Trong bài Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng, người đứng đầu Chính phủ nêu rõ tăng trưởng hai con số là yêu cầu khách quan từ đòi hỏi phát triển đất nước và khát vọng vươn lên của dân tộc, đồng thời là mục tiêu chiến lược phải thực hiện cho bằng được. Tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, Thủ tướng cho biết trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, đất nước đã vượt qua “giông bão”, kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, duy trì tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Nền kinh tế giữ vững ổn định vĩ mô, nợ công, bội chi trong giới hạn cho phép; các đột phá chiến lược được triển khai, mở ra không gian phát triển mới theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh”.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ; nhiều tồn đọng kéo dài được xử lý, góp phần giải phóng nguồn lực. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến; an sinh xã hội được bảo đảm với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 1,3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín đất nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng cho giai đoạn tới. Bài học đầu tiên là phải kiên định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đồng thời triển khai chủ trương, chính sách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả, nhất là với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ.
Cùng với đó là yêu cầu không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đoàn kết quốc tế, đi cùng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Người dân được xác định là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đồng thời là nguồn lực và động lực quan trọng nhất của phát triển, từ đó tạo dựng và củng cố niềm tin xã hội.
Một bài học xuyên suốt khác là phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, mang tính quyết định; ngoại lực là quan trọng, cần thiết và có thể tạo đột phá. Tư duy phát triển phải nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn, coi trọng thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán đúng thời điểm.
Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; phân công nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Bước vào nhiệm kỳ 2026-2030, bối cảnh thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược gia tăng; chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu biến động mạnh; các yếu tố an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục tác động sâu rộng. Trong nước, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở cao, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cần tiếp tục được củng cố.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy bị động sang chủ động thích ứng, “biến nguy thành cơ”, “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, kiểm soát rủi ro hiệu quả thành lợi thế cạnh tranh. Các bộ, ngành, địa phương phải khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội 14 thành chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với mục tiêu, lộ trình, giải pháp rõ ràng, có thể “cân đong, đo đếm, lượng hóa được”, gắn trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích.
Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa 14, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát 5 nội dung công việc quan trọng của nhiệm kỳ, gồm: công tác chính trị, tư tưởng với “4 kiên định”; mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số; phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó, tăng trưởng hai con số được xác định là yêu cầu khách quan, gắn với khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu này, Thủ tướng nhấn mạnh phải khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng hiệu quả ngoại lực; vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, vừa thúc đẩy mạnh mẽ các động lực mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh giữ vai trò nền tảng.
Giải pháp được đặt ra theo hướng đồng bộ, có trọng tâm. Về điều hành vĩ mô, các cơ quan tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, vừa giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Về đầu tư, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân, khai thác hiệu quả dư địa nợ công để huy động thêm nguồn lực phát triển.
Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ thị trường nội địa trở thành bệ đỡ của nền kinh tế; đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh. Nguyên tắc “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” được quán triệt trong hợp tác công tư.
Ba đột phá chiến lược tiếp tục được xác định là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng đồng bộ. Trong đó, thể chế là “đột phá của đột phá”, phải đi trước, mở đường, xóa bỏ cơ chế “xin cho”, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi. Nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là giao thông, năng lượng, hạ tầng số.
Cùng với đó, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển các ngành công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng tái tạo; hình thành các động lực tăng trưởng mới. Các mô hình kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu tiếp tục được khuyến khích phát triển.
Song song với phát triển kinh tế, yêu cầu bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân, phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường được đặt ngang tầm. Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, chăm lo người yếu thế tiếp tục được thực hiện hiệu quả; không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm hành động “1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa”. Trong đó, “1 mục tiêu” là chăm lo để người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, năm sau tốt hơn năm trước. “2 bảo đảm” là bảo đảm phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. “3 có” là có sự tham gia, đóng góp của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. “4 không” là không lãng phí một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm. “5 hóa” gồm xanh hóa, số hóa, tối ưu hóa tiềm năng, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích.
Cùng với đó, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch, chuyển từ quản lý sang quản trị phát triển; cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh theo hướng chủ động, tích cực, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong nâng cao vị thế đất nước, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.
Theo Thủ tướng, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề nhưng cũng rất vinh quang. Với nền tảng tích lũy qua nhiều năm đổi mới, cùng sự đoàn kết, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam có đủ điều kiện để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
>>> Nội dung bài viết của Thủ tướng Phạm Minh Chính
Chiều 9/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng báo cáo Quốc hội về kết quả phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2025, kế hoạch năm 2026.
Thủ tướng cho biết Chính phủ xác định năm 2026 là "năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở", tập trung vào trình độ chuyên môn, kỹ năng thực thi công vụ và ý thức, trách nhiệm phục vụ.
Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tận dụng hiệu quả công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có, hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở, trung tâm hành chính mới. Thủ tướng yêu cầu rà soát, xử lý triệt để tài sản công dôi dư, không để xuống cấp, lãng phí, bảo đảm trang thiết bị phục vụ công việc, nhất là cho cấp xã.
Việc đánh giá công chức sẽ dựa trên kết quả công việc. Chính phủ kiên quyết thay thế những người yếu kém, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời khen thưởng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, nhất là các vụ việc do Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo; thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra, kiểm toán; tăng tỷ lệ thu hồi tiền và tài sản.
Chính phủ yêu cầu triệt để tiết kiệm chi, chống lãng phí ngân sách Nhà nước, nhất là chi thường xuyên, dành nguồn lực cho an sinh xã hội, đầu tư phát triển và các nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách.
Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, người đứng đầu các bộ, cơ quan được yêu cầu khẩn trương rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án, kể cả trong và ngoài ngân sách, tập trung xử lý dứt điểm các dự án vướng mắc kéo dài theo thẩm quyền.
Đặt mục tiêu lớn về an sinh, hạ tầng và chuyển đổi số
Chính phủ phấn đấu hoàn thành trên 110.000 căn nhà ở xã hội trong năm 2026. Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần theo nhóm và lộ trình ưu tiên.
Chính phủ cũng phấn đấu 100% bệnh viện công lập và tư nhân triển khai bệnh án điện tử, không sử dụng bệnh án giấy; xây dựng Đề án phát triển kinh tế bạc, chính sách lao động, việc làm thích ứng với già hóa dân số nhanh, hoàn thành trong năm 2026.
Về giáo dục, Chính phủ sẽ triển khai hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; cung cấp một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông thống nhất toàn quốc từ năm học 2026-2027. Ngành giáo dục triển khai cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chính sách đối với người có tài năng và khuyến khích đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao.
Thủ tướng cho biết Chính phủ sẽ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, hạ tầng năng lượng và đô thị. Trong đó, các cơ quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội và TP HCM, các tuyến kết nối với Trung Quốc và một số đoạn thuộc đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Các bộ, ngành, địa phương bảo đảm tiến độ xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, mở rộng các cảng hàng không Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau.
Theo Thủ tướng, những tháng đầu năm 2026, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; tăng trưởng GDP quý 1 ước đạt 7,83%. Các dự án hạ tầng được triển khai đồng bộ, tập trung vào cao tốc, đường sắt tốc độ cao và cảng hàng không.
Chính phủ tích cực đôn đốc địa phương xử lý tài sản công, các dự án tồn đọng kéo dài. Chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững được triển khai hiệu quả; văn hóa, y tế, giáo dục được quan tâm. Cả nước đã khởi công 121 trường phổ thông dân tộc nội trú tại các xã biên giới; triển khai sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử liên thông từ cơ sở đến trung ương; đời sống người dân tiếp tục được nâng lên.
Tuy nhiên, Thủ tướng cho rằng đất nước đang đối mặt nhiều thách thức, kinh tế vĩ mô chịu tác động bất lợi từ bên ngoài. Mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực còn khó khăn. Những tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, gây gián đoạn nguồn cung. Giá dầu khí và chi phí vận tải tăng cao, ảnh hưởng đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội trong nước.
Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thực sự thuận lợi; phân cấp, phân quyền và năng lực cán bộ ở một số cấp cơ sở còn hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị ở một số nơi chưa được sử dụng hiệu quả.
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 nên nhiệm vụ từ nay đến cuối năm rất nặng nề nhưng có ý nghĩa quan trọng, tạo đà cho các năm tiếp theo. "Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành, địa phương sẽ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, đổi mới sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn, thách thức để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đề ra", Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh.
Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Tháp tùng Thủ tướng Robert Fico thăm Việt Nam có: Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert Kaliňák; Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Denisa Saková; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và các vấn đề châu Âu Juraj Blanár; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Richard Takáč; Bộ trưởng Bộ Tài chính Ladislav Kamenický; Bộ trưởng Bộ Văn hóa Martina Šimkovičová; Thứ trưởng Bộ Kinh tế Vladimír Šimoňák; Đại biện Slovakia tại Việt Nam Marián Vereš; Chánh văn phòng Thủ tướng Katarína Vidovičová; Đặc phái viên Thủ tướng tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Lê Hồng Quang; Cố vấn Thủ tướng trong lĩnh vực đầu tư, du lịch và thể thao Jaroslav Rybanský.
Thủ tướng Robert Fico luôn thể hiện tình cảm tốt đẹp và coi trọng việc thúc đẩy quan hệ với Việt Nam. Ông đã có những quyết sách ủng hộ thiết thực, nổi bật là việc tạo điều kiện để cộng đồng người Việt Nam chính thức được công nhận là dân tộc thiểu số thứ 14 tại Slovakia.
Ông cũng đã có 2 chuyến thăm chính thức tới Việt Nam (vào các năm 2008 và 2016). Kể từ khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ tư (năm 2023), Thủ tướng Robert Fico tiếp tục quan tâm, thúc đẩy đà phát triển của quan hệ song phương.
Đại sứ Việt Nam tại Slovakia Phạm Trường Giang cho biết, Đoàn Thủ tướng Slovakia thăm chính thức Việt Nam là đoàn khách cấp Chính phủ nước ngoài đầu tiên thăm Việt Nam sau khi ta vừa hoàn thiện tổ chức, bộ máy sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, đánh dấu một giai đoạn mới sau hơn 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (1950), đồng thời mở ra cơ hội hợp tác thực chất hơn sau các chuyến thăm cấp cao trước đó trên cơ sở nhu cầu tăng cường hợp tác và tin cậy chính trị cao giữa hai bên.
Những nội dung trọng tâm của chuyến thăm bao gồm xem xét nâng tầm quan hệ Việt Nam - Slovakia; tăng cường tin cậy chính trị song phương; thảo luận các biện pháp thúc đẩy cam kết hợp tác theo hướng thực chất hơn trong nhiều lĩnh vực hai nước có tiềm năng và cùng quan tâm như: kinh tế -thương mại, đầu tư, quốc phòng - an ninh, khoa học - công nghệ, năng lượng (tái tạo và hạt nhân), văn hóa - du lịch, giáo dục - đào tạo, lao động, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; trao đổi về việc cùng ủng hộ lẫn nhau trong các cơ chế đa phương, giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm, trong đó chú trọng hợp tác ASEAN - EU.