Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, các em có thể tiếp cận hàng nghìn đề thi thử, video bài giảng, khóa học trực tuyến và cả lộ trình ôn tập sẵn. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại đặt ra câu hỏi lớn: đây là cơ hội mở hay một “ma trận” khiến người học dễ lạc lối?
Điểm tích cực rõ nhất là khả năng tiếp cận được mở rộng mạnh mẽ. Trước đây, tài liệu ôn thi chất lượng chủ yếu tập trung ở đô thị và các trung tâm lớn; nay, nhờ internet, học sinh (HS) ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể học cùng bài giảng, làm cùng đề thi như ở thành phố. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, ít nhất về cơ hội tiếp cận tri thức – một bước tiến đáng kể về công bằng giáo dục.
Bên cạnh đó, sự phong phú của học liệu cho phép cá nhân hóa việc học. HS có thể chọn nội dung phù hợp với trình độ và mục tiêu: người yếu học lại từ nền tảng, người khá giỏi tiếp cận chuyên đề nâng cao. Đây là điều lớp học truyền thống khó đáp ứng trọn vẹn.
Ngoài ra, tài liệu miễn phí mở “cửa vào” cho HS khó khăn, trong khi tài liệu có phí – nếu được xây dựng bài bản – mang lại giá trị gia tăng như hệ thống hóa kiến thức, phân tích lỗi sai, theo dõi tiến bộ. Sự song song này, về lý thuyết, tạo nên một hệ sinh thái học tập đa lựa chọn và linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại tạo ra nghịch lý: càng nhiều tài liệu, HS càng dễ mất phương hướng. Thứ nhất, nhiều em rơi vào tình trạng “sưu tầm” hơn là học. Một HS ôn thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM vừa qua, chia sẻ: “Em bị loạn giữa quá nhiều tài liệu, mỗi nơi một kiểu, không biết tin nguồn nào”.
Thứ hai, không ít HS tải hàng chục bộ đề, đăng ký nhiều khóa học nhưng không theo được lộ trình nào đến cùng. Việc học dàn trải, thiếu trọng tâm khiến hiệu quả giảm, học liệu từ công cụ hỗ trợ trở thành “nhiễu thông tin”.
Thứ ba, chất lượng tài liệu không đồng đều. Nhiều tài liệu miễn phí chưa được kiểm chứng, có thể sai lệch; trong khi tài liệu có phí không phải lúc nào cũng tương xứng. Thị trường thiếu chuẩn mực khiến “vàng thau lẫn lộn”.
Thứ tư, nguy cơ lệch hướng học tập ngày càng rõ. Khi học liệu ôn thi phát triển mạnh, việc học dễ bị thu hẹp thành luyện dạng, học mẹo, thay vì hiểu bản chất. Điều này đi ngược xu hướng đánh giá năng lực.
Thứ năm, yếu tố thương mại hóa tạo áp lực mới. Quảng cáo bị thổi phồng, nhiều gia đình bỏ ra chi phí lớn với kỳ vọng “mua” lợi thế, từ đó hình thành một dạng bất bình đẳng mới.
Trong “ma trận” học liệu, HS không thể tiếp tục học theo kiểu bị dẫn dắt mà cần chuyển sang học có chiến lược.
Cần nhớ không phải càng nhiều tài liệu càng tốt; một nguồn phù hợp, được học sâu, làm đi làm lại và phân tích lỗi sai kỹ lưỡng thường hiệu quả hơn việc “lướt” qua nhiều nguồn. HS cần biết chọn lọc để đánh giá độ tin cậy, so sánh và tự kiểm chứng tài liệu – đây là năng lực thiết yếu trong thời đại số. Ngoài ra, phải giữ mục tiêu học để hiểu; khi nền tảng vững, kết quả thi sẽ là hệ quả tự nhiên.
Trong bối cảnh học liệu tràn ngập, giáo viên cần giữ vững vai trò định hướng. Không chỉ dạy kiến thức, thầy cô cần giúp HS xác định học gì, học từ đâu và học như thế nào; đồng thời giới thiệu nguồn tin cậy, cảnh báo “bẫy” học liệu.
Nhà trường nên xây dựng “ngân hàng học liệu” riêng, được kiểm duyệt để làm chuẩn tham chiếu. Cùng với đó là tổ chức ôn tập bài bản: thi thử, tư vấn học tập, hướng dẫn kỹ năng làm bài. Khi nhà trường làm tốt, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài sẽ giảm.
Ở cấp quản lý, cần một trục định hướng rõ ràng. Trước hết, Bộ GD-ĐT giao một đơn vị thuộc bộ chuyên trách xây dựng nền tảng học liệu quốc gia, cung cấp tài liệu chuẩn với chi phí thấp, đảm bảo công bằng tiếp cận.
Quan trọng hơn là đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực thực chất, hạn chế học tủ, học mẹo, học máy móc, không hiểu bản chất. Đồng thời, cần cơ chế kiểm soát chất lượng học liệu, đặc biệt với sản phẩm có phí, nhằm minh bạch thông tin, bảo vệ người học và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện tượng “bùng nổ học liệu ôn thi” không chỉ có ở VN. Tại Mỹ, các kỳ thi như SAT, ACT đã tạo ra cả một ngành luyện thi; ở Hàn Quốc với CSAT hay Trung Quốc với Gaokao cũng tương tự. Điểm chung là ở đâu thi cử cạnh tranh cao, ở đó học liệu phát triển mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng tham khảo là cách ứng xử. Các quốc gia nói trên không hạn chế học liệu mà tập trung định hướng. Tại Mỹ, College Board cung cấp tài liệu chính thức miễn phí, kết hợp với Khan Academy tạo một “chuẩn tham chiếu” rõ ràng. Nhờ đó, HS có điểm tựa đáng tin cậy, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn bên ngoài; đồng thời, đề thi được thiết kế theo hướng khó “luyện tủ”, buộc HS phải hiểu và vận dụng. Khi cách thi thay đổi, thị trường học liệu cũng phải điều chỉnh theo.
Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, nhà nước còn can thiệp để kiểm soát thương mại hóa, giảm áp lực và bất bình đẳng. Dù còn tranh luận, điều này cho thấy: không thể buông lỏng hoàn toàn, mà cần sự dẫn dắt để học liệu phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể ngăn chặn sự bùng nổ học liệu, nhưng hoàn toàn có thể biến nó thành một hệ sinh thái lành mạnh. Vấn đề không phải là có bao nhiêu tài liệu, mà là có một “trục định hướng” đủ mạnh hay không.
Khi cơ quan quản lý giáo dục dẫn dắt, nhà trường tổ chức, giáo viên định hướng và HS chủ động, thì sự bùng nổ học liệu sẽ không còn là áp lực mà trở thành nguồn lực quý giá cho một nền giáo dục hiện đại.
Trước mắt, một số tỉnh, thành phố lớn có thể xây dựng hệ sinh thái ôn thi cho riêng địa phương mình, từ đó, sẽ phổ biến kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác.
Hiện việc chọn đơn vị cung ứng thực phẩm hoặc suất ăn bán trú trong trường học được thực hiện theo Nghị định 214/2025 ban hành ngày 4.8.2025, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.
Trước khi Nghị định 214 ra đời, công tác lựa chọn đơn vị cung cấp thực phẩm cho các bếp ăn bán trú, phần lớn các nhà trường dựa trên cơ chế "niềm tin" và "thực tiễn kiểm chứng". Các trường học, thông qua sự giới thiệu của phụ huynh, uy tín của đơn vị tại địa phương, hoặc năng lực thực tế mà nhà cung cấp tự chứng minh, sẽ ký hợp đồng trực tiếp.
Tuy nhiên, dưới góc độ quản lý nhà nước, mô hình này bộc lộ điểm yếu về tính thống nhất và cơ sở pháp lý về đấu thầu; tiềm ẩn rủi ro về tính minh bạch, về lợi ích nhóm và thực tế từng xảy ra các vụ việc khiến những người có quyền quyết định về bữa ăn bán trú vướng vòng lao lý.
Chính vì vậy, với việc ban hành Nghị định 214, việc cung cấp thực phẩm cho bữa ăn bán trú thường được áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn (do tính chất mua sắm thường xuyên, giá trị gói thầu thường nằm trong hạn mức hoặc thuộc trường hợp cấp bách để đảm bảo việc học tập của học sinh - HS).
Năm học 2025 - 2026 là năm đầu tiên UBND TP.Hà Nội hỗ trợ một phần kinh phí suất ăn trưa cho HS tiểu học với hơn 3.000 tỉ đồng. Tháng 7.2025, HĐND TP mới ban hành nghị quyết nhưng nhờ cơ chế lựa chọn nhà thầu (LCNT) trong trường hợp đặc biệt của Nghị định 214, nhiều trường học cho biết đã rút ngắn được thời gian đấu thầu, kịp thời triển khai chủ trương nhân văn này ngay đầu năm học mới.
Theo nghị định, gói thầu cung cấp suất ăn, bữa ăn học đường hoặc mua thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào để thực hiện việc cung cấp suất ăn, bữa ăn học đường cho HS bán trú, nội trú tại cơ sở giáo dục công lập là 1 trong 20 nhóm gói thầu được áp dụng hình thức LCNT trong trường hợp đặc biệt. Dù quy trình rút gọn, nhà thầu vẫn phải có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc các giấy tờ tương đương theo quy định chuyên ngành.
Ghi nhận cho thấy, mỗi trường học ở Hà Nội có cách tiếp cận riêng. Một số trường LCNT cung cấp suất ăn cho cả năm học. Trong khi nhiều trường lại tách nhỏ gói thầu theo nhóm thực phẩm, nguyên liệu đầu vào để nấu ăn tại trường. Ví dụ, có trường chia thành 5 - 7 gói thầu để dễ kiểm soát hàng hóa, từ thực phẩm tươi sống, gạo, bún, mì đến sữa, bánh ngọt, dầu ăn, nước tinh khiết… Hoặc có trường không tổ chức LCNT thực hiện hợp đồng cho cả năm học, mà chia theo mốc thời gian. Theo chia sẻ của một số trường, việc LCNT dựa trên một danh mục các nhà thầu có uy tín, chọn lựa ra đơn vị có năng lực và đáp ứng yêu cầu của nhà trường.
Tuy nhiên, sau vụ lùm xùm 300 tấn thịt heo bệnh của Công ty Cường Phát tuồn ra thị trường và vào bếp ăn trường học, tìm hiểu của báo chí cho thấy Công ty CP dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội (nơi có nhập thịt của Cường Phát) cũng là đơn vị được rất nhiều trường tiểu học ở Hà Nội, Bắc Ninh lựa chọn là nhà thầu cung cấp suất ăn bán trú. Khi xảy ra vụ việc, dù công ty này khẳng định với một số tờ báo rằng công ty cũng chỉ là nạn nhân, nhưng rõ ràng nạn nhân thực sự cần được bảo vệ nhất trong câu chuyện này chính là HS.
Từ thực tế cho thấy dù đã có quy định đấu thầu nhưng việc quy định cho phép LCNT trong trường hợp đặc biệt cũng đã bộc lộ bất cập.
Chưa kể, nhiều hiệu trưởng than thở, họ vốn chỉ là nhà giáo, nay phải thực hiện quy trình LCNT theo các bước như: lập kế hoạch, thương thảo, phê duyệt kết quả và ký kết hợp đồng… là một thách thức. Nỗi lo thường trực là làm thế nào để biết nhà thầu "đủ năng lực, kinh nghiệm" khi chưa có quy định cụ thể, hay một khung hướng dẫn về "năng lực tối thiểu" cho loại hình nhà thầu này.
Trong khi đó, đặc thù của gói thầu cung cấp thực phẩm cho bữa ăn học đường không giống như thiết bị dạy học nào đó. Nó là mặt hàng có tính rủi ro cao, là một hoạt động diễn ra hằng ngày, nguy cơ mất an toàn thực phẩm cao; đòi hỏi nhà thầu phải có năng lực vận hành ổn định mỗi ngày chứ không chỉ vận hành tốt khi có đoàn kiểm tra còn lại là "khuất mắt trông coi".
Với những hiệu trưởng muốn làm đúng quy định, đảm bảo chất lượng bữa ăn bán trú của HS thì nỗi lo của họ là rủi ro khi vô tình LCNT không đúng. Tuy nhiên, với những người muốn LCNT vì mối quan hệ hoặc vì lợi ích cá nhân thì quy định này lại là kẽ hở cho những người cố tình trục lợi.
Hiệu trưởng một trường tiểu học có hơn 300 suất ăn bán trú mỗi ngày ở TP.HCM (dùng suất ăn bán trú từ một công ty cung cấp) cho biết các yêu cầu về đấu thầu đều phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật, có công khai kết quả chọn nhà thầu... Trước đó, từ những bên gửi hồ sơ dự thầu, ban giám hiệu nhà trường phải cùng với ban đại diện cha mẹ HS đến các công ty này xem quy mô, nguồn thực phẩm, ăn thử món ăn… Từ đó, mọi người biểu quyết chọn công ty. Dù vậy, hiệu trưởng này cho biết mỗi khi có vụ việc nghi ngộ độc thực phẩm ở trường nào là bản thân lại mất ăn mất ngủ.
"Chúng tôi phải làm việc liên tục với công ty cung cấp suất ăn mỗi ngày, một năm cũng mấy lần đi đột xuất kiểm tra, thế nhưng không thể ngày nào cũng có đủ người đến bếp ăn canh chừng. Chỉ biết trông chờ vào trách nhiệm, đạo đức của người làm kinh doanh, và sự nghiêm minh của các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm", vị này nói.
Hồi cuối tháng 1.2026, khi xảy ra lùm xùm ở công ty cung cấp suất ăn S.G cho nhiều trường tại TP.HCM, hiệu trưởng một trường tiểu học có hơn 1.100 HS ăn bán trú mỗi ngày, thời điểm đó cho biết đã ký hợp đồng với công ty được 2 năm rưỡi. Hằng năm, trường đều tổ chức mời thầu, thường có 2 công ty tham gia dự thầu. Suốt thời gian đó, phụ huynh đều tin tưởng công ty vì đầy đủ hồ sơ pháp lý, cơ sở sản xuất đạt yêu cầu... Thế nhưng sau đó công ty vẫn vướng lo ngại về thực phẩm, vụ việc đến nay đang chờ kết luận của cơ quan chức năng. Hiệu trưởng và các phụ huynh đều bức xúc khi niềm tin bị đổ vỡ.
Do đó, bữa ăn học đường dù cần nhất là sự tận tâm của nhà trường, trách nhiệm của nhà thầu, nhưng vẫn phải có hành lang pháp lý khả thi, minh bạch và dễ vận hành.
Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ngày 16/4 cho biết đây là giải thưởng uy tín từ Quỹ Alexander von Humboldt, nhằm tôn vinh những nhà khoa học có thành tựu xuất sắc, ở nhiều lĩnh vực trên thế giới.
Giải được trao tối đa cho 100 người mỗi năm, mỗi giải trị giá 80.000 euro (gần 2,5 tỷ đồng). Người giành giải sẽ được mời sang Đức hợp tác nghiên cứu với các đối tác khoa học hàng đầu.
Theo thông báo của Quỹ Alexander von Humboldt, GS Phùng Hồ Hải, được trao giải trên cơ sở đề cử của GS Christopher Deninger, nhà toán học ở Đại học Münster, Đức.
GS Phùng Hồ Hải, 56 tuổi, là chuyên gia trong lĩnh vực đại số và hình học đại số. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Lomonosov (Nga), bảo vệ tiến sĩ tại Đại học Munich (Đức) và tiến sĩ khoa học tại Đại học Duisburg-Essen (Đức).
Trong quá trình nghiên cứu, ông Hải tập trung vào các lĩnh vực như nhóm lượng tử, đại số Hopf và lý thuyết phạm trù, với nhiều công trình được công bố trên các tạp chí toán học quốc tế. Năm 2006, ông từng được trao Giải thưởng Von Kaven của Quỹ Nghiên cứu khoa học Đức (DFG).
Ngoài ra, ông tích cực tham gia đào tạo, phát triển đội ngũ toán học trẻ và thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế. Ông từng làm việc, giảng dạy tại nhiều cơ sở nghiên cứu uy tín ở Đức và các nước, trước khi trở về Việt Nam.
Năm 2012, ông được đặc cách công nhận chức danh giáo sư, là người Việt Nam đầu tiên được bầu làm Thành viên trẻ của Viện Hàn lâm khoa học thế giới (TWAS).
Ông giữ chức Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2017-2022, kiêm Tổng Thư ký Hội Toán học Việt Nam.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhìn nhận việc GS Phùng Hồ Hải được trao Giải thưởng Nghiên cứu Humboldt khẳng định vị thế ngày càng được nâng cao của khoa học cơ bản Việt Nam trên trường quốc tế, mở ra những cơ hội hợp tác nghiên cứu sâu rộng hơn giữa Việt Nam và Đức.
Quỹ Alexander von Humboldt được thành lập năm 1860, mang tên nhà thám hiểm và nhà khoa học lỗi lạc người Đức. Đây là tổ chức phi lợi nhuận nổi tiếng của Đức, chuyên thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế và trao đổi kiến thức.