Tại cuộc làm việc, các doanh nghiệp Mỹ đánh giá cao những thành tựu quan trọng, định hướng, chính sách phát triển của Việt Nam, tin tưởng Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nâng cao năng lực cạnh tranh, đạt các mục tiêu đề ra.
Các doanh nghiệp bày tỏ sự quan tâm ngày càng tăng, quyết tâm mạnh mẽ trong việc mở rộng hợp tác, đầu tư và kinh doanh, cam kết sẽ tiếp tục đồng hành trong quá trình phát triển của Việt Nam.
Bày tỏ hoan nghênh sự tham gia đông đảo của các doanh nghiệp Mỹ trong chuyến thăm, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng đây là minh chứng sống động cho sự quan tâm sâu sắc đối với thị trường Việt Nam cũng như các cơ hội hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư ngày càng sâu rộng giữa hai nước.
Việt Nam đang nỗ lực phát triển nhanh với tốc độ cao nhưng bền vững hơn. Thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Tăng cường hội nhập quốc tế, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, tháo gỡ các rào cản và tạo thuận lợi để doanh nghiệp nước ngoài đầu tư kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam.
Ông khẳng định Việt Nam nhất quán coi Mỹ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu, mong muốn thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Mỹ phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững. Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Mỹ, tiếp tục mở rộng kinh doanh, đầu tư thành công.
Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình cải cách, hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thông thoáng, minh bạch, hiệu quả.
Đặc biệt là quyết liệt, khẩn trương cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, sửa đổi các luật, quy hoạch, quy định để huy động mạnh mẽ các nguồn lực.
Khẳng định sẽ cầu thị lắng nghe ý kiến cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ, Thủ tướng giao các bộ ngành khẩn trương xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp Mỹ, có phản hồi bằng văn bản đối với những vấn đề cụ thể. Giao Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ theo dõi và đôn đốc, báo cáo tiến độ, kết quả cuối cùng.
Thủ tướng đề nghị USABC và các doanh nghiệp Mỹ tiếp tục phát huy vai trò, ảnh hưởng để chuyển tải thông điệp về thiện chí và nỗ lực hợp tác của Việt Nam. Có tiếng nói khách quan, phản ánh đúng thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam, thúc đẩy hai nước sớm đạt được Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng.
Đồng thời đề nghị Mỹ sớm xem xét công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ và sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước hạn chế về xuất khẩu chiến lược (D1-D3).
Người đứng đầu Chính phủ cũng ủng hộ các tập đoàn năng lượng hàng đầu của Mỹ đầu tư, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển thị trường năng lượng bình đẳng, minh bạch, hiệu quả…
Cùng đó Việt Nam hoan nghênh, coi trọng công nghệ của Mỹ và sẵn sàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông tiếp cận thị trường nhằm nghiên cứu đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển hạ tầng viễn thông, 5G, cáp quang biển tại Việt Nam trên cơ sở bảo đảm an ninh quốc gia, tuân thủ hành lang pháp lý của Việt Nam.
Cho biết tháng 2 vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp giấy phép cung cấp dịch vụ Internet vệ tinh Starlink tại Việt Nam, Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp Mỹ tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam, thực hiện chuyển giao công nghệ, nhất là những công nghệ lõi, hỗ trợ Việt Nam gắn kết sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Thủ tướng cũng đề nghị USABC và các doanh nghiệp Mỹ với tầm ảnh hưởng của mình đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam trong tổ chức thành công “Năm APEC 2027”, tạo động lực để Việt Nam tiếp tục mở cửa thị trường, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khi 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu gián đoạn do tắc nghẽn ở eo biển Hormuz, các quốc gia châu Phi và châu Á có nhà máy điện hạt nhân đang tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngắn hạn.
Tại Đông Á, Hàn Quốc tăng sản lượng tại các nhà máy điện hạt nhân đang vận hành. Nước này đồng thời đẩy nhanh công tác bảo trì tại 5 lò phản ứng đã ngừng hoạt động, với kế hoạch khởi động lại vào tháng sau.
Nhật Bản cũng đảo ngược chính sách đóng cửa các cơ sở hạt nhân sau thảm họa hạt nhân Fukushima năm 2011. Nước này khởi động lại Kashiwazaki Kariwa - nhà máy điện hạt nhân lớn nhất thế giới, hồi tháng 1. Thủ tướng Nhật Takaichi Sanae gần đây ký thỏa thuận mua lò phản ứng trị giá 40 tỷ USD với Mỹ và một thỏa thuận tái chế nhiên liệu hạt nhân với Pháp.
Bà Michiyo Miyamoto, chuyên gia Viện Kinh tế năng lượng và Phân tích tài chính (Mỹ), cho biết giá điện cao kỷ lục và cuộc khủng hoảng năng lượng khiến dư luận Nhật Bản nghiêng về chấp nhận điện hạt nhân.
Tại Đài Loan (Trung Quốc), giới chức cũng đang xem xét tái khởi động 2 lò phản ứng - một quá trình đòi hỏi phải kiểm tra an toàn vô cùng khắt khe.
Ở Nam Á và Đông Nam Á, Bangladesh gấp rút đưa vào hoạt động các lò phản ứng mới do Tập đoàn Rosatom (Nga) xây dựng. Dhaka kỳ vọng chúng cung cấp 300 MW trong mùa hè năm nay, giảm áp lực cho hệ thống điện trước tình trạng thiếu khí đốt.
Philippines gần đây ban bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia và đang xem xét khôi phục nhà máy điện hạt nhân được xây dựng sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nhưng chưa đưa vào hoạt động.
Bà Alvie Asuncion-Astronomo, chuyên gia Viện Nghiên cứu Hạt nhân Philippines, nói xung đột Trung Đông đang "tạo ra cú hích cần thiết cho năng lượng hạt nhân". "Tôi hy vọng chúng ta đã rút ra bài học", bà nói.
Giá năng lượng tăng vọt và thiếu điện do căng thẳng ở Trung Đông cũng đang khiến các nước châu Phi quan tâm tới điện hạt nhân. Nam Phi - quốc gia duy nhất châu lục có nhà máy đang vận hành, muốn tăng tỷ trọng năng lượng này từ khoảng 5% hiện nay lên 16% vào 2040.
Tại hội nghị thượng đỉnh vào tháng 3 do Liên Hợp Quốc tổ chức, Tổng thống Rwanda Paul Kagame nói châu Phi sẽ là "một trong những thị trường toàn cầu quan trọng nhất" cho các lò phản ứng nhỏ (SMR) những năm tới.
Các nhà cung cấp như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp và Hàn Quốc cũng nhìn thấy tiềm năng to lớn của thị trường SMR ở đây. Tập đoàn Rosatom đang xây dựng lò phản ứng đầu tiên cho Ai Cập. Họ còn có các thỏa thuận hợp tác với Ethiopia, Burkina Faso, Ghana, Tanzania và Niger.
Kenya và Ghana tham gia sáng kiến SMR do Mỹ dẫn dắt. Kenya dự kiến đưa vào vận hành một lò phản ứng vào 2034. Trong khi đó, Ghana lên kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân vào năm 2027, và đang tìm kiếm các nhà cung cấp cụ thể.
Hiện có 31 quốc gia sử dụng điện hạt nhân, cung cấp khoảng 10% điện năng toàn cầu. Khoảng 40 nước khác đang cân nhắc hoặc chuẩn bị xây dựng nhà máy, theo Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).
Điện hạt nhân khai thác năng lượng được giải phóng khi hạt nhân nguyên tử (như uranium) bị tách ra trong quá trình phân hạch. Không giống nhiên liệu hóa thạch, quá trình này không thải ra khí CO2 nhưng tạo ra chất thải phóng xạ nguy hiểm, khiến nhiều quốc gia vẫn thận trọng.
Bà Ayumi Fukakusa, thành viên nhóm vận động Friends of the Earth Japan, lưu ý "năng lượng hạt nhân rất rủi ro" và sẽ khiến các quốc gia phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu như uranium làm giàu.
Các nhà máy điện hạt nhân cũng dễ bị tổn thương, ví dụ như lò phản ứng từng bị nhắm mục tiêu trong cuộc xung đột gần đây, theo chuyên gia về khoa học nguyên tử người Mỹ Rachel Bronson. "Tất cả những điều này đều phải được cân nhắc khi nói về an ninh năng lượng", bà nói.
Ngoài ra, ông Joshua Kurlantzick, thành viên Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Mỹ), cho rằng điện hạt nhân không phải là giải pháp nhanh cho cuộc khủng hoảng năng lượng hiện tại. Việc phát triển dự án có thể mất hàng chục năm, đặc biệt với các quốc gia mới bắt đầu.
Tuy nhiên, ông nhìn nhận các cam kết hiện nay có thể đưa điện hạt nhân trở thành một phần thiết yếu trong cơ cấu năng lượng tương lai của các nước. Còn theo ông Rex Amancio, chuyên gia Liên minh Năng lượng tái tạo toàn cầu, các dự án điện hạt nhân cần nhiều năm để triển khai. Vì vậy, các chính phủ nên tiếp tục tập trung vào điện tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn.
Công ty Chứng khoán VPS (HoSE: VCK) vừa công bố báo cáo tài chính quý 1-2026 với kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh, thiết lập mức lợi nhuận cao nhất theo quý từ trước đến nay.
Trong kỳ, tổng doanh thu hoạt động đạt 2.519 tỉ đồng, tăng 72% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng thêm 1.051 tỉ đồng so với quý 1-2025. Đây là mức doanh thu theo quý cao nhất của doanh nghiệp kể từ quý 4-2021.
Xét theo cơ cấu, doanh thu môi giới đạt 1.003 tỉ đồng, tăng 73% so với cùng kỳ; lãi từ hoạt động cho vay đạt 948 tỉ đồng, tăng 88,5%; lãi từ tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) đạt 393 tỉ đồng, tăng 75%.
Ngoài ra, công ty ghi nhận 58 tỉ đồng lãi từ tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS), trong khi cùng kỳ năm trước không phát sinh khoản mục này.
Chi phí hoạt động trong quý 1 tăng 72% lên 920 tỉ đồng, trong đó riêng chi phí môi giới chiếm 837 tỉ đồng, tăng 68%.
Sau khi trừ chi phí, VPS ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.547 tỉ đồng, tăng 68% so với quý 1-2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.235 tỉ đồng, tăng 67,8%, đều là mức cao nhất trong lịch sử hoạt động theo quý.
Năm 2026, VPS đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế 5.750 tỉ đồng. Như vậy sau quý đầu năm, công ty đã thực hiện khoảng 27% mục tiêu cả năm.
Trên thị trường, VPS tiếp tục dẫn đầu thị phần môi giới cổ phiếu trên HoSE với tỉ lệ 15,32%, tăng so với mức 14,28% của quý 4-2025, qua đó nới rộng khoảng cách với nhóm công ty xếp sau.
Tại thời điểm ngày 31-3-2026, tổng tài sản của VPS đạt 53.217 tỉ đồng, tăng 10% so với đầu năm.
Trong đó các khoản cho vay chiếm tỉ trọng lớn nhất với 30.407 tỉ đồng.
Riêng dư nợ cho vay ký quỹ (margin) đạt 29.979 tỉ đồng, tăng 36% so với đầu năm, trong khi cho vay ứng trước tiền bán đạt 428 tỉ đồng.
Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả của công ty tăng 18% so với đầu năm, lên 23.120 tỉ đồng.
Tại thời điểm 31-3-2026, danh mục đầu tư cổ phiếu của VPS chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ, chưa đến 1% tổng giá trị danh mục FVTPL.
Cụ thể tổng thể, danh mục tài sản FVTPL của VPS có giá gốc 9.353,0 tỉ đồng và giá trị hợp lý 9.346,1 tỉ đồng, tương ứng lỗ khoảng 6,9 tỉ đồng (-0,07%) tại thời điểm cuối quý.
Cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UPCoM có giá gốc khoảng 596 triệu đồng và giá trị hợp lý đạt khoảng 2,1 tỉ đồng, tương ứng tăng hơn 250%. Tương tự, cổ phiếu niêm yết có giá gốc 14,2 tỉ đồng và giá trị hợp lý 20 tỉ đồng, tương ứng tăng khoảng 41%.
Ở chiều ngược lại, các khoản đầu tư vào tài sản thu nhập cố định chiếm khoảng 84,6% danh mục, tương ứng 7.913,3 tỉ đồng tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi cùng 1.409,6 tỉ đồng trái phiếu. Các khoản mục này không ghi nhận chênh lệch đáng kể so với giá gốc.
Từ đầu năm đến nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Phiên 4/2, lãi suất qua đêm vọt lên 17%, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Trong tháng 3, thị trường ghi nhận nhiều phiên lãi suất vượt 10% trước khi hạ nhiệt. Đến đầu tháng 4, lãi suất qua đêm vẫn duy trì quanh 9%.
Khác với lãi suất huy động từ dân cư, đây là lãi suất vay mượn giữa các tổ chức tín dụng, chủ yếu phục vụ nhu cầu bù đắp thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống.
Diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản đã bắt đầu gia tăng từ cuối năm ngoái. Sau giai đoạn tín dụng mở rộng nhanh, dư nợ cho vay tại nhiều ngân hàng đã vượt quy mô huy động. Tỷ lệ cho vay trên huy động tại nhiều nhà băng vượt 100% và có xu hướng tăng so với đầu năm 2025.
Điều này khiến một số ngân hàng phải tìm đến vay mượn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí cao hơn.
Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Vietcombank (VCBS), áp lực thanh khoản và cân đối vốn của hệ thống ngân hàng đã gia tăng từ nửa cuối năm 2025, đặc biệt tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần vừa và nhỏ.
"Khi khả năng hấp thụ các cú sốc ngắn hạn suy giảm, các nhà băng này phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao", VCBS nhận định.
Bên cạnh đó, dòng tiền trong hệ thống chưa kịp dịch chuyển từ ngân hàng dư thừa sang ngân hàng thiếu hụt cũng khiến tình trạng "nghẽn cục bộ" kéo dài vài tháng, làm gia tăng nhu cầu vay mượn lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Ngoài yếu tố nội tại, chính sách điều hành tỷ giá cũng góp phần tác động tới thanh khoản hệ thống.
Gần đây, Ngân hàng Nhà nước triển khai bán USD kỳ hạn 180 ngày cho các tổ chức tín dụng với mức giá 26.850 đồng mỗi USD nhằm ổn định tỷ giá trong bối cảnh đồng bạc xanh mạnh lên do căng thẳng địa chính trị.
Theo ông Nguyễn Hoàn Niên, chuyên gia phân tích tại Chứng khoán Shinhan, biện pháp này giúp giảm áp lực tỷ giá nhưng đồng thời "giam" một lượng tiền đồng trong hệ thống, khiến thanh khoản co lại và góp phần đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng.
Dù vậy, chuyên gia cho rằng lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh những biến động thanh khoản mang tính tức thời. Chỉ khi các biến động này kéo dài và hình thành xu hướng rõ rệt mới có thể đánh giá tác động dài hạn tới mặt bằng lãi suất thị trường.
"Lãi suất vay mượn giữa các ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản nhưng chưa chắc kéo lãi suất tiền gửi tăng theo", ông Niên cho biết.
Thực tế, mối quan hệ giữa lãi suất liên ngân hàng và lãi suất huy động dân cư tại Việt Nam không hoàn toàn tuân theo quy luật một chiều như lý thuyết kinh tế. Trong một số giai đoạn, lãi suất huy động có thể tăng trước rồi mới tác động ngược lại thị trường liên ngân hàng, ông Niên nhận định.
Đặc thù này xuất phát từ cấu trúc hệ thống ngân hàng trong nước, khi thu nhập lãi vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-80%, cao hơn nhiều so với mức khoảng 30% ở các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, sự can thiệp hành chính như áp trần lãi suất hay định hướng điều hành cũng khiến sự liên thông giữa hai thị trường trở nên phức tạp hơn.
Tác động lớn nhất của việc lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh như vừa qua, theo ông Niên, là gây áp lực lên biên lợi nhuận (NIM) của các ngân hàng khi chi phí vốn tăng lên. Điều này buộc một số nhà băng sẽ tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, như đẩy mạnh cho vay tiêu dùng hoặc mở rộng các hoạt động đầu tư, dịch vụ.
Theo dự báo của chuyên gia chứng khoán Shinhan, lãi suất liên ngân hàng khó giảm sâu trong thời gian tới, có thể duy trì quanh mức 6,8-7% với kỳ hạn một tháng. Trong khi đó, lãi suất huy động trên thị trường dân cư được dự báo dao động khoảng 7-9% mỗi năm, tùy theo từng ngân hàng.
Trong bối cảnh thanh khoản nghẽn cục bộ và dư địa điều hành bị thu hẹp bởi áp lực tỷ giá, mặt bằng lãi suất được nhận định khó sớm quay lại mức thấp như trước.