Bộ Công Thương vừa hoàn thành dự thảo Thông tư sửa đổi một số điều tại Thông tư 50 quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam.
Theo đó, cơ quan này đề xuất từ ngày 30/4, xăng không chì (xăng khoáng như RON 95) phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho xe máy, ô tô chạy bằng xăng trên toàn quốc. Trước đó, Thông tư 50 quy định xăng khoáng phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 từ ngày 1/6.
Liên quan đến giá bán xăng E10 và mức độ sẵn sàng chuyển đổi của các cửa hàng bán lẻ xăng dầu, trả lời phóng viên báo Dân trí tại họp báo thường kỳ quý I của Bộ Công Thương chiều 9/4, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết trong quy định tại Nghị định 83 và Nghị định 80 về kinh doanh xăng dầu đã có quy định về việc tính toán giá xăng nhiên liệu sinh học.
“Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ nghiên cứu và tiến hành điều hành giá xăng sinh học theo các quy định hiện hành, cụ thể là các nghị định về xăng dầu”, Thứ trưởng Bộ Công Thương chia sẻ.
Ông Đào Duy Anh – Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho biết ngày 19/3 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 09 về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển xe điện.
“Thủ tướng giao Bộ Công Thương xem xét việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học E10 ngay trong tháng 4. Thực hiện chỉ đạo này, Bộ đã làm việc với các thương nhân đầu mối, yêu cầu báo cáo mức độ sẵn sàng trong việc chuyển đổi sang xăng sinh học”, ông Đào Duy Anh nói.
Đến ngày 26/3, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân đã chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành liên quan cùng đại diện doanh nghiệp đầu mối, Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam và Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam về nội dung này.
Ông Đào Duy Anh thông tin, qua các diễn biến cũng như những buổi làm việc có thể nhận diện ba yếu tố chính quyết định tính khả thi của việc đưa xăng E10 vào phân phối ngay trong tháng 4.
“Yếu tố đầu tiên là nguồn cung nhiên liệu sinh học. Yếu tố thứ hai là điều kiện pháp lý và hạ tầng. Yếu tố thứ ba là mức độ sẵn sàng của hệ thống phân phối, tức các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu”, ông nói.
Riêng với yếu tố thứ 3, theo đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, hiện các cửa hàng xăng dầu thuộc doanh nghiệp đầu mối lớn như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PV Oil) đã có sự chuẩn bị từ sớm.
“Bởi các doanh nghiệp có khoảng một năm rưỡi để chuẩn bị, tức từ cuối năm 2024 đến nay”, ông Đào Duy Anh nói.
Tuy nhiên, ông đánh giá thực tế triển khai vẫn còn những điểm thách thức. Vẫn còn một số doanh nghiệp và cửa hàng xăng dầu quy mô nhỏ gặp khó khăn trong việc chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, như rửa bồn bể, thiết bị phục vụ việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10.
“Tại các buổi làm việc, chúng tôi đã khuyến nghị các đơn vị phải đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị cơ sở hạ tầng nhằm bảo đảm sẵn sàng cho việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng E10”, ông Đào Duy Anh thông tin.
Đồng thời, ông cho biết ngày 1/4, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng báo cáo về điều kiện và khả năng triển khai phân phối xăng E10 trong tháng 4. Trên cơ sở đó, Bộ đề xuất một số giải pháp, nếu được thực hiện đồng bộ, có thể triển khai bán xăng E10 ngay trong tháng này.
Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2025 của Công ty cổ phần Quốc tế Hoàng Gia (RIC) cho thấy lợi nhuận sau thuế đạt 6,8 tỷ đồng. Đây là lần đầu sau 6 năm, doanh nghiệp này có lãi.
Ban lãnh đạo RIC cho biết công ty đã có chiến lược tối ưu hóa doanh thu và chi phí. Cụ thể, họ thực hiện đồng bộ các biện pháp củng cố và ổn định tệp khách hàng hiện hữu, song song với việc triển khai linh hoạt các chính sách thúc đẩy bán hàng nhằm khai thác hiệu quả các nguồn khách mới. Bên cạnh việc gia tăng doanh số, công tác kiểm soát và tiết giảm tối đa chi phí vận hành đã giúp kết quả kinh doanh trở nên tích cực.
Trong năm 2025, doanh thu của RIC đạt 157,1 tỷ đồng, tăng 18% so với năm trước đó. Công ty đẩy mạnh các chiến dịch tiếp thị và mở rộng mạng lưới phân phối, triển khai nhiều chính sách hoa hồng cho hướng dẫn viên, các chương trình ưu đãi... Song song đó, họ tập trung đào tạo và nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ kinh doanh, tối ưu hóa quy trình bán hàng.
Câu lạc bộ trò chơi có thưởng là bộ phận mang lại nguồn thu lớn cho RIC, đóng góp hơn 109 tỷ đồng doanh thu. Mức này cao hơn năm 2024 khoảng 12%. Trong khi đó, mảng khách sạn và biệt thự chỉ mang về doanh thu gần 48 tỷ đồng, nhưng tốc độ tăng trưởng đạt tới gần 33%.
Ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi, RIC còn đầu tư tài chính dài hạn khi nắm giữ 2,25% vốn của Chứng khoán UP (UPS), tiền thân là Chứng khoán Quốc tế Hoàng Gia (IRS). Trong năm 2025, họ được trả cổ tức thêm 54.000 cổ phiếu và ghi nhận vào báo cáo tự lập như một khoản doanh thu hoạt động tài chính. Tuy nhiên, đơn vị kiểm toán không đồng ý mà loại trừ. Điều này cũng dẫn đến lợi nhuận sau thuế của RIC giảm từ 7,3 tỷ đồng xuống còn 6,8 tỷ đồng sau kiểm toán.
Năm trước, Quốc tế Hoàng Gia lên kế hoạch có được hơn 7,2 triệu USD doanh thu (tương đương hơn 187 tỷ đồng) và lãi sau thuế hơn 1,3 triệu USD (khoảng 34 tỷ đồng). Như vậy, dù kết quả kinh doanh cải thiện mạnh, họ vẫn chưa hoàn thành kế hoạch đề ra.
Quốc tế Hoàng Gia thành lập năm 1994 với vốn điều lệ 15 triệu USD (gần 378 tỷ đồng), mục tiêu xây dựng và kinh doanh khách sạn 5 sao tại Hạ Long. Sau đó 8 năm, công ty tăng vốn lên 22 triệu USD (hơn 554 tỷ đồng) và được cấp giấy phép kinh doanh trò chơi có thưởng cho người nước ngoài. RIC đang kinh doanh một casino, khách sạn và biệt thự tại Bãi Cháy (Hạ Long, Quảng Ninh).
Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM (HoSE) năm 2007. Hồi tháng 5/2022, cổ phiếu RIC bị hủy niêm yết bắt buộc trên HoSE do thua lỗ ba năm liên tục, phải chuyển sang sàn UPCoM.
Chốt phiên giao dịch hôm 7/4, thị giá mã này đạt 11.000 đồng một đơn vị, giảm khoảng 10% so với đầu năm. Nếu so với mức đỉnh 14.100 đồng hồi cuối tháng 1, cổ phiếu này đã điều chỉnh 22%. Thanh khoản của RIC luôn giữ mức thấp, giao dịch lẻ tẻ, có phiên không khớp được cổ phiếu nào.
Từ năm 2016 đến nay, chủ casino tại Hạ Long có lãi duy nhất năm 2018. Theo lãnh đạo RIC, do hạng mục kinh doanh đặc biệt, thắng thua hoàn toàn phụ thuộc vào may rủi và các nước láng giềng (Campuchia, Philippines, Myanmar...) đều có thêm sòng bạc, khiến nguồn khách bị phân tán, thị phần chia nhỏ.
Kế hoạch trên được nêu tại báo cáo thường niên 2025 của Vingroup, cổ đông lớn thứ hai của Công ty cổ phần VinSpace.
Ngoài chế tạo và phóng vệ tinh, doanh nghiệp của tỷ phú Phạm Nhật Vượng cũng xây dựng cơ sở vật chất phòng sạch, thiết bị thử nghiệm và hệ thống trạm mặt đất bảo đảm dự án triển khai đúng tiến độ đã đặt ra.
VinSpace dự kiến hợp tác với các đối tác trong, ngoài nước để nghiên cứu, phát triển hệ sinh thái mảng hàng không vũ trụ. Họ cũng hướng tới thương mại hóa các dịch vụ viễn thông, viễn thám.
Trước VinSpace, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam là đơn vị trong nước duy nhất chế tạo thành công vệ tinh siêu nhỏ, được phóng lên quỹ đạo vào năm 2013 và 2021. Loại vệ tinh này có thể dùng để chụp ảnh, quan sát bề mặt trái đất, hỗ trợ truyền dẫn dữ liệu viễn thông và nghiên cứu khoa học.
Công ty VinSpace được ông Phạm Nhật Vượng thành lập ngày 3/11, với vốn điều lệ 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp này hoạt động ở 6 ngành nghề, nổi bật là sản xuất máy bay, tàu vũ trụ, vệ tinh viễn thông, vận tải hàng hóa hàng không. Tỷ phú Phạm Nhật Vượng hiện nắm giữ 71% vốn của VinSpace.
Tập đoàn Vingroup là cổ đông lớn thứ hai của doanh nghiệp này, sở hữu 19% cổ phần. Số vốn còn lại thuộc về ông Phạm Nhật Quân Anh và Phạm Nhật Minh Hoàng, hai người con của ông Vượng.
Ngoài VinSpace, hệ sinh thái của Vingroup còn sở hữu nhiều công ty trong lĩnh vực công nghệ như VinRobotics (chế tạo người máy công nghiệp), VinSmart Future (phần mềm), VinSOC, VCSS (an ninh mạng), VinDynamics (chế tạo người máy hình người), VinMotion...
Trước khi đầu tư vào ngành hàng không vũ trụ, Vingroup từng tham gia vào mảng vận tải hàng không với dự án Vinpearl Air năm 2019. Tuy nhiên, họ đã rút lui khỏi lĩnh vực này vào 2020.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.