Theo bác sĩ Nguyễn Phối Hiền, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM – cơ sở 3, thực tế đã ghi nhận các trường hợp nhập viện sau khi tắm không đúng thời điểm trong mùa nắng nóng, đặc biệt ở người lớn tuổi. Do đó, không phải cứ mùa nóng là “tắm càng nhiều càng tốt”.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Trương Thiện Niềm, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM), cho biết sau khi đi nắng hoặc vận động nhiều, cơ thể đang ở trạng thái tăng thân nhiệt, tim đập nhanh, mạch máu ngoại biên giãn ra để tỏa nhiệt. Nếu tắm ngay, đặc biệt là tắm nước lạnh, một số nguy cơ có thể xảy ra gồm:
Từ đó, bác sĩ Niềm chỉ ra một số dấu hiệu cho thấy chưa nên tắm ngay dù đang rất nóng, gồm:
Theo bác sĩ Phối Hiền, khi tắm trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước nên ở mức gần với nhiệt độ da, thường khoảng 33 – 36°C. Nước quá lạnh có thể gây co mạch, trong khi nước quá nóng làm tăng mất nước và tạo thêm gánh nặng cho hệ tim mạch.
Thời điểm tắm phù hợp là khi cơ thể đã ổn định, thường sau khi nghỉ ngơi khoảng 15 – 30 phút sau vận động hoặc sau khi đi nắng về. Không nên tắm khi đang đói, quá no hoặc trong trạng thái mệt nhiều.
Về số lần, người trưởng thành khỏe mạnh trong điều kiện sinh hoạt thông thường tắm 1 – 2 lần mỗi ngày là phù hợp; có thể tăng thêm nếu ra nhiều mồ hôi, nhưng cần đảm bảo điều kiện an toàn và không kéo dài thời gian tắm.
Bác sĩ Thiện Niềm lưu ý thêm, các đối tượng sau cần đặc biệt thận trọng khi tắm vào mùa nóng này:
Trẻ nhỏ: Nên tắm nước ấm hoặc mát nhẹ, tránh nước quá lạnh vì có thể khiến trẻ bị lạnh đột ngột hoặc viêm đường hô hấp.
Không tắm quá lâu hoặc tắm quá nhiều lần trong ngày vì có thể làm khô da, mất lớp bảo vệ tự nhiên của da. Nên tắm cho trẻ ở nơi kín gió, lau khô người ngay sau khi tắm để tránh nhiễm lạnh.
Người cao tuổi: Tránh tắm nước quá lạnh hoặc khi cơ thể đang mệt, vừa đi nắng về hoặc đang đói.
Không nên tắm quá khuya, đặc biệt vào ban đêm khi nhiệt độ môi trường giảm vì dễ gây co mạch và làm tăng nguy cơ tai biến tim mạch.
Nên tắm trong phòng kín gió, có thảm chống trượt hoặc tay vịn để hạn chế nguy cơ té ngã – một tai nạn khá thường gặp ở người lớn tuổi khi phòng tắm trơn trượt.
Người có bệnh tim mạch: Không tắm nước quá lạnh, đặc biệt là khi thời tiết quá nóng hoặc sau khi vận động mạnh. Tránh tắm quá lâu hoặc thay đổi nhiệt độ nước đột ngột.
Nếu có các triệu chứng như đau ngực, hồi hộp, khó thở, choáng váng khi đang tắm, cần dừng ngay, nghỉ ngơi và nhờ sự trợ giúp từ người khác; nếu triệu chứng không cải thiện, nên đi khám sớm để được kiểm tra và tư vấn phù hợp.
TP HCM ghi nhận 940 trẻ mắc bệnh tay chân miệng trong tuần qua, tăng 42,7% so với trung bình 4 tuần trước đó, nâng tổng số ca mắc từ đầu năm vượt 9.100. Theo dữ liệu giám sát, chủng virus EV71 hiện chiếm 56% mẫu bệnh phẩm, với sự xuất hiện của biến thể C1 mang độc lực cao và có khả năng "né miễn dịch", khiến trẻ dù từng mắc tay chân miệng vẫn có nguy cơ tái nhiễm.
BS.CK1 Võ Thành Luân, Phó Khoa Hồi sức tích cực Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết chủng EV71 thường gây bệnh nặng hơn các chủng khác, tuy nhiên lại dễ bị bỏ sót vì trẻ nổi ban rất ít hoặc kín đáo. Nhiều trường hợp trẻ vào viện trong tình trạng nguy kịch, suy hô hấp, sốc tim mà không hề có hồng ban hay loét miệng rõ rệt.
Virus ít biểu hiện tổn thương da mà tấn công thẳng vào hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương nghiêm trọng các cơ quan và tử vong nhanh chóng chỉ trong vòng 12-24 giờ. Hầu hết các trường hợp nhập viện trễ trong tình trạng nguy kịch đều ít nổi hồng ban hoặc nổi kín đáo dẫn đến bỏ sót bệnh.
Theo bác sĩ Luân, khi bệnh bắt đầu có dấu hiệu tác động lên hệ thần kinh, mỗi phút giây chậm trễ đều có thể ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ. Phụ huynh cần đưa con mình đến ngay cơ sở y tế gần nhất nếu phát hiện các biểu hiện báo động sau, ngay cả khi không thấy hồng ban hay loét miệng:
Giật mình chới với là dấu hiệu báo động đỏ. Trẻ giật mình nẩy người khi bắt đầu ngủ hoặc ngay cả khi đang thức. Nếu tần suất 2 lần trong 30 phút, đây là tình trạng nguy hiểm.
Bên cạnh đó, cần cảnh giác khi trẻ sốt trên kéo dài hơn 48 giờ và không đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường. Trẻ đi đứng loạng choạng, mất thăng bằng, run chi, tay chân yếu hoặc ngồi không vững. Trẻ nôn vọt, nôn nhiều lần trong ngày; quấy khóc dai dẳng, lừ đừ hoặc trằn trọc không yên.
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh tay chân miệng. Việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ và can thiệp hồi sức tích cực tùy theo mức độ nặng. Nếu phát hiện sớm ở giai đoạn đầu, trẻ có cơ hội hồi phục tốt. Ngược lại, nếu chậm trễ do chủ quan, virus EV71 sẽ gây tổn thương não bộ và tim mạch không thể hồi phục. Trẻ sẽ rơi vào trạng thái sốc, tổn thương đa cơ quan, phù phổi cấp với nguy cơ tử vong rất cao hoặc để lại di chứng thần kinh nặng nề lâu dài.
Tay chân miệng lây truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa và tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ người bệnh. Để bảo vệ trẻ, phụ huynh cần thực hiện nguyên tắc "3 sạch" theo khuyến cáo của Bộ Y tế, gồm bàn tay sạch, ăn uống sạch, môi trường sạch.
Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng cho cả trẻ và người chăm sóc. Ăn chín, uống sôi, tuyệt đối không dùng chung vật dụng cá nhân hay mớm thức ăn cho trẻ. Thường xuyên khử khuẩn bề mặt tiếp xúc và đồ chơi. Cách ly trẻ bệnh tại nhà tối thiểu 10-14 ngày đầu của bệnh.
"Cần ghi nhớ các dấu hiệu nguy hiểm, theo dõi sát và đưa trẻ nhập viện sớm ngay khi có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, kể cả khi không thấy hồng ban hay loét miệng", bác sĩ Luân nhấn mạnh.
Tiến sĩ, bác sĩ Lê Thị Hương Giang, Trưởng Khoa Tiết chế dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), cho biết phở là bữa sáng quen thuộc của hàng triệu người Việt, ngon, tiện lợi và dễ ăn. Tuy nhiên, một bát phở rất giàu giá trị dinh dưỡng, thêm thói quen húp cạn nước tiềm ẩn nhiều mối nguy sức khỏe.
Thông thường, một bát phở trung bình chứa khoảng 400–500 ml nước dùng. Lượng nước này có thể chứa từ 2,5 đến 5g muối, tương đương khoảng 1.000–2.000 mg natri. Trong khi đó, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo người trưởng thành chỉ nên tiêu thụ dưới 5 g muối/ngày.
"Như vậy, chỉ với thói quen uống hết nước trong một bát phở sáng, cơ thể bạn đã tiếp nhận gần như toàn bộ hạn mức muối cho phép của cả ngày", bác sĩ nói. Ngoài ra, vị mặn trong nước phở thường bị lấn át bởi vị ngọt của xương ninh và các chất điều vị khiến vị giác bị "đánh lừa", vô tình nạp lượng muối vượt ngưỡng mà vẫn thấy vừa miệng.
Ngoài muối, nước dùng ninh từ xương và thịt trong nhiều giờ còn chứa những thành phần gây áp lực lên chuyển hóa. Nước hầm xương trong nhiều giờ có thể giải phóng lượng lớn purin, chất liên quan trực tiếp đến việc hình thành acid uric trong cơ thể. Một nghiên cứu của Choi và cộng sự trên tạp chí New England Journal of Medicine (2004), cho biết chế độ ăn giàu purin từ thịt đỏ và nước hầm có liên quan trực tiếp đến việc tăng acid uric máu và nguy cơ bệnh gout.
Một phần chất béo từ tủy và mỡ xương hòa tan vào nước dùng, làm tăng lượng chất béo bão hòa trong khẩu phần. Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA), đây là yếu tố góp phần làm tăng Cholesterol xấu, gây xơ vữa động mạch. Một số nghiên cứu phân tích nước hầm xương chứa vi lượng kim loại nặng như chì giải phóng từ xương động vật.
"Dù nồng độ ở mức thấp, việc sử dụng lặp lại mỗi ngày trong thời gian dài vẫn đặt ra bài toán về sự tích lũy sinh học trong cơ thể", bác sĩ nói.
Theo bác sĩ, dư thừa natri kéo dài là "thủ phạm" hàng đầu gây tăng huyết áp, suy thận và các bệnh lý tim mạch. Người có tiền sử tăng huyết áp, bệnh tim mạch, suy thận hoặc có chức năng thận suy giảm không nên lạm dụng. Người đang điều trị bệnh gout hoặc có nồng độ acid uric cao, người cao tuổi có hệ chuyển hóa kém nhạy bén cần thận trọng.
Bạn không nhất thiết phải loại bỏ phở ra khỏi thực đơn, nhưng cần thay đổi cách ăn để bảo vệ sức khỏe. Để an toàn, bạn nên thưởng thức phần cái (bánh phở, thịt, rau) và chỉ nên nếm một lượng nhỏ nước dùng để cảm nhận hương vị, không húp cạn. Tăng cường ăn rau xanh, như rau sống hoặc rau chần để bổ sung chất xơ và kali, giúp đào thải bớt natri.
Hạn chế gia vị thêm, như nước mắm hay bột canh tại bàn khi nước phở vốn đã đậm đà. Nên đa dạng thực đơn trong tuần, không nên ăn liên tục bún, phở. Hãy xen kẽ các bữa sáng nhẹ nhàng hơn như ngũ cốc, khoai lang hoặc các món ít nước dùng mặn để bảo vệ sức khỏe.
Những người ốm nhưng vẫn tích nhiều mỡ bụng thường là do những yếu tố sau:
Không phải ai tăng cân cũng tích mỡ giống nhau. Yếu tố di truyền có tác động quan trọng đến cách cơ thể sẽ tích mỡ ở đâu, chẳng hạn vùng đùi, mông hay bụng. Một số người có xu hướng tích mỡ nội tạng nhiều hơn dù tổng lượng mỡ không cao, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nghiên cứu đăng trên chuyên san Nature Reviews Endocrinology cho thấy yếu tố gien có ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố mỡ trong cơ thể, đặc biệt ở người châu Á. Đây là nhóm có nguy cơ tích mỡ nội tạng cao hơn ngay cả khi BMI bình thường.
Điều này giúp giải thích vì sao có những người ăn uống và sinh hoạt không quá khác biệt nhưng vẫn dễ bị bụng mỡ. Tuy nhiên, di truyền không phải yếu tố quyết định hoàn toàn. Lối sống vẫn có thể làm giảm hoặc khuếch đại thêm tình trạng này.
Một người có cân nặng bình thường chưa chắc đã có cơ thể khỏe mạnh. Điều quan trọng hơn là tỷ lệ giữa cơ và mỡ. Khi cơ bắp thấp, cơ thể đốt calo kém hơn, khiến phần calo dư thừa dễ tích tụ thành mỡ, đặc biệt là mỡ nội tạng.
Không phải cứ có tập thể dục là đủ để thâm hụt calo và giảm mỡ bụng. Nếu cường độ tập quá nhẹ hoặc không đủ kích thích cơ bắp, cơ thể sẽ không tiêu hao nhiều calo và mỡ nội tạng vẫn tích tụ.
Ngoài ra, lối sống ít vận động làm giảm khả năng sử dụng đường glucose của cơ bắp, khiến lượng đường glucose dư thừa dễ chuyển thành mỡ. Những người ngồi nhiều, ít hoạt động trong ngày dù thân hình ốm nhưng nguy cơ tích mỡ bụng cao vẫn cao hơn người vận động đều đặn.
Căng thẳng kéo dài không chỉ ảnh hưởng tâm lý mà còn tác động đến nội tiết. Khi cơ thể bị căng thẳng liên tục, hoóc môn cortisol được tiết ra nhiều hơn. Chúng làm tăng đường huyết và thay đổi cách cơ thể sử dụng calo.
Hệ quả là phần calo dư thừa dễ chuyển thành mỡ và tích tụ ở vùng bụng. Đây là lý do nhiều người dù ăn ở chế độ bình thường nhưng vẫn tăng mỡ bụng.
Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần ăn ít hoặc tránh đồ béo là đủ. Tuy nhiên, nếu khẩu phần ăn vẫn chứa nhiều đường hoặc tinh bột trắng thì khả năng tích mỡ nội tạng vẫn cao.
Vấn đề là nhiều người ăn các món này nhưng không nhận thức rõ, chẳng hạn như bánh mì, bánh bao, hủ tiếu, phở hay cà phê sữa. Chúng dễ làm tăng đường huyết, kéo theo sự tăng tiết hoóc môn insulin. Về lâu dài, điều này còn dẫn đến kháng insulin và làm tăng nguy cơ tiểu đường loại 2, theo Verywell Health.