Tôi sinh ra, lớn lên rồi là một cô giáo lành lặn. Thế nhưng, vào đầu năm thứ hai giảng dạy ở Trường THPT Tân Thành (xã Tân Thành A, khu vực huyện Tân Hồng cũ, tỉnh Đồng Tháp) tai nạn giao thông ập đến ngay trên đường tôi đi vận động học sinh ra lớp.
Những ngày đầu tỉnh dậy, tôi hụt hẫng tột cùng khi biết mình mất đi một bên chân. Từ một người đang trong tuổi thanh xuân, mang nhiều hoài bão và đang đầy nhiệt huyết với nghề, tôi bỗng chốc trở thành người khuyết tật.
Tôi còn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử. Những lời miệt thị như “con nhỏ cụt giò” hay những sự so sánh thiếu tôn trọng “tao thà lấy Thị Nở chứ không lấy người mất chân như cô Tâm”… thực sự rất đau lòng. Tôi chỉ biết khóc, rồi lại tự nhủ phải mạnh mẽ để đi tiếp.
Tôi sốc, buồn cho số phận, nhưng rồi tôi chọn cách đối mặt để vượt lên chính mình, bắt đầu hành trình “đứng dậy” theo đúng nghĩa đen.
Để có thể đi lại, tôi tập làm quen với các dụng cụ hỗ trợ như nạng, chân giả… Lần đầu tiếp xúc với chiếc chân giả, mọi thứ không hề như tôi tưởng tượng. Để mang được chân, tôi phải quấn nhiều lớp băng thun, lồng phần mỏm cụt vào ổ mỏm cụt (socket) và dùng một sợi dây đai choàng qua người để giữ chân giả bám vào cơ thể.
Mang chân lâu ngày thường bị hầm nóng, bọng nước, vỡ ra đau rát. Mỗi bước đi khi ấy là mỗi lần tôi phải cắn răng, nén nước mắt. Nhưng tôi vẫn cố gắng để đứng lớp, để có thu nhập lo cho mẹ già đau yếu và cuộc sống của hai mẹ con.
Khó khăn chưa dừng lại ở đó. Những khi dây đeo đứt, bàn chân hư, vỏ bọc hỏng hay khớp gối có vấn đề, tôi lại phải khăn gói từ Cao Lãnh lên TP.HCM để chỉnh sửa. Có lần đi đường xa, trời nắng hầm làm chân tuột ra rơi xuống đường – một tình huống dở khóc dở cười, buồn tủi và đau đớn.
Mỗi lần sửa chữa hay thay thế bộ phận là một lần tôi lo lắng về kinh phí. Với đồng lương ít ỏi của nghề giáo, vừa lo cho mẹ già, tôi phải tằn tiện, chắt chiu từng đồng, có những khi không dám ăn, dám mặc.
Sau này, may mắn được nhà hảo tâm hỗ trợ loại chân giả sử dụng kỹ thuật hút chân không với silicon, việc lắp chân trở nên dễ dàng hơn. Từ khi có được chiếc chân giả tốt hơn, cuộc sống của tôi như bước sang một trang mới.
Tôi không chỉ có thể tự tin đứng trên bục giảng mà chân còn giúp tôi đi lại vững vàng hơn, giúp tôi có thể đi đến tận nhà những hoàn cảnh khó khăn, hay tham gia nhiều chuyến thiện nguyện nơi xa.
Tôi thử sức với những điều mà trước đây chưa dám nghĩ tới như tham gia chạy marathon 4 lần, chơi nhiều môn thể thao… Đặc biệt, tôi tham gia các hoạt động xã hội tích cực hơn và sáng lập học bổng dành cho học sinh khó khăn. Có đôi chân tốt, tôi có thể mang niềm tin và nghị lực lan tỏa đến nhiều người hơn nữa.
Nhưng chi phí cho chân giả tốt khá cao. Tôi thường trăn trở về nỗi khổ của những người khuyết tật như mình, thấy thật buồn cho ai không đủ tài chính, cũng không được tặng chân, thì cuộc sống chống nạng sẽ buồn và bất tiện đến mức nào.
Từ trải nghiệm của mình, tôi hiểu rằng dụng cụ hỗ trợ chính là “chìa khóa” đầu tiên để người khuyết tật tự tin hòa nhập. Với một người có công việc ổn định như tôi còn khá lo lắng về chi phí cho các thiết bị này thì thiết nghĩ các bạn đồng cảnh như tôi thậm chí những bạn có thu nhập thấp, chưa có việc làm thì thực sự đây là nỗi trăn trở rất lớn.
Dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm, nhưng thực tế đa số người khuyết tật vẫn có cuộc sống khó khăn, kinh tế bấp bênh, nhiều người chưa có việc làm ổn định. Do đó, tôi xin có những đề xuất:
• Chính sách hỗ trợ dụng cụ trợ giúp và bảo trì định kỳ: Mong Nhà nước và các tổ chức xã hội quan tâm tạo quỹ hoặc đưa vào danh mục bảo hiểm y tế để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí làm chân tay giả, xe lăn…
Đặc biệt ưu tiên cho người trong độ tuổi lao động và học tập. Một dụng cụ đạt chuẩn, chất lượng sẽ giúp người dùng đi lại tự nhiên, giảm thiểu đau đớn và ngăn ngừa các thương tật thứ phát về xương khớp. Những khen thưởng dành cho người khuyết tật tiêu biểu có thể kèm theo các gói hỗ trợ thiết thực này như một sự ghi nhận ý nghĩa.
• Xây dựng các trung tâm tư vấn và lắp đặt chuyên sâu: Để mỗi người khuyết tật đều được tiếp cận thiết bị phù hợp nhất với tình trạng thể chất và vận động của mình.
• Thay đổi tư duy về dụng cụ hỗ trợ: Mong mọi người nhìn nhận các thiết bị này không phải là “quà từ thiện”, mà là công cụ đầu tư để người khuyết tật có thể tự lập, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và tạo ra giá trị cho xã hội.
Chỉ khi có phương tiện tốt để bước đi, chúng tôi có thể tự tin hòa nhập, cống hiến cho cộng đồng và xã hội chúng ta sẽ thực sự đúng theo tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau.
Hôm 1/4, Văn phòng Cảnh sát trưởng quận Gila, bang Arizona cho biết đã xác định được tung tích của Christina Marie Plante. Người phụ nữ này từng là tâm điểm của cuộc tìm kiếm quy mô lớn sau khi biến mất không dấu vết tại thị trấn Star Valley vào tháng 5/1994.
Khi đó, Christina 13 tuổi, tóc vàng, mắt xanh, được báo cáo mất tích trên đường đến chuồng ngựa gần nhà. Giới chức nhận định vụ việc có nhiều dấu hiệu khả nghi và nghiêng về giả thuyết nạn nhân bị bắt cóc. Hình ảnh cô bé được đưa vào cơ sở dữ liệu trẻ em mất tích quốc gia, cùng tờ rơi rải khắp liên bang.
Tuy nhiên, ngày 3/4, cơ quan chức năng xác nhận Christina tự bỏ trốn để bắt đầu cuộc sống mới. Nhờ sự hỗ trợ của các kỹ thuật điều tra hiện đại, cảnh sát đã tìm ra nơi ở của cô.
Đại úy Jamie Garrett, người trực tiếp thụ lý hồ sơ, cho biết sau khi trò chuyện với Christina, cảnh sát xác định nguyên nhân sâu xa là do cô bé ngày đó không hạnh phúc với gia đình. Cô chủ động bỏ đi và sống cùng một người họ hàng xa.
"Đó là chuyện của quá khứ, một cuộc đời cũ. Tôi đã có gia đình riêng và không bận tâm chuyện ngày xưa", Plante giải thích với cảnh sát. Người phụ nữ thừa nhận đã sử dụng danh tính giả hơn 30 năm qua và từ chối chia sẻ thêm về đời tư.
Theo luật pháp Mỹ, vụ việc sẽ không dẫn đến cáo buộc hình sự nào. Thời điểm năm 1994, Christina mới 13 tuổi. Việc một trẻ vị thành niên tự bỏ nhà đi không bị coi là tội phạm. Christina sống dưới danh tính giả nhưng không có yếu tố lừa đảo nên cũng không bị truy cứu trách nhiệm.
Giữa tháng 3, xã Sơn Lộ, tỉnh Cao Bằng chào đón đoàn tình nguyện "Kỷ yếu trên bản" bằng một trận mưa rừng. Con đường đất dẫn vào xã vốn đã khó đi, nay biến thành những rãnh bùn đỏ quạch. Những chiếc ôtô chở gần 100 thành viên phải nhích từng mét. Nhiều lần họ phải xuống đẩy xe vượt vũng lầy.
"Cảnh chúng tôi hay gặp trong 7 năm đi chụp ảnh ở vùng cao", Lưu Minh Khương, 32 tuổi, trưởng đoàn nói. "Mỗi lần thấy mệt mỏi, tôi lại nhớ nụ cười của đám trẻ khi thấy mình trong khung hình làm động lực".
Khương là người dân tộc Tày, quê ở bản Cây Thị, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cũ (nay là Bắc Ninh), làm nhiếp ảnh tự do tại Hà Nội. Năm 2019, trong chuyến đi săn ảnh tại Y Tý (Lào Cai), anh mang theo chiếc máy in ảnh. Thấy đám trẻ vây quanh, anh chụp và in tặng vài tấm.
"Hôm đó tôi chỉ mang đủ giấy in 5 tấm ảnh. Những đứa trẻ còn lại chạy theo xe, ánh mắt hụt hẫng khi thấy bạn có ảnh còn mình thì không khiến tôi áy náy", chàng trai 32 tuổi kể. Anh tự hứa sẽ quay lại để tất cả đều có ảnh.
Từ tiếc nuối đó, Khương nảy ra ý tưởng chụp ảnh kỷ yếu cho mọi học sinh từ mầm non đến trung học cơ sở vùng cao. Thời gian đầu chỉ có anh và mấy người bạn cùng làm. Với thu nhập của thợ ảnh tự do, việc tự túc kinh phí cho những chuyến đi dài ngày là bài toán khó. Anh dành dụm tiền lương, tranh thủ ngày trống lịch khách để lên đường. Họ thường chỉ đến được một, hai trường mỗi năm. Có chuyến, Khương một mình chạy xe máy hàng trăm km, mang theo máy ảnh, máy in lên với lũ trẻ. Anh thường xin ngủ nhờ tại các điểm trường để tiết kiệm.
"Có đêm nằm lại bản, tôi trằn trọc về những điểm trường tiếp theo sẽ làm thế nào, tự hỏi liệu việc này có thay đổi được gì không. Nhưng chính những cái ôm của đám trẻ khi nhận ảnh là động lực cho tôi bước tiếp", chàng trai Bắc Giang nói.
Bước ngoặt đến vào năm 2023 khi các video về hành trình của Khương lan truyền trên mạng xã hội, hút hàng triệu lượt xem. Hơn 1.000 người từ mọi miền đã đăng ký làm tình nguyện viên, đồng hành cùng anh. Dự án "Kỷ yếu trên bản" ra đời với đội ngũ nòng cốt 20 người và hàng trăm tình nguyện viên thay đổi theo từng mùa. Kinh phí đi lại do các thành viên tự túc, chi phí in ấn, khung ảnh do cộng đồng đóng góp.
Khương kể khó khăn nhất khi chụp trẻ vùng cao là các em chưa quen ống kính. Thấy máy ảnh, nhiều bé bỏ chạy. Để tiếp cận, nhóm tổ chức nấu trà sữa, bày gian hàng quà bánh. Khi các em bắt đầu chơi đùa, những chiếc máy ảnh mới hoạt động.
"Chúng tôi không yêu cầu các bé tạo dáng, thậm chí giữ nguyên những vệt lấm lem trên tay hay đôi má nẻ. Đó mới là vẻ đẹp", Khương nói. Ảnh được chỉnh sửa, in và đóng khung ngay tại chỗ.
Gắn bó hơn ba năm với dự án, anh Minh Phụng, 38 tuổi, thợ ảnh ở Tuyên Quang, cho biết chuyến đi xã Sơn Lộ hồi tháng 3 là mùa kỷ yếu đặc biệt nhất. Nhóm phải di chuyển lên điểm lẻ Thôm Ngàn của trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Sơn Lập, cách trường chính hơn 15 km. Đường đi chỉ vừa lọt một bánh xe máy, một bên vách đá, một bên vực sâu. Giữa núi rừng không sóng điện thoại, cả nhóm phải vừa đi vừa hỏi đường dân bản.
"Mất gần ba tiếng đến nơi, quần áo đầy bùn đất nhưng thấy đám trẻ mặc đồ đẹp đợi sẵn giữa sân, mệt mỏi tan biến", anh Phụng nói. Chuyến đi này, nhóm còn vào nhà chụp ảnh chân dung tặng các cụ già và cựu chiến binh, những người mà bức ảnh rõ nét nhất họ có là căn cước công dân.
Ông Đàm Văn Thắng, Phó bí thư Đảng ủy xã Sơn Lộ, cho biết đây là lần đầu học sinh địa phương được chụp kỷ yếu. Sơn Lộ là xã vùng cao đặc biệt khó khăn với 5 dân tộc thiểu số chung sống. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm hơn 45%; 3 xóm và 12 nhóm hộ chưa có điện lưới quốc gia. "Nhiều gia đình nhận được ảnh, trân trọng treo ở vị trí cao nhất trong nhà", ông Thắng nói.
Cầm tấm hình trên tay, Hoàng Thị Phương, học sinh lớp 8A trường Sơn Lập, khóc. Trong ảnh, Phương mặc đồ dân tộc Mông đứng giữa sân trường. "Nhà không có điện thoại chụp hình. Em sẽ giữ bức ảnh này vì có thể đây là lần duy nhất em được chụp", cô bé nói.
Bảy năm qua, hơn 10.000 khung ảnh từ "Kỷ yếu trên bản" được trao đi khắp các tỉnh Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang. Những lá thư tay viết lời nhắn "Cháu nhớ chú lắm", "Chú đợi cháu đậu đại học xuống dưới xuôi nhé" là động lực để cả nhóm tiếp tục hành trình.
"Mong mỏi của tôi là sau này đi xa bản làng, các em nhìn lại ảnh để nhớ mình có một tuổi thơ nơi vùng cao", Khương nói.
Cuối tháng 3 vừa qua, đoạn video thu hút trên mạng xã hội chia sẻ nội dung về phong cách sống xa xỉ ở Dubai thuộc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nhận được hàng chục nghìn lượt tương tác.
Video nhanh chóng thu hút sự chú ý khi ghi lại hình ảnh một người phụ nữ khoác trên mình trang phục như áo giáp, được tạo thành bởi những mảnh kim loại vàng óng ánh phủ từ đầu tới chân.
Điều khiến cộng đồng đặc biệt quan tâm đó là "khối lượng vàng" lớn xuất hiện trong video. Trang phục gồm vương miện, giáp ngực, đai lưng và các chi tiết bọc ngón tay, tạo cảm giác như được chế tác hoàn toàn từ vàng nguyên khối.
Tuy nhiên, nhiều người bày tỏ hoài nghi về đoạn video này. Một số ý kiến cho rằng nếu thực sự là vàng thật, trọng lượng của bộ trang phục sẽ lớn đến mức người mặc khó có thể di chuyển.
Sau đó, nhân vật chính trong video được xác định là Oleve Love - nhà sáng tạo nội dung người Indonesia. Người này cũng lên tiếng xác nhận về nguồn gốc của video.
Hình ảnh phía sau hậu trường của đoạn video do cô gái người Indonesia đăng tải cho thấy bộ trang phục không chỉ gồm những tấm kim loại màu vàng, còn có những "miếng vàng" dạng thẻ còn nguyên trong bao bì.
Trên thực tế, những đám cưới ở khu vực Trung Đông vốn gắn liền với hình ảnh của vàng. Món kim loại quý này là một trong những vật phẩm không thể thiếu trong văn hóa cưới hỏi của người dân địa phương.
Sức hút của vàng đến từ thực tế rằng, Dubai từ lâu được mệnh danh là "thành phố vàng".
Trong nhiều nền văn hóa Trung Đông và Nam Á, vàng không chỉ là trang sức mà còn là biểu tượng của sự giàu có, địa vị và an toàn tài chính. Đây cũng là phần quan trọng trong sính lễ (mahr) mà chú rể dành cho cô dâu.
Tại các khu chợ nổi tiếng như Deira Gold Souk, các cô dâu tương lai thường lựa chọn những bộ trang sức cầu kỳ, có thể nặng tới vài cân vàng.