Tôi là một giáo viên Hóa học. Đứng trên giảng đường đại học, tôi không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những sinh viên từng nổi bật về Hóa ở cấp ba (kể cả với một số em đi thi Học sinh giỏi Hóa) bỗng dưng xa lạ với chính môn học mà các em từng yêu thích một thời. Thật khó tin khi các nguyên lý cơ bản của Hóa cơ sở và Hóa nhiệt động – nền tảng kiến thức vững chắc – lại có thể “bốc hơi” một cách nhanh chóng như chưa từng tồn tại.
Ở Việt Nam, có một bộ môn vừa đặc biệt, vừa “khó nhằn”, vừa “độc nhất vô nhị” mà nhiều nước hiếm thấy, các thế hệ học sinh thường gọi vui là “Toán Văn Hóa học”. Đây là bộ môn mà học sinh không chỉ học Hóa, mà còn phải “đánh vật” giải những bài tập tính toán “khủng”, thậm chí là “siêu khủng” như: biến đổi liên quan đến hệ phương trình bậc 4, bậc 5, hệ nhiều ẩn, có những bài chiếm tới 1/3 trang giấy A4. Các bài tập này dài, phức tạp và yêu cầu logic cao đến mức học sinh dễ bị cuốn vào việc tính toán mà quên đi kiến thức cơ bản.
Điều bất ngờ là, ngay cả những học sinh từng nổi bật về Hóa học ở phổ thông, khi bước lên giảng đường đại học, lại bỡ ngỡ với những nguyên lý tưởng chừng đơn giản của Hóa học cơ sở và Hóa học nhiệt động. Nhiều em có thể giải các bài toán dài, nhưng lại quên đi những nguyên tắc nền tảng mà môn học dựa trên đó. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu áp lực về tính toán có đang vô tình làm phai nhạt nền tảng kiến thức cơ bản của học sinh?
Hệ lụy của việc “Toán hóa” quá mức môn Hóa học không còn là điều dự báo mà đã trở thành hiện thực. Trong vai trò giảng dạy Hóa học cơ sở ở bậc đại học, tôi không khỏi bàng hoàng khi nhận thấy sinh viên thường sai nhiều nhất ở những kiến thức tưởng chừng hết sức cơ bản: vẽ công thức cấu tạo, dự đoán hình học phân tử hay ước lượng góc liên kết. Thậm chí, nhiều em còn sai “hết sức vô lý” như vẽ oxygen hóa trị I, carbon hóa trị V, silicon hóa trị III, hay những lỗi vi phạm quy tắc bát tử (mặc dù không thuộc trường hợp ngoại lệ)…
Ngay cả trong học phần Hóa nhiệt động, nơi tính toán chiếm ưu thế, sinh viên có thể dùng máy tính để ra đáp số pH trong vài giây, nhưng khi được tôi yêu cầu chứng minh công thức đơn giản như: pH = 1/2 (pKₐ – logCₐ) (công thức tính pH của acid yếu), thì các em lại hoàn toàn bế tắc. Khi “chiếc gậy” là các dạng toán làm sẵn bị tước bỏ, tư duy Hóa học của các em lộ rõ những lỗ hổng thênh thang.
>> ‘Đáng lo khi học sinh né Lý, Hóa, Sinh thi tốt nghiệp THPT’
Một ví dụ điển hình của một bài tập dạng “Toán Văn Hóa học” là: “Hỗn hợp P gồm ba ester mạch hở trong đó có hai ester đơn chức X, Y (MX < MY < 110, nX > nY) và một ester đa chức Z. Cho 5,07 gam P vào 32,00 gam dung dịch NaOH 10% rồi cô cạn dung dịch sau khi các phản ứng kết thúc thấy thu được 5,96 gam phần rắn Q và phần hơi T (gồm hơi nước và hỗn hợp hai alcohol no có cùng số nguyên tử carbon trong phân tử). Thêm bột CaO và NaOH dư vào Q rồi nung hỗn hợp trong bình chân không thấy thu được hỗn hợp hai hydrocarbon, hỗn hợp này làm mất màu vừa đủ 0,02 mol Br₂ trong dung dịch. Đốt cháy hết phần hơi T thu được 2,016 lít khí CO₂ và 31,23 gam H₂O. Các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính phần trăm khối lượng của Z trong P?”.
Để giải được bài tập trên, học sinh phải:
– Theo dõi nhiều dữ kiện phức tạp và tính toán nối tiếp;
– Áp dụng phản ứng xà phòng hóa, phản ứng với Br₂, định luật bảo toàn khối lượng;
– Tính toán số mol, khối lượng, liên hệ các phản ứng để tìm thành phần Z.
Mặc dù bài toán dài và nhiều bước, bản chất hóa học của các phản ứng này không phức tạp. Tuy nhiên, chính số liệu rườm rà và bước tính toán nối tiếp khiến học sinh dễ quên đi các kiến thức nền tảng: cơ chế phản ứng, bản chất phân cực của liên kết C=O trong ester, ảnh hưởng của cấu trúc phân tử đến nhiệt độ sôi của alcohol.
Mặt khác, nếu giáo viên yêu cầu các em: biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O trong nhóm chức ester; hoặc hỏi “tại sao hai alcohol no cùng số nguyên tử carbon lại có nhiệt độ sôi khác nhau?”, thì nhiều em sẽ lúng túng, dù vẫn giải được bài toán tính phần trăm khối lượng Z một cách cơ học. Đây là minh chứng rõ ràng rằng việc tập trung quá nhiều vào kỹ năng tính toán dài dòng khiến tư duy hóa học cơ bản bị bỏ quên, dẫn đến nghịch lý: học sinh có thể giải được bài toán trong phút chốc, nhưng lại không hiểu bản chất của chính các chất mình đang thao tác.
Sở dĩ phương pháp dạy và học này trở nên “độc hại” là bởi nó vi phạm nghiêm trọng thuyết Tải nhận thức (thuyết “tam tải”, Cognitive Load Theory):
Thứ nhất, tải nội tại (phát sinh từ bản chất phức tạp của môn học) bị đẩy quá cao: độ khó của Hóa học lẽ ra nằm ở cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, nhưng nay lại bị đánh tráo bằng sự lắt léo của toán học (phương trình bậc cao, hệ nhiều ẩn). Não bộ bị buộc phải ưu tiên xử lý thuật toán thay vì thấu hiểu quy luật vật chất.
Thứ hai, tải ngoại lai (đến từ cách trình bày hoặc phương pháp dạy học) quá tải: những đề bài dài “như một bài văn” và ma trận số liệu vụn vặt chính là “rác nhận thức”. Chúng chiếm dụng hết bộ nhớ ngắn hạn, khiến học sinh kiệt sức vì những phép tính số học thuần túy trước khi kịp chạm đến tư duy Hóa học.
Thứ ba, tải liên quan (phát sinh khi học sinh kết nối kiến thức mới với kiến thức cũ) bị triệt tiêu: đây là phần quan trọng nhất để hình thành kiến thức bền vững. Khi hai loại tải trên quá lớn, não bộ không còn không gian để kết nối và ghi nhớ bản chất.
Hệ quả là chúng ta đang đào tạo nên những “thợ giải toán” có phản xạ cực tốt với các con số, nhưng lại rỗng tuếch về tư duy Hóa học. Đó có lẽ là lý do mà sinh viên của tôi có thể giải hệ phương trình 4 hay 5 ẩn rất nhanh, nhưng lại “đứng hình” khi yêu cầu vẽ một công thức cấu tạo hay chứng minh một công thức pH căn bản – những kiến thức lẽ ra phải nằm trong bộ nhớ dài hạn.
Thực tế, học sinh sợ Hóa không phải vì ghét môn học này, mà vì các em bị kiệt sức trước những ma trận số liệu đa chiều. Khi Hóa học vượt ra khỏi không gian ba chiều quen thuộc, nó không còn là câu chuyện về sự kỳ diệu của vật chất, mà trở thành một cuộc chạy đua giải toán khô khan, nơi ống nghiệm và bản chất Hóa học chỉ còn là những cái tên xa lạ.
Hóa học là khoa học về cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, từ phản ứng cơ bản trong phòng thí nghiệm đến những ứng dụng thực tiễn sâu rộng trong đời sống. Khi môn học bị “Toán hóa” quá mức, học sinh dễ bị cuốn vào các bài toán dài, phức tạp, và quên đi bản chất thực sự của hóa học: hiểu cấu tạo phân tử, dự đoán tính chất, và giải thích các hiện tượng hóa học.
Trong thực tiễn, những kiến thức cơ bản này vô cùng quan trọng: hiểu tính chất acid – base giúp kiểm soát pH trong xử lý nước; nắm cấu tạo và phản ứng hữu cơ là nền tảng để sản xuất thuốc, polymer, hoặc vật liệu mới; dự đoán tương tác hóa học giúp thiết kế thực phẩm, mỹ phẩm hay chất tẩy rửa an toàn. Khi học sinh chỉ biết “giải bài toán” mà không hiểu cơ chế, các em sẽ khó áp dụng hóa học vào các tình huống thực tế, từ phòng thí nghiệm đến đời sống hằng ngày.
Để khắc phục, chúng ta cần tái cân bằng cách dạy Hóa học đúng bản chất: giảm tải các bài toán rườm rà, nhấn mạnh cơ chế, nguyên lý và tư duy phân tích, kết hợp lý thuyết với thực hành và ứng dụng thực tiễn. Khi học sinh nắm vững nền tảng, các em không chỉ giải được bài toán, mà còn có khả năng vận dụng hóa học một cách sáng tạo, từ việc kiểm soát pH, thiết kế phản ứng hóa học, đến phát triển vật liệu và dược phẩm. Như vậy, Hóa học không còn là những con số trên giấy, mà là công cụ để hiểu và tác động lên thế giới xung quanh, đúng với bản chất khoa học của nó.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có những bài tập nặng tính toán, chúng ta sẽ không thể phân loại được học sinh khá, giỏi. Tôi không đồng tình. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang nhầm lẫn giữa năng lực giải Toán và tư duy Hóa học, và từ đó chọn cách dễ nhất: dùng độ phức tạp của Toán học để làm thước đo cho môn Hóa.
Thực chất, một học sinh giỏi Hóa không phải là người giải nhanh những hệ phương trình nhiều ẩn, mà là người hiểu sâu bản chất và có khả năng suy luận từ nguyên lý. Việc phân loại hoàn toàn có thể thực hiện bằng những tiêu chí đúng bản chất hơn: tư duy biện luận dựa trên cơ chế; khả năng thiết lập mô hình và chứng minh; năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một thang đo sai sẽ cho kết quả sai. Nếu tiếp tục dùng độ rối của phép tính để đánh giá năng lực, chúng ta sẽ chỉ tạo ra những “thợ giải” thành thạo con số nhưng thiếu hụt tư duy khoa học. Điều cần hướng tới là những học sinh có khả năng hiểu sâu và suy luận trong thế giới vật chất ba chiều – nơi Hóa học thực sự tồn tại, chứ không phải những người chỉ giỏi thao tác trong “không gian đa chiều” của các phương trình.
Ba năm trước, tôi mua một căn hộ chung cư ở Hà Nội với giá khoảng 3 tỷ đồng. Khi đó, quyết định mua nhà của tôi chỉ đơn giản là để có một chỗ ở ổn định, không phải lo chuyện thuê nhà mỗi năm một giá. Tôi không nghĩ nhiều đến chuyện đầu tư hay sinh lời.
Đến nay, căn hộ đó được môi giới định giá khoảng 6 tỷ đồng. Con số tăng gấp đôi chỉ sau vài năm, nếu nhìn trên giấy tờ, rõ ràng là một khoản "lãi" không nhỏ. Bạn bè xung quanh nghe vậy thường tấm tắc chúc mừng tôi vì đã có một quyết định tài chính sáng suốt. Nhưng thật lòng, tôi không biết mình có nên gọi đó là "lời" hay không?
Vì nếu bán đi, tôi sẽ ở đâu? Giá nhà xung quanh cũng đã tăng tương ứng, thậm chí còn cao hơn. Số tiền 6 tỷ đồng cầm trong tay nghe có vẻ lớn, nhưng để mua một căn tương đương, hoặc thậm chí thấp hơn một chút, tôi gần như phải bỏ thêm tiền. Còn nếu không mua, quay lại đi thuê, thì cảm giác "lãi" kia cũng trở nên rất mơ hồ.
Nói cách khác, tài sản của tôi tăng giá, nhưng khả năng tiếp cận một tài sản tương tự cũng bị đẩy xa hơn. Khoản "lãi" đó nằm trên giấy nhiều hơn là trong túi. Điều khiến tôi băn khoăn là mặt bằng giá chung cư hiện nay. Có những dự án được chào bán với mức gần 100 triệu đồng mỗi m2. So với vài năm trước, đó là một bước nhảy rất lớn.
>> Món hời khi tôi liều mua chung cư 1,54 tỷ vùng ven Sài Gòn
Người ta thường giải thích bằng quy luật cung - cầu: nhu cầu cao thì giá tăng. Nhưng tôi tự hỏi, nhu cầu ở đây thực sự đến từ đâu? Nếu là nhu cầu ở thực, thì có lẽ phải phản ánh được khả năng chi trả của phần đông người mua nhà. Nhưng nhìn quanh, không khó để thấy nhiều người trẻ, những gia đình có thu nhập trung bình, ngày càng xa vời với giấc mơ sở hữu nhà ở thành phố.
Một phần của "cầu" có thể đến từ dòng tiền đầu tư. Khi nhiều người có tiền nhàn rỗi mua thêm bất động sản để giữ tài sản hoặc cho thuê, họ vẫn đang tham gia vào thị trường với vai trò người mua. Dù mục đích không phải để ở, những giao dịch đó vẫn góp phần đẩy giá lên.
Vấn đề là, thanh khoản thực sự có thể chỉ xoay quanh một nhóm người có khả năng tài chính mạnh, chứ không phản ánh nhu cầu ở thực của số đông. Giá tăng, nhưng không đồng nghĩa với việc nhiều người hơn có thể mua được nhà.
Nhìn lại câu chuyện của mình, tôi thấy có phần buồn cười. Một tài sản tăng giá gấp đôi, nhưng lại không mang đến cảm giác "giàu lên" như người ta vẫn nghĩ. Ngược lại, nó khiến tôi nhận ra khoảng cách giữa giá trị tài sản và khả năng sử dụng thực tế.
Có thể, tôi vẫn là người "có lời" nếu nhìn dưới góc độ đầu tư. Nhưng nếu đặt trong bối cảnh một người mua nhà để ở, thì câu chuyện lại khác. Và có lẽ, không chỉ riêng tôi đang ở trong tình huống này.
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Vài năm gần đây, cứ đến gần các dịp lễ, câu chuyện quen thuộc lại quay trở lại: có nên hoán đổi ngày làm - ngày nghỉ để nối dài kỳ nghỉ hay không: Hoán đổi để có kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2026 bốn ngày liên tục,
Và đang có tranh luận về việc hoán đổi để có kỳ nghỉ 9 ngày liên tục từ giỗ Tổ Hùng Vương đến 30/4-1/5 tôi lại thấy thông tin Lao động đề nghị hoán đổi để nghỉ 4 ngày dịp Ngày Văn hóa Việt Nam.
Trong tất cả những đề xuất hoán đổi trên xuất hiện người háo hức vì sắp có vài ngày liền để đi chơi, người khác lại thở dài vì biết trước sẽ phải đi làm bù vào một ngày thứ Bảy nào đó.
Thoạt nhìn, việc hoán đổi dường như là một giải pháp linh hoạt. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, đó là một kiểu vận hành thiếu ổn định.
Điều đáng nói là tư duy hoán đổi đang dần trở thành phản xạ. Cứ thấy ngày nghỉ rơi vào giữa tuần thậm chí đầu tuần (thứ ba, 24/11 năm nay) là lập tức nghĩ đến chuyện dời, ghép, nối. Ít ai đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta lại cần phải nối dài kỳ nghỉ dù trong luật đã quy định cụ thể số ngày nghỉ?
Nhìn chung, có lẽ vì trong thực tế, nhiều người không có đủ cơ hội nghỉ ngơi một cách chủ động. Khi ngày phép cá nhân còn hạn chế, khi văn hóa làm việc vẫn nặng về sự có mặt hơn là hiệu quả, thì những dịp lễ trở thành cơ hội hiếm hoi để nghỉ thật sự. Và khi cơ hội đó xuất hiện, người lao động muốn kéo dài nó ra càng nhiều càng tốt.
Nhưng chính điều này lại làm lộ ra một vấn đề lớn hơn theo tôi đó là hệ thống nghỉ ngơi của chúng ta đang thiếu tính linh hoạt.
Nếu một người chỉ có thể nghỉ khi cả xã hội cùng nghỉ, thì đó không phải là một hệ thống tối ưu. Một xã hội hiện đại không nên vận hành theo cách tất cả cùng dừng lại, rồi cùng chạy lại theo một lịch chung được điều chỉnh mỗi năm.
Thay vì cứ tranh luận nên hoán đổi hay không, có lẽ đã đến lúc cần một nguyên tắc rõ ràng hơn: Nghỉ đúng ngày theo luật. Luật quy định sao thì cứ nghỉ đúng ngày, nghe có vẻ cứng nhắc, nhưng chính sự rõ ràng này lại tạo ra ổn định. Khi lịch nghỉ không còn thay đổi mỗi năm, cả hệ thống từ trường học, doanh nghiệp đến người lao động đều có thể chủ động hơn trong việc sắp xếp thời gian.
Phần còn lại nên được trao về cho từng tổ chức và từng cá nhân. Doanh nghiệp có thể tự quyết định lịch làm việc phù hợp với đặc thù của mình. Người lao động nên có nhiều quyền hơn trong việc sử dụng ngày phép, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào những kỳ nghỉ chung.
Chiều 9/4, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết nhận được nhiều ý kiến đề xuất hoán đổi ngày làm việc thứ hai ngày 23/11 sang làm bù vào thứ bảy tuần kế tiếp, nhằm tạo kỳ nghỉ liên tục từ 21/11 đến 24/11. Nguyên nhân là theo Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, ngày 24/11 được xác định là Ngày Văn hóa Việt Nam và người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương, nhưng năm này rơi vào thứ ba.
Cơ quan này cho biết sẽ tiếp tục tổng hợp ý kiến từ cơ sở, phối hợp với các bên liên quan để kiến nghị phương án phù hợp với thực tiễn.