Việt Nam thân thiện…", chị Lư Kim Linh, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Học viện Quan hệ quốc tế, ĐH Trung Sơn, đồng thời là giảng viên tại Trường ĐH Dân tộc Quảng Tây, đã bộc bạch khi được hỏi về cảm nhận của mình với Việt Nam. Là một người Trung Quốc từng học tập tại Việt Nam và có vốn tiếng Việt lưu loát, chị Linh là một nhịp cầu sống động trong giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Trong chuyến tham gia Hành trình hữu nghị Việt - Trung, chị Linh được đặt chân đến nhiều di tích lịch sử in đậm tình hữu nghị của Việt Nam - Trung Quốc, trong đó có Di tích Lớp huấn luyện chính trị thanh niên Việt Nam tại Trụ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu. Đây là điểm lịch sử quan trọng, gắn liền với các hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chính tại nơi này, trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc tháng 8.2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã viết lưu bút, bày tỏ xúc động khi trở lại địa điểm gắn với những năm tháng hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đồng thời khẳng định giá trị của tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết và gắn bó giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc.
Lần đầu tiên được đến thăm, chị Linh bày tỏ sự ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và hiểu hơn về tình hữu nghị giữa hai Đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, cũng như mối quan hệ giữa nhân dân hai nước. Theo chị, việc kết nối giữa quá khứ và hiện tại là vô cùng quan trọng. Chị nhấn mạnh rằng tình hữu nghị truyền thống Việt - Trung được xây dựng từ nền móng vững chắc của các nhà lãnh đạo tiền bối như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông - một di sản quý báu "không hề dễ dàng có được".
Từ góc độ của một nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế, chị Linh cho rằng thế hệ trẻ hôm nay đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới trong việc định nghĩa lại cách thức giao lưu trong thời đại số.
"Đối với thế hệ trẻ chúng tôi, việc tiếp tục kế thừa và phát huy tình cảm hữu nghị này là trách nhiệm của mỗi người dân hai nước. Đặc biệt là với những sinh viên đã từng sang Việt Nam học tập và học tiếng Việt như tôi, việc tìm hiểu nhiều hơn về Việt Nam và giúp các bạn Việt Nam hiểu thêm về Trung Quốc là một trách nhiệm xã hội mà chúng tôi nhất định phải gánh vác", chị Linh bày tỏ.
Tại Trung Quốc, có một "địa chỉ đỏ" vô cùng ý nghĩa về tình hữu nghị giữa hai quốc gia Việt - Trung, đó là ĐH Trung Sơn. Cách đây hơn một thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sắp xếp cho 8 thiếu niên Việt Nam sang theo học tại Trường trung học và tiểu học thuộc ĐH Quảng Đông, tiền thân của ĐH Trung Sơn ngày nay.
Câu chuyện "gieo mầm hữu nghị" ấy đến nay vẫn là ký ức chung, được hai bên trân trọng giữ gìn. Trong suốt những năm qua, ĐH Trung Sơn luôn coi trọng giao lưu và hợp tác với Việt Nam và đã đào tạo cho nước ta nhiều thế hệ nhân tài ưu tú, thông thạo ngôn ngữ hai nước, am hiểu sâu sắc văn hóa lẫn nhau. Hiện ở đây có khoảng 60 lưu học sinh Việt Nam.
Chị Hoàng Thị Ngọc Minh là một nghiên cứu sinh Việt Nam đang theo học năm thứ 2 chuyên ngành quan hệ quốc tế tại ĐH Trung Sơn. Chia sẻ về lý do chọn học tại nơi đây, chị Minh cho biết muốn "đến để hiểu, hiểu để yêu". Đối với chị, khi đến đây thì tình hữu nghị Việt - Trung không chỉ nằm trong sử sách hay những tuyên bố ngoại giao, mà hiện hữu sống động qua từng trải nghiệm thực tế và sự kết nối giữa con người với con người.
Chị Minh chia sẻ, trước đây cái nhìn của chị về Trung Quốc phần lớn qua phim ảnh, âm nhạc và những thông tin đa chiều trên mạng xã hội, đôi khi chưa thực sự toàn diện. Chỉ khi sống và học tập tại đây, chị mới cảm nhận rõ nét sự ấm áp của tình người.
Câu chuyện về một người phụ nữ lớn tuổi Trung Quốc không ngần ngại giúp đỡ chị xách những chiếc va li nặng nề trên tàu điện ngầm trong những ngày đầu bỡ ngỡ đã để lại ấn tượng sâu đậm. Với chị Minh, đó là minh chứng rõ nhất cho việc lòng tốt và sự thân thiện không có biên giới. Chị nhận ra rằng, dù ở đâu, sự cởi mở và đối thoại trực tiếp chính là chìa khóa để phá vỡ những rào cản hay định kiến do thông tin sai lệch tạo ra.
Từ những trải nghiệm cá nhân, chị Minh cho rằng mỗi người trẻ là một "sứ giả" mang hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Chị Minh thực hiện trách nhiệm ấy bằng những hành động thiết thực: sử dụng mạng xã hội WeChat để chia sẻ những video ngắn về đời sống hiện đại, vẻ đẹp đất nước và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Chị cũng cùng các bạn Việt Nam thường xuyên tham gia các buổi giao lưu văn hóa, mang hơi thở và bản sắc dân tộc giới thiệu đến thầy cô và bạn bè Trung Quốc.
Là một trong những người trẻ tham gia Hành trình hữu nghị Việt - Trung năm 2025, anh Nguyễn Hoài Đảm, Bí thư Đoàn thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam, đã cảm nhận sâu sắc về sứ mệnh của thế hệ trẻ trong việc kế thừa, phát huy tình hữu nghị giữa hai quốc gia. "Qua hành trình này, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc nền tảng của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước kiên trì vun đắp qua năm tháng", anh nói.
"Thế hệ trẻ hôm nay có thể chưa viết nên ngay lập tức những trang sử lớn, nhưng chính các bạn đang và sẽ góp phần định hình tương lai quan hệ Việt - Trung bằng tri thức, trải nghiệm và sự năng động, sáng tạo của mình. Các bạn chính là nguồn cảm hứng để tiếp tục kể những câu chuyện tốt đẹp về tình hữu nghị giữa hai đất nước, hai dân tộc trong kỷ nguyên mới", anh Đảm bày tỏ. (còn tiếp)