Mục Lục
ToggleTheo dữ liệu của ngành giáo dục TP HCM, tất cả xã, phường trên địa bàn đều có ít nhất một trường tiểu học, nhưng ở bậc liên thông là THCS thì có sự chênh lệch đáng kể ở nhiều địa bàn.
Cụ thể, phường Tân Sơn (quận Tân Bình cũ) có 3 trường tiểu học với gần 4.100 học sinh, chưa kể gần 1.800 trẻ mầm non nhưng không có trường THCS nào, kể cả tư thục. Phường Phú Thuận (quận 7 cũ) rơi vào cảnh tương tự dù có 4 trường tiểu học với gần 5.000 học sinh và khoảng 3.200 trẻ mầm non.
Nếu chỉ xét nhóm công lập, TP HCM còn phường Tây Nam (Bình Dương cũ) cũng không có trường. Ngoài ra, nhiều xã, phường ghi nhận chênh lệch giữa tiểu học và THCS lên đến 5-7 trường:
Đơn vị
Trường tiểu học
Trường THCS
Xã Long Hải
14
7
Phường Bình Hưng Hòa
9
3
Xã Tân An Hội
8
3
Phường Hiệp Bình
8
3
Phường Thuận Giao
8
3
Ở chiều ngược lại, 5 nơi có số trường THCS nhiều hơn tiểu học là Tân Hòa, Cát Lái, Bình Phú, Bình Quới và Trừ Văn Thố.
Trả lời VnExpress ngày 9/4, ông Nguyễn Văn Phong, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, nhìn nhận tình trạng không có trường THCS hoặc chênh lệch lớn về số lượng trường giữa hai cấp học làm mất cân đối cung-cầu cục bộ. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ quá tải ở các khu vực có tỷ lệ dân nhập cư cao, biến động dân số lớn.
Với những địa phương “trắng” trường THCS hoặc nhiều trường tiểu học nhưng chỉ có 1 trường THCS, Sở sẽ phối hợp với UBND xã, phường để điều phối, phân luồng học sinh.
“Học sinh chuyển cấp từ lớp 5 lên 6 sẽ được sắp xếp vào các trường ở khu vực lân cận, đảm bảo có chỗ học”, Phó giám đốc Sở nói.
Năm nay thành phố dự kiến có hơn 197.500 trẻ vào lớp 1 và 185.700 em khối 6. Số này giảm lần lượt khoảng 6.100 và 2.200 em so với năm ngoái.
Việc phân bổ chỗ học căn cứ mạng lưới trường lớp tại địa phương và vùng giáp ranh, quy mô trẻ trong độ tuổi và khoảng cách thực tế. Thành phố ứng dụng hệ thống bản đồ số (GIS) để xác định quãng đường từ nhà học sinh đến trường, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em được học gần nhà.
Lệ Nguyễn
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hai-phuong-o-tp-hcm-trang-truong-thcs-5060365.html
Thi lớp 10 TP.HCM: Tham khảo những trường THPT có chỉ tiêu cao nhất ở 3 khu vực

Theo Sở GD-ĐT TP.HCM, hiện TP.HCM đang xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 căn cứ trên đề xuất và điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên của từng trường.
Dự kiến giữa tháng 4, Sở GD-ĐT sẽ công bố chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 của khoảng 170 trường THPT. Năm nay là năm đầu tiên TP.HCM tuyển sinh lớp 10 sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu cũ.
Phụ huynh học sinh có thể tham khảo những trường thường có chỉ tiêu tuyển sinh cao nhất ở từng khu vực trong năm học 2025-2026 để chuẩn bị cho việc đăng ký nguyện vọng lớp 10 năm học 2026-2027cho con em thời gian tới.
Theo bảng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 năm học 2025-2026 mà Sở GD-ĐT TP.HCM trước sáp nhập đã công bố, những trường THPT có chỉ tiêu tuyển sinh cao gồm: Trường THPT Mạc Đĩnh Chi (Q.6) ) tuyển 1.060 học sinh; Hùng Vương (Q.5) tuyển 1.035 học sinh; Marie Curie (Q.3) tuyển 1.000 học sinh; Tây Thạnh (Q.Tân Phú), Nguyễn Trung Trực, Trần Hưng Đạo (Q.Gò Vấp), Trường Chinh (Q.12) tuyển mỗi trường 900 học sinh. Kế đến là THPT Hoàng Hoa Thám, Võ Thị Sáu (Q.Bình Thạnh), Nguyễn Công Trứ (Q.Gò Vấp), Phú Nhuận (Q.Phú Nhuận)...
Dưới đây là danh sách 25 trường THPT ở TP.HCM có chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 cao nhất TP.HCM:
Cũng theo công bố của Sở GD-ĐT Bình Dương trước sáp nhập, năm học 2025-2026 trong số 30 trường THPT tại Bình Dương thì 10 trường có chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 cao nhất như sau:
Tương tự, theo công bố của Sở GD-ĐT Bà Rịa-Vũng Tàu trước sáp nhập, trong số 30 trường THPT tại Bà Rịa-Vũng Tàu thì 10 trường THPT có chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 cao nhất như sau:
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 của TP.HCM sẽ diễn ra vào ngày 1-2.6, thí sinh sẽ dự thi 3 môn gồm: Toán, ngữ văn (thời gian làm bài 120 phút/môn), ngoại ngữ (90 phút) nếu dự thi lớp 10 thường và bài thi môn chuyên hoặc tích hợp nếu dự thi lớp 10 chuyên hoặc tích hợp.
Ngày 22.10.2025, Sở GD-ĐT TP.HCM công bố cấu trúc, yêu cầu đánh giá và bảng năng lực, cấp độ tư duy đề thi lớp 10 năm học 2026 - 2027 của các môn ngữ văn, toán và tiếng Anh đến tất cả các trường THCS để chuẩn bị cho học sinh lớp 9 tham gia kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm 2026.
Kiện tướng trượt băng 18 tuổi trúng tuyển đại học top đầu Mỹ

Nguyễn Linh Chi, 18 tuổi, học sinh lớp 12 trường Marie Curie, là kiện tướng trượt băng nghệ thuật với "thâm niên" 10 năm thi đấu. Tháng trước, Chi được nhiều đại học Mỹ báo trúng tuyển, trong đó có Đại học California ở Berkeley (UCB) và Đại học New York (NYU).
Theo xếp hạng của US News, UCB là trường công lập tốt nhất Mỹ, còn NYC đứng thứ 32 trong danh sách đại học tốt nhất, top 2 về ngành Tài chính.
"Đại học New York là ngôi trường em mong đợi nhất nên khi nhận thư, em thở phào và thấy nhẹ nhõm", Linh Chi nói.
Linh Chi đến với trượt băng nghệ thuật vào năm 8 tuổi, sau một lần thấy các vận động viên biểu diễn trong sân trượt của trung tâm thương mại. Em xin tập thử, rồi được huấn luyện viên khuyến khích theo đuổi chuyên nghiệp. Linh Chi bước vào hành trình khổ luyện, với không ít khó khăn và nhiều lần chấn thương.
Trượt băng nghệ thuật là bộ môn chưa phổ biến ở Việt Nam lúc đó, nên điều kiện tập luyện hạn chế, thiếu huấn luyện viên chuyên sâu. Để có thể thi đấu chuyên nghiệp, Chi phải đi tập huấn ở Nhật Bản, Australia, Thái Lan... Thời gian ở trong nước, em phải học trực tuyến với huấn luyện viên quốc tế.
Những ngày đầu, giữ thăng bằng đã là thử thách. Đứng chông chênh giữa hai lưỡi dao của đôi giày trượt, Chi ngã không ít lần, trầy xước liên tục. Nhưng em chưa từng nói sẽ bỏ trượt băng. Kiên trì qua những cú ngã, Chi dần làm chủ kỹ thuật, biết làm các động tác khó như xoay, nhảy, trình diễn.
Trong 10 năm, Linh Chi giành 8 huy chương vàng tại các giải trượt băng nghệ thuật quốc gia. Năm 2022, em và anh trai Quang Minh là hai trong 5 đại diện của Việt Nam tham dự giải trượt băng nghệ thuật thanh, thiếu niên thế giới 2022 tại Czech, cũng là cặp vận động viên duy nhất của khu vực Đông Nam Á tranh tài ở nội dung đôi nam nữ. Năm 2023, Chi được phong đẳng cấp kiện tướng - dành cho vận động viên đạt thành tích cao tại các giải vô địch quốc gia, quốc tế.
Ngoài trượt băng, Linh Chi còn học múa đương đại, nhảy hiện đại và hội họa. Những hoạt động nghệ thuật, thể thao trở thành chất liệu chính trong hồ sơ du học Mỹ của Chi. Ở bài luận, nữ sinh kể về hành trình theo đuổi các bộ môn này, từ những cú ngã đầu tiên đến khi tìm thấy niềm vui trong việc dạy lại cho trẻ em. Với Chi, giá trị lớn nhất không nằm ở huy chương mà ở việc lan tỏa đam mê.
Từ đó, Chi nhận ra những tháng ngày khổ luyện giúp mình có khả năng cảm thụ thẩm mỹ, giao tiếp và kết nối - những kỹ năng cần thiết trong ngành Quản trị khách sạn - dịch vụ (Hospitality).
"Em thích làm việc với con người, tạo ra trải nghiệm tốt cho họ. Nghệ thuật giúp em hiểu cảm xúc, còn ngành này giúp em biến điều đó thành công việc cụ thể", Chi nói.
Để làm dày hồ sơ, Chi chủ động tìm cơ hội trải nghiệm thực tế. Năm lớp 12, em thực tập hơn một tháng tại một khách sạn 5 sao ở Hà Nội. Mỗi ngày, sau giờ học, Chi làm việc đến cuối chiều tại bộ phận nhân sự, quan sát cách vận hành và quản lý. Trải nghiệm này giúp em hiểu rõ hơn về ngành mình chọn, đồng thời trở thành điểm nhấn thực tế trong hồ sơ.
Ở trường, Chi duy trì điểm trung bình trên 9 và IELTS 7.5. Nữ sinh còn tham gia nghiên cứu về sức khỏe tâm lý học sinh, cùng với phòng tham vấn của trường triển khai dự án hỗ trợ bạn bè. Theo Chi, việc hiểu con người ở nhiều góc độ là nền tảng quan trọng với ngành dịch vụ.
Cô Nguyễn Thị Lệ Anh, giáo viên chủ nhiệm của Linh Chi trong ba năm THPT, ấn tượng về học trò ở sự thông minh, quyết tâm. Có nhiều giai đoạn, Chi phải nghỉ học dài ngày để đi tập huấn, thi đấu nước ngoài, nhưng sau đó, nữ sinh đều chủ động học thêm cùng gia sư, trao đổi với giáo viên để bắt kịp bạn bè. Nhờ vậy, điểm của Chi không bị ảnh hưởng. Em cũng năng nổ trong nhiều hoạt động tâp thể, biết chơi bóng rổ, bóng ném, quan tâm bạn bè và thầy cô.
"Bạn ấy không đi theo một con đường duy nhất, mà phát triển đồng thời nhiều lĩnh vực", cô nói, đánh giá đây là điểm khác biệt giúp Linh Chi tạo được dấu ấn.
Tháng 8 tới, Chi sẽ sang Mỹ để nhập học. Nữ sinh chọn Đại học New York do đây là nơi tập trung nhiều công ty du lịch, khách sạn nổi tiếng - thuận lợi trong quá trình thực tập, làm việc. Chi cũng muốn tiếp tục theo đuổi trượt băng nghệ thuật ở Mỹ, đánh giá sẽ có nhiều điều kiện phát triển hơn.
"Em không coi trượt băng là một phần đã qua, mà là thứ sẽ đi cùng mình lâu dài. Dù học ngành gì, em vẫn muốn giữ nó như một thế mạnh riêng", Chi nói.
Thanh Hằng
Tin Gốc: https://vnexpress.net/kien-tuong-truot-bang-18-tuoi-trung-tuyen-dai-hoc-top-dau-my-5059638.html
Hơn 50 đại học công bố học phí, phổ biến 20-40 triệu đồng

Đến ngày 9/4, hơn 200 đại học đã công bố phương án tuyển sinh năm nay, trong đó nhiều trường nêu học phí dự kiến. Hiện, Đại học Tân Tạo (Tây Ninh) có mức thu cao nhất - 150 triệu đồng với ngành Y khoa. Một số ngành ở vài trường thu dưới 18 triệu đồng như ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Học viện Quản lý giáo dục, Đại học Đông Đô (Hà Nội).
Học phí cao thường ở khối ngành Y Dược hoặc với các chương trình liên kết quốc tế, định hướng nghề nghiệp, chất lượng cao. Với chương trình chuẩn, các trường thu chủ yếu trong khoảng 20-40 triệu đồng.
So với năm ngoái, hầu hết tăng học phí trong khoảng 10%, một số trường tăng mạnh hơn như Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (khoảng 12-47%).
Học phí đại học năm 2025-2027 dự kiến như sau:
TT
Trường
Học phí (triệu đồng/năm)
1
Đại học Ngoại thương
28-32 (chương trình chuẩn)
34-39 (chương trình tích hợp)
50-54 (chất lượng cao)
50-70 (định hướng nghề nghiệp và phát triển quốc tế)
77-88 (tiên tiến)
2
Đại học Kinh tế Quốc dân
20-28 (chương trình chuẩn)
45-70 (tiên tiến, chất lượng cao, định hướng ứng dụng POHE)
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
31-67
4
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
19,1-40
5
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
38-44
6
Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội
35-58
7
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
48 (chính quy)
93,3-111,2 (liên kết quốc tế)
8
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
34,2-38,2
9
Đại học Dược Hà Nội
28-58 (hệ đại trà)
150 (liên kết đào tạo)
10
Đại học Công nghiệp Hà Nội
25-31 (chương trình chuẩn)
36-44 (đào tạo bằng tiếng Anh)
11
Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
59-130
12
Học viện Ngân hàng
27,8-29,4 (chuẩn)
45 (chất lượng cao)
50 (liên kết quốc tế, định hướng Nhật)
13
Đại học Thương mại
25,75-30,69 (chương trình chuẩn)
42,35 (định hướng nghề nghiệp)
50 (chương trình tiên tiến)
65 (song bằng quốc tế)
14
Học viện Tài chính
25-35 (chương trình chuẩn)
50-55 (định hướng chứng chỉ quốc tế)
75-80 (liên kết đào tạo)
15
Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
20-25 (chương trình chuẩn)
16
Đại học Xây dựng Hà Nội
20,9 (chương trình chuẩn)
37 (liên kết quốc tế)
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18,1 (chương trình chuẩn)
38,2 (chương trình đạt kiểm định)
18
Đại học Mở Hà Nội
23,7-25,3
19
Học viện Phụ nữ Việt Nam
20,7-22,68
20
Học viện Quản lý giáo dục
17,9-20,9
21
Đại học Y tế công cộng
21,01-38,57
22
Đại học Thủ đô Hà Nội
19-22,2
23
Đại học Công đoàn
20,85-25,85 (đại trà)
32 (chương trình định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế)
24
Học viện Chính sách và Phát triển
28 (chương trình chuẩn)
35-40 (chất lượng cao)
35 (định hướng nghề nghiệp quốc tế)
25
Đại học Phenikaa (Hà Nội)
28-128
26
Đại học FPT
46,44-94,8 (học tại Hà Nội, TP HCM)
32,52-66,36 (Đà Nẵng, Cần Thơ)
23,22-47,4 (Quy Nhơn)
27
Đại học Thăng Long (Hà Nội)
35,1-54
28
Đại học CMC (Hà Nội)
37,4-44,23
29
Đại học Đại Nam (Hà Nội)
35,7-99
30
Đại học Thành Đô (Hà Nội)
24-52,5
31
Đại học Đông Đô (Hà Nội)
17,49-29,4
32
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương (Hải Phòng)
29,26-47,89
33
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
18-21,9 (hệ đại trà)
28,9 (chương trình tiên tiến)
34
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
18
35
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
17,9-26,03
36
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
27,7-38
37
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
24,8-26,7
38
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt - Hàn, Đại học Đà Nẵng
17,9-20,9
39
Trường Đại học Quy Nhơn (Gia Lai)
20,75-25 (chương trình đại trà)
40
Đại học Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)
24-93,5
41
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
35,8 (chương trình dạy bằng tiếng Việt)
55 (Co-op tiếng Anh bán phần)
73,5 (dạy học bằng tiếng Anh)
42
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP HCM
24,78-30,85
43
Đại học Y Dược TP HCM
30-90
44
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
47-81
45
Đại học Sài Gòn
21-53
46
Đại học Tôn Đức Thắng
31,26-68,46 (chương trình chuẩn)
55,6-64 (tiên tiến)
78-88 (học bằng tiếng Anh)
75-83 (liên kết quốc tế)
20,5-24 (phân hiệu Khánh Hòa)
47
Đại học Văn hóa TP HCM
19,91
48
Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
80-88 (bao gồm 6 cấp độ tiếng Anh)
49
Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP HCM
42
50
Đại học Việt - Đức (Bình Dương)
43,7-46,6
51
Đại học Thủ Dầu Một (TP HCM)
25,65-31,35
52
Đại học Tân Tạo (Tây Ninh)
25-150
Lưu ý:
- Với các trường công bố mức thu theo tín chỉ, học phí trung bình năm được ước tính như sau: [giá tín chỉ x tổng số tín chỉ của chương trình]/số năm học.
- Với nhóm công bố học phí theo kỳ, học phí năm học 2026-2027 được ước tính theo số kỳ trong năm đầu đại học.
- Với các trường công bố học phí cả khóa, học phí một năm được ước tính bằng cách chia trung bình cho số năm học.
- Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ.
Theo đó, mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Dương Tâm
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hon-50-dai-hoc-cong-bo-hoc-phi-pho-bien-20-40-trieu-dong-5059911.html




