Theo Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026 – 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn nhà nước là 8,51 triệu tỉ đồng, phần còn lại sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân và nước ngoài.
Phát biểu tại hội thảo “40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế” chiều 13.4, tại Hà Nội, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn đang đóng vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đến cuối năm 2024, tổng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỉ đồng, tăng 19,07% so với năm 2023. Trong đó, tín dụng cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%; tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh chiếm khoảng 46%.
“Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện đang cao hơn tốc độ huy động vốn, qua đó tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3 năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ tăng khoảng 0,31%.
Ngành ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, song nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng sẽ thiếu bền vững”, bà Tùng lưu ý.
Theo bà Tùng, thời gian qua, dù có nhiều giải pháp nhằm nâng hạng thị trường vốn, quy mô thị trường vẫn hạn chế. Cần phát triển thêm các nguồn vốn khác như quỹ đầu tư, để hỗ trợ doanh nghiệp theo những mô hình linh hoạt hơn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới, bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo 2 cấu phần chính: vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Với vốn chủ sở hữu, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.
Song song, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán tiến gần mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
“Một nguồn lực quan trọng khác là vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn”, bà Hạnh nói.
Khá lưu tâm khía cạnh Chính phủ dẫn dắt việc thành lập các quỹ đầu tư quốc gia, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup, phân tích, hiện Việt Nam đã có đề án thành lập quỹ nhà ở quốc gia.
Sẽ rất tốt cho giải bài toán vốn nếu Chính phủ có thể nghiên cứu và xem xét mô hình như: quỹ đầu tư hạ tầng nhằm giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; quỹ tăng trưởng quốc gia nhằm hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao như một số nước đã làm…
Nhấn mạnh hiện vấn đề lớn khi các dự án tiếp cận vốn ngoài ngân hàng là tính hấp dẫn còn thấp, theo vị này, phải nhanh chóng cải thiện điều này. Kinh nghiệm quốc tế là không nên làm dự án riêng lẻ mà gộp danh mục dự án.
“Về cải cách thị trường vốn, hiện Bộ Tài chính đã có đề án tái cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Hiệu quả triển khai sẽ cao hơn nếu như phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp vào chiều sâu, để nhiều doanh nghiệp ngoài ngân hàng tham gia hơn…”, ông Thuân nói.
Thông báo kết luận, UBND TP xác định phải đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Muốn vậy, TP.HCM không chỉ có những giải pháp kinh tế thuần túy, mà phải triển khai các giải pháp tổng thể khác và xác định việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới là một thách thức lớn.
Tuy vậy, theo UBND TP.HCM, có một số căn cứ quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đó là lợi thế của một địa phương luôn tiên phong thí điểm các cơ chế, chính sách, đi đầu trong đổi mới. Đặc biệt, thành phố đã và đang tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng với nhiều dự án lớn, nhất là hạ tầng giao thông, đường sắt đô thị, logistics. Ngoài nguồn vốn đầu tư công, thành phố huy động mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực tư nhân với quy mô, tỷ trọng ngày càng lớn.
Bên cạnh đó, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các cơ chế, chính sách đặc thù của Trung ương đã tạo ra những cú hích quan trọng, mở rộng không gian chính sách, tháo gỡ vướng mắc về thể chế và thủ tục đầu tư, giúp đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị, khởi công và triển khai nhiều dự án trọng điểm, quy mô lớn.
Đặc biệt, Trung ương đã thống nhất chủ trương ban hành cơ chế đặc thù mạnh mẽ hơn dành cho TP.HCM, trong đó, cho phép thành phố nghiên cứu xây dựng luật Đô thị đặc biệt, dự kiến trình Quốc hội khóa 16 xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ hai vào cuối năm 2026 sẽ là một “đòn bẩy cực lớn”, “đại cú hích” tạo thêm dư địa để thành phố phát huy đầy đủ vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước.
"Trong bối cảnh hiện nay, trọng tâm là bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định cho sản xuất và đời sống; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng xanh và hiệu quả; đồng thời nâng cao năng lực dự báo, điều hành và xây dựng các kịch bản ứng phó với các biến động năng lượng toàn cầu", theo thông báo .
Để thực hiện mục tiêu tăng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030, UBND TP.HCM nhấn mạnh phải bảo đảm ổn định, an ninh năng lượng. Cụ thể, giao Sở Công thương theo dõi, cảnh báo sớm về tình hình cung ứng năng lượng; rà soát tổng thể năng lực cung ứng xăng dầu, điện năng và các nguồn năng lượng khác trên địa bàn. Xây dựng các kịch bản bảo đảm cung ứng năng lượng phục vụ hoạt động phát triển kinh tế thành phố trước mắt trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 với nguồn cung ổn định, biến động mạnh về giá và khủng hoảng năng lượng và gián đoạn chuỗi cung ứng.
Sở Tài chính chủ trì theo dõi diễn biến chi phí năng lượng, đánh giá tác động đến chi phí sản xuất, vận tải và logistics; tham mưu các giải pháp điều hành giá và hỗ trợ doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tác động; khẩn trương nghiên cứu, tham mưu miễn phí hạ tầng logistics trên địa bàn thành phố.
Bên cạnh đó, giao các cơ quan liên quan đến quy hoạch, đầu tư và phát triển hạ tầng tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hệ thống giao thông đô thị, các tuyến đường sắt đô thị, hệ thống logistics, hạ tầng số và hạ tầng năng lượng, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu hút đầu tư.
Phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026.
Sở hữu hơn 30 khu công nghiệp (KCN) và nhiều nhà xưởng cho thuê tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, ông Trần Việt Anh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu Tư SCC (SCCI) - nêu thực trạng: Để xây dựng được một KCN hoàn chỉnh, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu rất lớn. Chẳng hạn, 1 KCN quy mô 400 ha thì ngay từ đầu đã phải đầu tư hạ tầng hết 400 ha đó. Thế nhưng, các KCN không thể ngay lập tức lấp đầy mà phải cần thời gian dài. Điều này nghĩa là thời gian hoàn vốn cho bất động sản công nghiệp (BĐS CN) là rất lớn.
Trong khi đó, đây là ngành khá nhạy cảm với những tác động từ bên ngoài. Chiến tranh vừa nổ ra là lập tức đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều khách hàng của SCCI chuẩn bị ký hợp đồng lập tức chậm lại, chờ, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty.
Thế nhưng, ông Trần Việt Anh cho rằng một điều bất hợp lý là NHNN, các ngân hàng thương mại hiện không tách riêng BĐS CN như 1 trường hợp riêng mà gom chung hết vào BĐS và không coi đây là 1 động lực phát triển kinh tế. Việt Nam là trường hợp rất riêng vẫn còn gom chung BĐS CN với các loại BĐS khác.
Ở Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, họ tách BĐS CN ra thành 1 dòng riêng, gắn với động lực sản xuất, gắn với hoạt động thương mại. Khi đã gắn BĐS CN với động lực sản suất thì định hướng dòng vốn của ngân hàng sẽ có khác. Các DN BĐS CN sẽ có lợi thế khi tiếp cận vốn tín dụng.
Để chứng minh quan điểm này, ông Trần Việt Anh dẫn chứng: Trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua, đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam do Tổng Bí Thư Tô Lâm dẫn đầu đã tới thăm KCN ở Hùng An. Nơi đây được nhà nước quy hoạch tổng thể ngay từ đầu, huy động nguồn tài chính lớn, chủ động nguồn nhân lực. Nhờ vậy, chỉ sau gần 10 năm, Hùng An đã thu hút tới 400 DN lớn, hình thành 1 hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp rất tốt.
Điển hình, tất cả thủ tục, kể cả tín dụng ở đây DN chỉ trong 1 tháng là hoàn thành xong. Ngân hàng cho vay đánh giá trên hiệu quả 1 dự án mang lại chứ không đánh giá trên tài sản thế chấp như tại Việt Nam. Có trường hợp 1 DN chỉ sau 10 năm về Hùng An hoạt động đã trở thành DN nằm top 3 nhà cung cấp giải pháp điện thông minh của Trung Quốc.
"Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc coi Hùng An là 1 cực tăng trưởng mới của Trung Quốc. Họ xác định rõ BĐS không phải để đầu cơ, mà là hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn. Vì thế, các chính sách của họ và nguồn tín dụng cũng được nắn theo hướng này. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng tôi phát triển 1 khu BĐS CN ở Gia Lai 20 năm, cho thuê giá rất thấp nhưng đến giờ mới lấp đầy khoảng 70%. Nếu vay ngân hàng hàng, chịu lãi suất 20 năm thì chỉ có "chết" - ông Việt Anh nói thẳng
Từ câu chuyện của Hùng An, Tổng giám đốc SCCI khẳng định: Vốn tín dụng cho BĐS nếu buông lỏng sẽ thành rủi ro nhưng nếu niểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Việt Nam cần thống nhất quan điểm coi BĐS là động lực tăng trưởng, nhất là BĐS CN, logistics. Từ đó, nhận diện vấn đề không phải siết hay nới mà là định hướng dòng vốn.
Ông đề xuất: Cơ quan quản lý cần phân loại tín dụng bất động sản theo mục tiêu sử dụng, ưu tiên cho bất động sản công nghiệp, logistics. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế tín dụng dài hạn, phù hợp chu kỳ đầu tư. Quan trọng là kiểm soát tín dụng dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Cuối cùng là cần nhìn nhận bất động sản nói chung như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.
"Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn. Nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ. Nếu chúng ta chỉ nhìn bất động sản dưới góc độ rủi ro tín dụng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội. Nếu nhìn đúng bản chất, bất động sản chính là hạ tầng của tăng trưởng" - ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.
Tại diễn đàn thảo luận "Đầu tư bắt đầu từ bảo vệ" do Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ FWD Việt Nam (FWD Việt Nam) tổ chức, diễn ra chiều 10.4 tại TP.HCM, các chuyên gia cho rằng một trong những vấn đề lớn của thị trường bảo hiểm nhân thọ thời gian qua là việc hiểu chưa đúng về các sản phẩm có yếu tố đầu tư, đặc biệt là bảo hiểm liên kết đơn vị.
Theo ông Ngô Trung Dũng - Phó tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, nếu nhìn lại quá trình phát triển của bảo hiểm nhân thọ có thể thấy sản phẩm luôn phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.
Trước đây, bảo hiểm chủ yếu đáp ứng nhu cầu bảo vệ trước rủi ro. Tuy nhiên, khi đời sống kinh tế cải thiện, người dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tích lũy tài sản, đầu tư tài chính và hoạch định dài hạn. Chính vì vậy, các sản phẩm bảo hiểm có yếu tố đầu tư ra đời như một bước phát triển tự nhiên của thị trường. Đây là dòng sản phẩm kết hợp giữa bảo vệ và đầu tư, vừa giúp khách hàng phòng ngừa rủi ro, vừa mở ra cơ hội tích lũy tài sản trong dài hạn. Tuy nhiên, cũng từ đây xuất hiện nhiều cách hiểu chưa đầy đủ, dẫn đến kỳ vọng sai lệch. Đầu tiên là nhiều khách hàng chỉ nhìn vào yếu tố đầu tư mà bỏ qua bản chất bảo hiểm của sản phẩm.
"Đây là sản phẩm kết hợp, vừa có phần bảo vệ vừa có phần đầu tư. Nếu chỉ tập trung vào đầu tư, khách hàng rất dễ kỳ vọng sai về sản phẩm", ông nói. Thực tế, với các sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị, yếu tố bảo vệ vẫn là nền tảng cốt lõi. Phần đầu tư đóng vai trò hỗ trợ gia tăng giá trị tài sản nhưng không thay thế chức năng bảo vệ tài chính cho người tham gia và gia đình.
Hiểu lầm thứ hai đến từ việc kỳ vọng lợi nhuận quá cao. Theo các chuyên gia, trong một số giai đoạn trước đây, hoạt động tư vấn từng nhấn mạnh nhiều vào khả năng sinh lời, khiến khách hàng hình dung đây là một kênh đầu tư có thể mang lại mức lợi nhuận cao, thậm chí 20 - 30% mỗi năm.
"Việc nhấn mạnh quá nhiều vào lợi nhuận mà chưa giải thích đầy đủ yếu tố bảo vệ đã khiến khách hàng hiểu sai bản chất sản phẩm", ông Dũng nhận định. Trong khi đó, với đặc thù của sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị, lợi nhuận không được cam kết mà phụ thuộc vào diễn biến thị trường và danh mục đầu tư. Vì vậy, việc kỳ vọng mức sinh lời cao trong ngắn hạn là không phù hợp.
Hiểu lầm thứ ba là việc nhiều người tiếp cận sản phẩm bảo hiểm với tâm lý đầu tư ngắn hạn. Theo ông Dũng, đây là cách tiếp cận sai, bởi bản chất của bảo hiểm nhân thọ là một giải pháp tài chính dài hạn. "Yếu tố đầu tư trong bảo hiểm không phải là công cụ lướt sóng. Đây là đầu tư gắn với kế hoạch tài chính dài hạn và phải đi cùng yếu tố bảo vệ", ông nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, bà Dương Kim Anh - Giám đốc đầu tư Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank cho rằng, khi nhắc đến đầu tư, phần lớn nhà đầu tư đều nghĩ đến lợi nhuận. Tuy nhiên với bảo hiểm nhân thọ thì yếu tố đầu tiên cần nhìn nhận vẫn là tính dài hạn. "Không ai tham gia bảo hiểm nhân thọ chỉ để nghĩ đến một vài tháng hay một năm. Người ta hướng đến sự an tâm lâu dài cho bản thân và gia đình", bà nói.
Theo bà Kim Anh, khi yếu tố đầu tư được tích hợp trong sản phẩm bảo hiểm, bản thân phần đầu tư đó cũng phải phù hợp với tính chất dài hạn. Việc đánh giá hiệu quả đầu tư trong ngắn hạn hoặc so sánh trực tiếp với các kênh đầu tư thuần túy là không phù hợp.
Một điểm quan trọng khác được các chuyên gia nhấn mạnh là yếu tố rủi ro. Bà Kim Anh nhấn mạnh, không có kênh đầu tư nào hoàn toàn không có rủi ro, kể cả những kênh được xem là an toàn như gửi tiết kiệm. Các thị trường như vàng, chứng khoán, bất động sản đều có biến động. Nếu kỳ vọng lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro đi kèm cũng càng lớn. Do đó, nhà đầu tư cần hiểu rõ khẩu vị rủi ro của mình, bao gồm khả năng chịu biến động, thời gian đầu tư và mục tiêu tài chính. Khi xác định được những yếu tố này, việc lựa chọn sản phẩm phù hợp sẽ trở nên thực tế và hiệu quả hơn.
Tại diễn đàn, các ý kiến đều thống nhất rằng cần định vị lại đúng vai trò của bảo hiểm trong tổng thể kế hoạch tài chính cá nhân. Trong đó, bảo vệ phải là nền tảng trước khi tính đến đầu tư và tích lũy.
Cũng trong khuôn khổ sự kiện, FWD Việt Nam đã ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị mới "FWD Đầu tư đón đầu". Sản phẩm được giới thiệu là đáp ứng đồng thời hai nhu cầu bảo vệ tài chính và đầu tư tăng trưởng tài sản, có các đặc điểm như linh hoạt lựa chọn kế hoạch bảo vệ, thưởng định kỳ và cho phép khách hàng chủ động phân bổ danh mục đầu tư.
Ông Phương Tiến Minh cho biết: "Bảo vệ tài chính vẫn là nền tảng cốt lõi của bảo hiểm nhân thọ. Các sản phẩm mới cần giúp khách hàng vừa được bảo vệ, vừa có thêm công cụ để hoạch định tài chính dài hạn".