Dựa trên các số liệu thống kê chính thức và nguồn tin trong ngành về sản xuất, lọc dầu, cung ứng, Reuters tính toán doanh thu dầu khí tháng 4 của Nga tăng gấp đôi so với tháng 3, từ 327 tỷ ruble lên 700 tỷ ruble (9 tỷ USD).
So với cùng kỳ 2025, doanh thu tăng 10%. Thu ngân sách từ dầu khí của Điện Kremlin đến từ thuế khai thác khoáng sản này. Là nhà xuất khẩu dầu lớn thứ hai thế giới, dầu Nga đắt hàng kể từ khi xung đột Trung Đông nổ ra cách đây 6 tuần.
Sau các cuộc không kích của Mỹ và Israel từ cuối tháng 2, Iran đã đóng cửa eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển khoảng 20% lượng dầu khí toàn cầu, khiến giá dầu Brent từng nhảy vọt, vượt xa mức 100 USD mỗi thùng.
Giá trung bình dầu Urals của Nga – dùng làm cơ sở tính thuế, cũng đã tăng lên 77 USD mỗi thùng trong tháng 3, cao nhất kể từ tháng 10/2023, theo dữ liệu của Bộ Kinh tế nước này. Mức này tăng 73% so với 44,59 USD mỗi thùng hồi tháng 2 và cao hơn giả định 59 USD mỗi thùng trong kế hoạch thu ngân sách Nga năm nay.
Vào ngày 12/3, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết họ “tạm thời cho phép các nước mua dầu Nga khi đang mắc kẹt trên biển”, nhằm bình ổn thị trường năng lượng toàn cầu. Chính sách này kéo dài 30 ngày, tức đến ngày 11/4.
Đến hôm 7/4, Điện Kremlin cho biết có rất nhiều đối tác ngỏ ý muốn mua dầu Nga, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu đang làm rung chuyển thị trường dầu khí.
Trong cả năm 2026, doanh thu dầu khí của Nga có thể đạt 7.900 tỷ ruble, tương đương hơn 100 tỷ USD, theo ước tính của Reuters. Tuy nhiên, đà tăng trưởng cũng có giới hạn, tùy thuộc cuộc xung đột kéo dài bao lâu.
Tối 7/4 (sáng 8/4 giờ Hà Nội), Mỹ và Iran công bố đạt thỏa thuận về ngừng bắn, mở cửa eo biển Hormuz trong hai tuần, giúp giá dầu Brent lùi mạnh về dưới mốc 100 USD mỗi thùng. Tuy nhiên, giới chức hai nước sau đó đưa ra những thông điệp trái chiều, khiến tình hình thực địa trở nên khó đoán.
Ngày 9/4, giá dầu tăng 3% do thị trường hoài nghi về thỏa thuận và lo ngại dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz sẽ vẫn bị hạn chế. Giá dầu Brent và WTI hiện giao dịch quanh mức 98 USD và 99 USD mỗi thùng.
Susannah Streeter, chiến lược gia đầu tư tại Wealth Club, cho biết ngay cả khi lưu thông được nối lại, rủi ro cũng sẽ không biến mất ngay lập tức. “Các tàu chở dầu có thể buộc phải đi qua vùng biển có thủy lôi và sự hiện diện quân sự gia tăng, khiến phí bảo hiểm cao và chi phí vận chuyển tăng cao”, bà nói.
Ngân hàng Goldman Sachs dự báo giá dầu Brent và WTI trung bình trong quý II sẽ đạt lần lượt 90 USD và 87 USD mỗi thùng.
Nhiều doanh nghiệp năng lượng tái tạo vừa công bố tình hình tài chính năm 2025 ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan, thậm chí nhiều doanh nghiệp thua lỗ.
Cụ thể, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 1 (HP1C) - chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1A công suất 150MW (Bình Thuận cũ) vừa công bố tình hình tài chính năm 2025, với khoản lỗ sau thuế hơn 180,7 tỷ đồng.
Trong khi đó, năm 2024, doanh nghiệp này ghi nhận mức lãi 71,3 tỷ đồng. Tại thời điểm cuối năm 2025, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm từ 1.254 tỷ đồng xuống còn 1.073 tỷ đồng.
Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu tăng từ 2,83 lên 3,2 lần, với tổng nợ phải trả lên tới gần 3.439 tỷ đồng. Dư nợ trái phiếu chiếm hơn 2.100 tỷ đồng.
Tương tự, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 2 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1B công suất 100MW (Bình Thuận cũ) cũng ghi nhận khoản lỗ hơn 97 tỷ đồng trong năm 2025, trái ngược với mức lãi hơn 55 tỷ đồng của năm trước.
Vốn chủ sở hữu doanh nghiệp giảm từ hơn 1.019 tỷ đồng xuống còn hơn 922 tỷ đồng, trong khi tổng nợ phải trả tăng lên hơn 1.671 tỷ đồng.
Theo báo cáo tài chính năm 2025 vừa công bố, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Điện mặt trời KN Vạn Ninh - chủ đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời KN Vạn Ninh (Khánh Hòa) ghi nhận lãi sau thuế giảm từ hơn 45 tỷ đồng xuống còn hơn 26 tỷ đồng, tương đương mức giảm khoảng 42%.
Tổng nợ phải trả tại cuối năm 2025 ở mức 1.276 tỷ đồng, dù đã giảm khoảng 84 tỷ đồng so với năm trước. Trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ với hơn 808 tỷ đồng, toàn bộ là trái phiếu phát hành riêng lẻ trong nước.
Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp điện tái tạo vẫn duy trì được lợi nhuận. Chẳng hạn, Công ty cổ phần điện gió Bắc Phương - chủ đầu tư Nhà máy điện gió Đông Hải 1 giai đoạn 2 (Bạc Liêu cũ) ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 48 tỷ đồng, tăng gần 12% so với năm 2024.
Tương tự, Công ty cổ phần điện gió Phong Liệu - chủ đầu tư dự án nhà máy điện gió Phong Liệu tại Quảng Trị ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 163,6 tỷ đồng, tăng hơn 14% so với năm 2024.
Công ty cổ phần Ea Súp 1 - chủ đầu tư Nhà máy Điện mặt trời Ea Súp 1 (Đắk Lắk) ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt hơn 66,3 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức gần 65 tỷ đồng của năm 2024.
Trong khi đó, Công ty cổ phần Ea Súp 3 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Ea Súp 3 (Đắk Lắk) - ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 278 tỷ đồng trong năm 2025, giảm mạnh so với mức hơn 459 tỷ đồng của năm trước đó.
Năm 2026 được xác định là năm bản lề triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và tính tự chủ của nền kinh tế, lấy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững làm động lực chủ yếu.
Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân chia sẻ thương hiệu quốc gia không còn chỉ là câu chuyện quảng bá hình ảnh hay xúc tiến thương mại theo nghĩa truyền thống, mà phải được xác định là tài sản chiến lược, phản ánh năng lực cạnh tranh tổng thể và uy tín của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
"Xây dựng thương hiệu quốc gia trong kỷ nguyên mới không chỉ là hình ảnh hàng hóa "Made in Vietnam", mà còn là xây dựng uy tín quốc gia và sức mạnh mềm trên trường quốc tế", ông Tân nhấn mạnh.
Tại Diễn đàn Thương hiệu quốc gia với chủ đề "Thương hiệu quốc gia Việt Nam trong kỷ nguyên mới", các diễn giả đã chỉ ra các điểm nghẽn và giải pháp để nâng tầm thương hiệu quốc gia trong thời gian tới.
Ông Hoàng Minh Chiến - Phó cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương - cho biết sau hơn 20 năm triển khai chương trình Thương hiệu quốc gia, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ.
Năm 2025, giá trị này đạt 519,6 tỉ USD, xếp thứ 32 trong tổng số 193 nền kinh tế, tăng hơn 200 tỉ USD so với năm 2020.
Tuy vậy, tổng giá trị của 100 thương hiệu doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam năm 2025 chỉ đạt khoảng 38,4 tỉ USD.
Thực tế này phản ánh việc Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu giá trị thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thiên về gia công (OEM), trong khi năng lực thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu riêng (OBM) còn hạn chế.
"Thương hiệu mạnh không thể dựa mãi vào tài nguyên hay lao động giá rẻ. Nó phải được xây dựng trên hàm lượng tri thức, công nghệ và bản sắc văn hóa", ông Chiến khẳng định.
Theo ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Secoin, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM, doanh nghiệp Việt không thiếu sản phẩm tốt, mà thiếu cách kể câu chuyện có giá trị.
Từ những bài học tại Secoin, ông Kỳ cho rằng chiến lược đưa thương hiệu ra quốc tế tập trung trong 5 yếu tố: chất lượng sản phẩm, tính độc đáo, tính đích thực, sự sẵn lòng mua sản phẩm và thân thiện với môi trường.
"Việt Nam muốn nâng tầm thương hiệu quốc gia không chỉ là "made in Vietnam" (sản xuất tại Việt Nam), mà phải là "designed and branded in Vietnam" (được thiết kế và mang thương hiệu Việt Nam)", ông Kỳ nhận định.
Theo dự thảo thông tư sửa đổi quy định lộ trình áp dụng tỉ lệ phối trộn, pha chế xăng E10 trên toàn quốc do Bộ Công Thương xây dựng, sẽ điều chỉnh thời gian sử dụng xăng sinh học từ ngày 30-4, tức là sớm hơn 1 tháng so với lộ trình cũ.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội), xăng sinh học E10 là loại nhiên liệu gồm khoảng 10% ethanol và 90% xăng khoáng.
Với tỉ lệ phối trộn ethanol ở mức 10%, đây là mức khá thấp nhưng đủ để cải thiện một số tính chất của nhiên liệu. Ethanol có chứa oxy, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra hoàn thiện hơn, sạch hơn. Nhờ đó hiệu suất đốt cháy được cải thiện, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của động cơ.
Với một số ý kiến cho rằng ethanol có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng, nên khi pha trộn có thể làm giảm năng lượng của nhiên liệu, dẫn đến tăng tiêu hao. Tuy nhiên trên thực tế ông Tuyến cho rằng mức chênh lệch nhiệt trị này không lớn (chỉ khoảng vài phần trăm) và được bù đắp bởi quá trình cháy hiệu quả hơn trong động cơ.
Từ các nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy khi sử dụng xăng E10, công suất động cơ và mức tiêu hao nhiên liệu về cơ bản tương đương với xăng khoáng. Thậm chí trong một số trường hợp, mức tiêu thụ nhiên liệu còn có thể được cải thiện nhờ quá trình cháy tối ưu hơn.
Bên cạnh đó lợi ích của xăng E10 là giảm phát thải, ông Tuyến cho biết các chất độc hại như khí CO (carbon monoxide) và một số hợp chất hữu cơ chưa cháy hết được cắt giảm đáng kể, giúp bảo vệ môi trường trong khi chi phí sử dụng thấp hơn.
"Thực tiễn cho thấy loại nhiên liệu này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến độ bền động cơ và hoàn toàn phù hợp với các phương tiện đang lưu hành" - ông Tuyến khẳng định.
Theo TS Đào Duy Anh - Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), chương trình chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sinh học không mới. Từ năm 2012, Việt Nam đã xây dựng lộ trình phát triển xăng sinh học, trong đó có E5 và E10 và xăng E5 đã được triển khai trên toàn quốc từ năm 2018.
Để triển khai xăng sinh học trên toàn quốc, ông Duy Anh nói cần thường xuyên cập nhật yêu cầu về nhiên liệu phù hợp với sự phát triển của động cơ. Công nghệ động cơ xăng liên tục được cải tiến, kéo theo các tiêu chuẩn kỹ thuật về nhiên liệu cũng thay đổi theo thời gian.
Chẳng hạn từ ngày 1-1-2025, các dòng xe sản xuất, lắp ráp mới tại Việt Nam phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro 5, do đó nhiên liệu sử dụng cũng phải tương thích. Việc lựa chọn và sử dụng xăng nền phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả vận hành và tuân thủ quy định.
Bộ cũng kịp thời gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ sản xuất, phối trộn, lưu thông đến phân phối. Gắn đó là đẩy mạnh truyền thông, đặc biệt là trước tâm lý e ngại của người tiêu dùng về ảnh hưởng đến động cơ hay mức tiêu hao nhiên liệu.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, xăng E10 không gây tác động tiêu cực đến hoạt động của xe khi các chỉ tiêu về công suất, hiệu suất vận hành cũng như phát thải, không thay đổi đáng kể so với xăng khoáng. Do đó việc chuyển đổi sang xăng E10, bao gồm cả các loại tương đương RON95, về cơ bản không ảnh hưởng đến khả năng vận hành của động cơ.
Tuy vậy ông Tuyến khuyến nghị người sử dụng vẫn cần tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo trì, bảo dưỡng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Xe nào khi sử dụng cũng đều có chu kỳ bảo dưỡng, nên khi sử dụng xăng E10 cần thực hiện các khuyến cáo này để bảo đảm chất lượng và tuổi thọ của xe.