Bà Phạm Thị Hoa, hộ kinh doanh tại một chợ truyền thống ở TP.HCM, cho hay hộ của bà có doanh thu năm ước dưới 500 triệu đồng, tức thuộc nhóm 1, không đóng thuế, không xuất hóa đơn. Tuy nhiên, từ cuối tháng 3, bà nhận được hợp đồng cung cấp rau sạch thường xuyên cho bếp ăn của một công ty may mặc với doanh thu từ khách hàng mới này là trên 500 triệu đồng/năm. Như vậy tổng doanh thu của hộ kinh doanh nhà bà ước trên 1 tỉ đồng.
“Bán hàng cho công ty họ yêu cầu xuất hóa đơn nhưng lên thuế thì được trả lời là doanh thu chưa vượt 500 triệu đồng, chưa xuất được và hướng dẫn về ghi bảng kê bán hàng, khi nào vượt trên 500 triệu đồng/năm thì họ mở khóa cho xuất hóa đơn. Trong khi đó, công ty mua hàng đòi hóa đơn ngay khi cung cấp, không thể chờ đến cuối năm nên tôi chưa biết xử trí ra sao”, bà Hoa lo lắng.
Anh Lê Chí Đạt, kinh doanh hàng thời trang tại TP.HCM qua cửa hàng bán lẻ trực tiếp lẫn sàn thương mại điện tử, doanh thu trên 3 tỉ đồng/năm, thuộc nhóm 3. Tuy nhiên, doanh thu 3 tháng vừa rồi giảm mạnh so với dự kiến nên khi kê khai quý 1, anh muốn chuyển sang nhóm 2 và tính thuế % trên doanh thu. “Nhưng tôi cũng lo nhỡ các quý sau, tình hình kinh tế tốt hơn, doanh thu vọt lên nhóm 3, lúc đó lại đổi để đóng thuế 17% trên lợi nhuận có được hay không?”, anh Đạt băn khoăn và cho biết đang “rối như canh hẹ” với việc kê khai thuế theo cách chọn nhóm, “nhảy” nhóm này.
Theo quy định, hộ kinh doanh đóng thuế theo doanh thu từ đầu năm nay được chia làm 3 nhóm, với cơ chế kê khai và nộp thuế khác nhau. Trong đó, nhóm 2 và 3 được trừ mức 500 triệu đồng/năm trước khi tính thuế theo tỷ lệ. Đồng thời, doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng cũng tương ứng lên 500 triệu đồng.
Các quy định nói trên có hiệu lực từ ngày 1.1. Tuy nhiên, sau hơn 4 tháng, mới đây, trong hồ sơ gửi Bộ Tư pháp về dự thảo luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính lại đề xuất thay vì quy định “cứng” ngưỡng doanh thu như tại luật, sẽ giao Chính phủ quy định mức này. Tức là ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm có thể thay đổi.
Hiện tại, hộ và cá nhân kinh doanh tự ước tính mức doanh thu để chọn nhóm khi kê khai thuế cho quý đầu năm. Đa số tham chiếu doanh thu từ năm 2025 để chọn nhóm nhưng kết quả kinh doanh mới chỉ 1 quý đã có nhiều biến động bất ngờ và việc “nhảy” nhóm là không thể tránh khỏi. Đáng lưu ý, trong mấy ngày gần đây, nhiều cơ sở thuế địa phương gửi thông báo đến hộ kinh doanh thuộc nhóm 1 (doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm) cho biết ngừng sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định về quản lý thuế với hộ, cá nhân kinh doanh tại điều 5, Nghị định 68/2026 của Chính phủ. Điều này khiến những băn khoăn, lo ngại về kê khai, “nhảy” nhóm, hóa đơn… đối với hộ kinh doanh càng cao hơn.
Liên quan yêu cầu hộ có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm không áp dụng hóa đơn, theo đánh giá của TS Nguyễn Ngọc Tú (Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội), đây là “một điểm thụt lùi”. Bởi về nguyên tắc, hóa đơn là hình thức phổ biến và là quyền lợi của hộ kinh doanh, còn việc được miễn thuế hay không là vấn đề khác. Hơn nữa, Nghị định 123/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ cũng nêu rõ khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ người bán phải xuất hóa đơn cho người mua và phải khuyến khích hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn.
Thế nên, với trường hợp nhóm 1 nhảy bậc lên nhóm 2 không xuất được hóa đơn, theo ông Tú, trước mắt hộ kinh doanh liên hệ với cơ quan thuế để được cấp hóa đơn theo từng lần phát sinh. “Nếu không áp dụng hóa đơn, các doanh nghiệp mua hàng từ hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm sẽ không có chứng từ để hạch toán chi phí là gây thiệt thòi họ cũng như đánh mất cơ hội làm ăn của hộ kinh doanh nhỏ”, TS Nguyễn Ngọc Tú khuyến cáo.
Cụ thể hơn, chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, cho rằng khi xác định và phân nhóm hộ kinh doanh đã có 2 quan điểm. Một là theo quy định của Nghị định 68/2026, dựa vào doanh thu của năm 2025 để phân nhóm nghĩa vụ thuế năm nay. Hai là theo ý kiến của một số cơ sở thuế địa phương, sử dụng ước tính doanh thu năm nay để phân nhóm nghĩa vụ thuế. Mới đây, tại một hội thảo về giải pháp giúp hộ kinh doanh kê khai, đại diện Cục Thuế cũng chọn quan điểm 1, tức là theo Nghị định 68, dựa vào doanh thu của năm 2025 để phân nhóm nghĩa vụ thuế năm nay. Đến giữa năm nếu doanh thu có biến động, “nhảy” nhóm, hộ kinh doanh cũng không được điều chỉnh mà phải chờ sang 2027 mới dựa vào kết quả kinh doanh năm 2026 thế nào để áp dụng cho năm sau.
Ông Lê Văn Tuấn nói: “Theo tôi, cả 2 quan điểm trên đều chưa nên và khó áp dụng ngay trong năm 2026 – năm đầu tiên hộ kinh doanh bắt đầu đóng thuế theo kê khai doanh thu. Hãy dựa vào doanh thu thực tế năm nay để phân nhóm nghĩa vụ thuế cho năm sau. Còn năm nay thì nên để hộ kinh doanh đóng thuế theo thực tế doanh thu toàn năm, làm thế nào để có lợi nhất cho hộ kinh doanh”.
“Năm 2026, hộ kinh doanh nên được lựa chọn tính thuế theo % doanh thu, hay % lợi nhuận, bất kể doanh thu bao nhiêu, như vậy sẽ không bị nhảy nhóm. Từ 2027 trở đi, khi hộ kinh doanh đã có doanh thu thực tế của 2026 mới lấy đó làm cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế”, ông Tuấn đề xuất và nói thêm về nguyên tắc, bất kỳ sự thay đổi lớn nào của chính sách thuế cũng cần một giai đoạn chuyển tiếp và thích nghi. Việc xóa bỏ thuế khoán và chuyển sang thuế kê khai là phù hợp với xu hướng thực tế hiện nay. Tuy nhiên, việc thay đổi phương pháp tính thuế từ thuế khoán sang thuế tính theo lợi nhuận, bỏ qua giai đoạn tính thuế theo kê khai % doanh thu thực tế, là một thay đổi quá lớn đối với hộ kinh doanh nên cần có thời gian làm quen và thích nghi.
“Khảo sát cho thấy thời gian để hộ, cá nhân kinh doanh có thể chuyển tiếp và thích nghi là ít nhất từ 1,5 – 2 năm. Năm đầu tiên bắt đầu thực hiện đóng thuế theo thực tế doanh thu sẽ giúp hộ kinh doanh xác định nghĩa vụ thuế chính xác hơn. Qua đó, có thời gian chuẩn bị và thích nghi tốt hơn. Nhà nước có thời gian tiếp nhận góp ý để ban hành chính sách phù hợp hơn với thực tế, cơ quan thuế có thời gian chuẩn bị hệ thống phù hợp với chính sách thuế mới”, ông Tuấn phân tích.
Trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ông Vũ Khánh Toàn - một hộ kinh doanh gửi câu hỏi nêu: hộ kinh doanh đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu từ tháng 7.2025. Trong năm 2025, doanh thu của hộ kinh doanh vượt 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sang năm 2026, hộ ước tính doanh thu sẽ dưới 3 tỉ đồng. Vậy hộ kinh doanh có thể tiếp tục được áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay bắt buộc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập tính thuế (doanh thu trừ chi phí) nhân (x) thuế suất?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho biết căn cứ vào một số quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó gồm Điều 2 về thuế giá trị gia tăng; Điều 4 về thuế thu nhập cá nhân; Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 3 tỉ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất...
Căn cứ quy định nêu trên và trình bày của hộ kinh doanh, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho rằng, trường hợp hộ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai trong năm 2025 có mức doanh thu trên 500 triệu đồng thì thực hiện kê khai, nộp thuế của năm 2026 theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Nếu hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm 2026 từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng thì được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Hộ kinh doanh khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng; Trường hợp hết năm 2026 hộ kinh doanh xác định doanh thu thực tế năm 2026 trên 3 tỈ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất quy định tại điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam một tổ chức đạt chứng nhận này, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc nâng cao năng lực đào tạo nhân lực kỹ thuật của ngành hàng không theo các tiêu chuẩn quốc tế.
EASA Part 147 là tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực đào tạo kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, cho phép các tổ chức đào tạo kỹ sư bảo dưỡng theo chuẩn châu Âu. Thông qua chương trình này, các kỹ sư có thể được cấp chứng chỉ ký xác nhận bảo dưỡng đối với các loại tàu bay quốc tế, đặc biệt là các tàu bay đăng ký tại châu Âu.
Việc một tổ chức tại Việt Nam đạt chứng nhận EASA Part 147 cho thấy năng lực đào tạo kỹ thuật hàng không trong nước đã đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và tiết kiệm được 90% chi phí đào tạo. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh đội tàu bay của Việt Nam ngày càng hiện đại và nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao tiếp tục gia tăng cùng với sự phát triển của thị trường hàng không.
Với chứng nhận này, VAECO trở thành tổ chức đầu tiên tại Việt Nam đạt EASA Part 147, đồng thời là một trong bốn đơn vị tại Đông Nam Á sở hữu đồng thời EASA Part 145 và Part 147 cho hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng và đào tạo kỹ thuật tàu bay. Dấu mốc này cho thấy ngành hàng không Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng kỹ thuật đạt chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao khả năng tự chủ kỹ thuật và độ tin cậy khai thác.
Thành quả trên là kết quả của dự án được VAECO chuẩn bị kỹ lưỡng từ năm 2024 với các yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn, nguồn lực và năng lực tổ chức. Cùng sự đồng hành và chỉ đạo sát sao của Cục Hàng không, đơn vị đã xây dựng và vận hành toàn bộ hệ thống đào tạo theo chuẩn EASA, từ phát triển đội ngũ giảng viên, chuẩn hóa chương trình đến xây dựng hệ thống tài liệu đào tạo.
Ông Trần Quốc Hoài, Tổng giám đốc VAECO, cho biết: "Việc đạt chứng nhận EASA Part 147 là bước tiến quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật và chuẩn hóa công tác đào tạo bảo dưỡng tàu bay theo các tiêu chuẩn quốc tế. Làm chủ hệ thống đào tạo theo chuẩn châu Âu giúp VAECO chủ động phát triển đội ngũ kỹ sư bảo dưỡng, đồng thời góp phần củng cố nền tảng an toàn khai thác và nâng cao năng lực kỹ thuật của ngành hàng không Việt Nam trong bối cảnh đội tàu bay ngày càng hiện đại".
Ở tầm rộng hơn, dấu mốc này cũng góp phần nâng cao năng lực kỹ thuật của ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bảo dưỡng tàu bay. Đây là một trong những yếu tố nền tảng để ngành hàng không phát triển bền vững và từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực.
Cũng tại sự kiện, VAECO ký kết các thỏa thuận hợp tác đào tạo với Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM (UTH), Công ty TNHH Hàng không Mặt trời Phú Quốc (SPA) và Hội Khoa học và công nghệ hàng không Việt Nam (VAAST) nhằm phát triển các chương trình đào tạo kỹ thuật hàng không phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đồng thời tăng cường chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm trong đào tạo theo tiêu chuẩn EASA.
VAECO hiện là đơn vị sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay hàng đầu Việt Nam, được phê chuẩn bởi hơn 20 nhà chức trách hàng không trên thế giới như CAAV, FAA và EASA. Đơn vị không chỉ phục vụ đội tàu bay của Vietnam Airlines mà còn cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho nhiều hãng hàng không lớn trên thế giới. Đáng chú ý, Tập đoàn Lufthansa của Đức đã đưa các tàu bay Airbus A350 bảo dưỡng tại VAECO, qua đó góp phần khẳng định năng lực kỹ thuật của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ bảo dưỡng hàng không trong khu vực.
Ông Nguyễn Thái Bình cho biết, là một công ty phân phối bất động sản (BĐS) nên khi tín dụng siết chặt tín dụng, công ty nhận thấy có 3 vấn đề khó khăn diễn ra trên thị trường. Khó khăn đầu tiên là thanh khoản thị trường chậm. Trước đây, có 80 - 90% khách hàng vay mua nhà nhưng khi tín dụng hạn chế thì người vay còn khoảng 60 - 70%. Khi tín dụng siết chặt tăng cao, khách hàng mua nhà nhận thấy mức độ rủi ro nên quyết định mua nhà cân nhắc hơn. Bản thân công ty đã ghi nhận doanh thu giảm từ 30 - 40% so với cùng kỳ dù nguồn hàng trên thị trường ở mức cao.
Khó khăn thứ 2 là người mua nhà lưỡng lự nên việc "chốt đơn" chậm hơn. Thực tế, khách hàng tìm mua nhà nhiều, có nhu cầu nhưng họ lại không quyết định mua hoặc quyết định chậm hơn.
Khó khăn thứ 3 mà ông Nguyễn Thái Bình đề cập đó là chi phí của công ty tăng cao. Trước đây, hoa hồng 1,5% vẫn có lời nhưng nay tăng gấp 3 - 4 lần vẫn không thể tăng do chi phí khuyến mãi. Dù vậy ông Bình khẳng định, thị trường đang phù hợp cho nhà đầu tư 3 - 5 năm, mua để dành nên có sự thanh lọc nhà đầu tư lướt sóng.
Ông Nguyễn Thái Bình cũng nhận định, các chủ đầu tư tung ra nhiều sản phẩm chú trọng đến dịch vụ, thiết kế. Họ cạnh tranh với nhau về sản phẩm đẹp. 6 tháng trở lại đây, những sản phẩm tung ra thị trường có giá bán hợp lý để họ tiếp cận khách hàng nhanh. Các sản phẩm sơ cấp BĐS có mức giá hợp lý hơn. Từ góc độ đó, để giải quyết khó khăn tín dụng trong nước, công ty tìm cách thích nghi như tìm khách hàng mới như Việt kiều. "Khách hàng Việt Kiều là đối tượng không chịu ảnh hưởng bởi chính sách siết tín dụng. Hiện công ty tiếp cận khách hàng từ Mỹ và châu Âu. Chính vì vậy cần có quy định gỡ khó cho đối tượng này. Lượng khách hàng này tại công ty hiện tăng gấp đôi. Việt Nam đã mở cửa cho Việt kiều mua nhà nhưng có trường hợp đi lâu nên không còn hồ sơ gốc để chứng minh", ông Bình đề xuất.
Ông Nguyễn Thái Bình kiến nghị: "Siết tín dụng đang đánh đồng. Do vậy, cần phân loại khách hàng vay đầu tiên, độ tuổi… để có lãi suất ưu đãi. Nếu không giảm lãi suất được thì ngân hàng cần chọn đối tượng ưu đãi để họ có thể tiếp cận nguồn hàng tốt hơn".