Mục Lục
ToggleSáng 7-4, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Đỗ Tâm Hiển chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định liên ngành nhằm xem xét nhiệm vụ điều chỉnh ranh giới, diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn. Tham dự có đại diện UBND đặc khu Lý Sơn, các sở, ngành và đơn vị liên quan.
Khu bảo tồn biển Lý Sơn được thành lập từ năm 2016 với diện tích hơn 9.613ha, là một trong những khu vực có giá trị cao về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản.
Khu bảo tồn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hệ sinh thái biển, duy trì nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài sinh vật, đồng thời góp phần phát triển du lịch sinh thái và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.
Tuy nhiên những năm gần đây, cùng với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, nhiều công trình hạ tầng đã được đầu tư xây dựng trên đảo Lý Sơn.
Việc này phần nào tác động đến ranh giới, diện tích cũng như các phân khu chức năng của khu bảo tồn, đồng thời ảnh hưởng nhất định đến hệ sinh thái biển.
Đáng chú ý, theo quy hoạch tổng thể phát triển Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2045 đã được Thủ tướng phê duyệt, khu vực đảo Lý Sơn có nhu cầu khai thác, sử dụng mặt nước biển rất lớn để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát, điều chỉnh lại ranh giới khu bảo tồn nhằm tạo dư địa phát triển, nhưng vẫn đảm bảo các mục tiêu bảo tồn.
Phát biểu tại cuộc họp, ông Đỗ Tâm Hiển, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi – nhấn mạnh việc điều chỉnh là cần thiết trong bối cảnh hiện nay, song phải tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật và phù hợp với các quy hoạch đã được phê duyệt.
Việc điều chỉnh cần đảm bảo nguyên tắc hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên biển, đa dạng sinh học với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Đồng thời, yêu cầu UBND đặc khu Lý Sơn chỉ đạo đơn vị tư vấn tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội đồng thẩm định, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, làm rõ ranh giới, mốc tọa độ và đánh giá toàn diện tác động đến môi trường, hệ sinh thái biển cũng như sinh kế của người dân.
UBND tỉnh đề nghị các sở, ngành liên quan cần phối hợp chặt chẽ trong quá trình thẩm định, đảm bảo phương án điều chỉnh được xem xét khách quan, toàn diện. Việc lấy ý kiến cộng đồng dân cư cũng được nhấn mạnh nhằm tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Ông Hiển giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định theo đúng trình tự, thủ tục, sớm hoàn thiện phương án điều chỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của địa phương.
Toàn văn bài phát biểu khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI của Tổng Bí thư Tô Lâm

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thưa các vị đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Thưa các vị khách quý, đoàn ngoại giao và bạn bè quốc tế.
Thưa cử tri, đồng bào cả nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Hôm nay, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI khai mạc kỳ thứ nhất - kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước ta.
Đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp; đồng thời là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi nhiệt liệt chúc mừng kết quả rất tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Tôi trân trọng chúc mừng các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn. Đó là niềm vinh dự lớn lao, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm rất lớn trước Đảng, trước nhân dân và trước tương lai của đất nước.
Nhân dịp này, chúng ta trân trọng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội khóa XV, ủy viên Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đã nỗ lực đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Những kết quả đó, cùng với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.
Thưa các vị đại biểu Quốc hội, đồng bào và cử tri cả nước.
Thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, trật tự thế giới, luật pháp quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức.
Các chuỗi cung ứng, dòng vốn, công nghệ và thị trường toàn cầu đang được cấu trúc lại. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, tác động ngày càng trực tiếp tới môi trường và không gian phát triển của mỗi quốc gia.
Đặc biệt, sự phát triển đột phá của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số và các tiến bộ khoa học công nghệ đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị quốc gia và đời sống xã hội.
Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Đất nước ta, với lịch sử 4.000 năm Văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại.
Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của nhân dân.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách Hiến định của mình.
Tôi muốn nhấn mạnh: Quốc hội là nơi kết tinh ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; là nơi quyết định những vấn đề lớn của đất nước; là nơi chuyển hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và sức mạnh tổ chức thực tiễn.
Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau.
Từ tinh thần đó, tôi đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện thật tốt 4 nhiệm vụ lớn sau đây.
Thứ nhất: đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Quốc hội phải tập trung nâng cao hơn nữa năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành chính sách và pháp luật; tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2031 và những năm tiếp theo.
Hệ thống pháp luật phải thực sự trở thành nền tảng thể chế của phát triển, là công cụ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giải phóng lực lượng sản xuất, khai mở những không gian phát triển mới cho đất nước.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng "luật bó", chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai; Luật không chỉ "mở đường" mà còn phải "sửa đường".
Đối với những vấn đề mới, những lĩnh vực mới, những mô hình mới, những lực lượng sản xuất mới, cần có cách tiếp cận phù hợp, mạnh dạn thí điểm, có kiểm soát, tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quá trình lập pháp phải thật sự khoa học, dân chủ, minh bạch, lắng nghe được tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học, kinh nghiệm quốc tế, doanh nghiệp và nhân dân.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc, từ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách.
Phải chuyển mạnh từ tư duy "làm luật cho đủ" sang tư duy "làm luật để phát triển"; từ "pháp luật tốt trên giấy" sang "pháp luật tốt trong cuộc sống". Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.
Thứ hai: nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả.
Giám sát là một quyền năng rất quan trọng của Quốc hội. Nhưng giám sát không thể dừng ở phát hiện hạn chế hay nêu ra khuyết điểm. Giám sát phải thực sự trở thành công cụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; phải góp phần sửa cho đúng, làm cho tốt hơn, tháo gỡ được điểm nghẽn, cảnh báo sớm được rủi ro, thúc đẩy được hành động.
Nói cách khác, giám sát không chỉ để "kiểm tra việc đã làm", mà còn phải giúp "định hình việc cần làm", nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: vấn đề đã được giải quyết hay chưa.
Tôi đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những "điểm nghẽn của điểm nghẽn" trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Mỗi nội dung giám sát phải gắn với trách nhiệm cụ thể, thời hạn cụ thể, sản phẩm cụ thể, kết quả cụ thể; giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng, chỉ số định lượng và so sánh rõ ràng giữa mục tiêu đặt ra với kết quả đạt được.
Cùng với đó, phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát; đồng thời tăng cường phối hợp giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán và các thiết chế kiểm soát khác của Nhà nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy bộ máy hành động đúng, hành động nhanh, hành động hiệu quả.
Thứ ba: nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
Bước vào giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử, đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược.
Các vấn đề về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia… đều là những quyết sách lớn, gắn với lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc, phải được xem xét toàn diện, khoa học, thận trọng, nhưng tuyệt đối không để sự chậm trễ trở thành điểm nghẽn của phát triển.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Quốc hội càng phải nâng cao chất lượng phân tích chính sách, năng lực dự báo chiến lược và đánh giá tác động; phải chọn đúng việc lớn, đúng khâu đột phá, đúng công trình trọng điểm, đúng lĩnh vực then chốt để tập trung nguồn lực; không dàn trải, manh mún, chia đều.
Đầu tư không chỉ để tăng trưởng trước mắt, mà phải đầu tư để tạo ra động lực tăng trưởng mới, năng lực cạnh tranh mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.
Mỗi quyết sách của Quốc hội phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong bối cảnh quốc tế biến động nhanh chóng, trong yêu cầu bảo đảm độc lập, tự chủ, an ninh, an toàn và phát triển bền vững.
Quốc hội quyết định cho hiện tại, nhưng phải chịu trách nhiệm trước tương lai. Đó là bản lĩnh chính trị, là tầm nhìn chiến lược, là trí tuệ lập pháp và là chiều sâu của một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Thứ tư: tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn.
Cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách; củng cố, phát huy mạnh hơn nữa vai trò của các Đoàn đại biểu Quốc hội để thật sự là cầu nối chặt chẽ giữa Quốc hội với cử tri và nhân dân; làm sao để mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình; xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân.
Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn.
Thưa Quốc hội, thưa cử tri và đồng bào cả nước.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI đã bắt đầu với trọng trách vô cùng lớn lao. Tôi tin tưởng và kỳ vọng mỗi vị đại biểu Quốc hội sẽ không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm; thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, lắng nghe dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết trong mọi quyết định. Đó là phẩm chất cốt lõi của người đại biểu nhân dân trong thời kỳ mới.
Đứng trước vận hội mới mang tính lịch sử của dân tộc, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng sâu sắc rằng: với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam; dưới sự lãnh đạo bản lĩnh, trí tuệ của Đảng; với sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân; với sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ và cả hệ thống chính trị; với tinh thần dân chủ, sáng tạo, nhiệt huyết và trách nhiệm của toàn thể các vị đại biểu Quốc hội, Quốc hội khóa XVI nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Một lần nữa, chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các vị đại biểu Quốc hội; các vị khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Chúc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thành công tốt đẹp.
Xin trân trọng cảm ơn.
Thành lập thành phố Đồng Nai là cấp thiết: Xác định 2 khu vực động lực phát triển

Trả lời PV Thanh Niên, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Kim Long cho biết trong thời gian qua Đồng Nai đã chú trọng triển khai công tác quy hoạch một cách bài bản, đồng bộ, với quan điểm xuyên suốt là phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Mới đây, ngày 27.2, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 779 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện trên nguyên tắc phù hợp, đồng bộ với định hướng, tầm nhìn phát triển đất nước, chủ trương, đường lối của Đảng, quy hoạch cấp quốc gia và quy hoạch vùng Đông Nam bộ.
"Đây là cơ sở quan trọng bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư phát triển", ông Nguyễn Kim Long khẳng định.
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai, tỉnh xác định rõ phương án phát triển tỉnh Đồng Nai theo 5 vùng KT-XH, 4 không gian, 6 hành lang và 3 vành đai, qua đó tổ chức lại toàn bộ cấu trúc phát triển theo hướng khoa học, đồng bộ và có tính liên kết cao.
Quy hoạch cũng đã xác định rõ phương án phát triển các khu chức năng và các khu có vai trò động lực của tỉnh trong thời gian tới, trong đó không thể không kể đến 2 khu vực làm động lực phát triển mới là khu vực đô thị sân bay Long Thành và khu vực hành lang sông Đồng Nai.
Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai cho biết thêm hiện tỉnh khẩn trương hoàn thành các bước cuối cùng để phê duyệt 4 đồ án quy hoạch chung đô thị Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom; đồng thời triển khai lập quy hoạch chi tiết đối với toàn bộ 95 xã, phường trên địa bàn tỉnh theo đơn vị hành chính mới. Đây là bước đi rất quan trọng nhằm cụ thể hóa quy hoạch tỉnh vào từng không gian phát triển cụ thể, bảo đảm tính đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở.
Về tầm nhìn dài hạn, Đồng Nai xác định mục tiêu phát triển không chỉ dừng lại ở một địa phương công nghiệp mà hướng tới trở thành đô thị hiện đại, có năng lực điều phối không gian phát triển, liên kết hạ tầng, phân bổ nguồn lực và dẫn dắt tăng trưởng cho toàn khu vực. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về đơn vị hành chính mà là bước chuyển quan trọng về mô hình phát triển và mô hình quản trị.
Tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Nai đi đầu trong phát triển công nghiệp công nghệ cao, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, hiện đại; là trung tâm giao thương quốc tế, du lịch, dịch vụ gắn với các đô thị đẳng cấp quốc tế, nơi tập trung trí thức và nhân tài, lấy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là trọng tâm góp phần hoàn thành mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Phát triển hài hòa, người dân có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, không ai bị bỏ lại phía sau. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.
Trên nền tảng đó, Đồng Nai định hướng phát triển theo mô hình thành phố công nghiệp, đô thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp công nghệ cao, gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN và chuyển đổi số trong quản trị đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân và từng bước xây dựng một đô thị năng động, có sức cạnh tranh cao trong khu vực.
Qua đó hình thành một cực tăng trưởng mới của khu vực phía nam, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hạ tầng chiến lược và đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Ông Nguyễn Kim Long đánh giá: "Với vị trí địa kinh tế chiến lược và hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Đồng Nai có điều kiện trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của VN, trung tâm kết nối các hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng khu vực, đồng thời là cực tăng trưởng có sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á".
Theo GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), một mô hình hạ tầng cốt lõi để phát triển kinh tế bao gồm 5 thành tố: hạ tầng giao thông; hạ tầng năng lượng; hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin; hạ tầng cấp, thoát nước và các công trình thủy lợi; hạ tầng xử lý chất thải. Việc đầu tư vào hạ tầng nào cũng đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng quan trọng nhất là nguồn lực vật chất, trong khi ngân sách thì lại có hạn.
Vì vậy, GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng việc xác định các xu hướng phát triển nào cho mỗi thành tố là rất quan trọng, phải làm sáng tỏ các xu hướng nào cần được phát triển cho từng thành tố của cơ sở hạ tầng cốt lõi, từ đó lựa chọn các xu hướng để tiến hành đo lường và đề xuất giải pháp phát triển.
Đối với Đồng Nai, sắp tới khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, sức hút vùng phụ cận sân bay là rất lớn, kéo theo sự đòi hỏi cao hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế. "Hiện nay về hạ tầng giao thông, Đồng Nai có gần như đầy đủ từ đường bộ, đường cao tốc, đường sắt, đường thủy, sân bay. Điều quan trọng là phải làm sao kết nối các loại hình, các dự án hiện nay để tối ưu hóa hiệu quả", GS-TS Võ Xuân Vinh nêu vấn đề.
Cũng theo GS-TS Võ Xuân Vinh, phát triển kinh tế và các thành tố của hạ tầng kinh tế là để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy có thể nghĩ đến việc huy động nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp và mọi tầng lớp trong xã hội để hướng tới mục tiêu chung.
Đồng Nai là địa phương có vị trí chiến lược, lợi thế về nhiều mặt, đặc biệt có sân bay quốc tế Long Thành và cộng đồng doanh nghiệp lớn xung quanh. Đồng Nai có cơ hội để tạo ra sự bứt phá, vươn mình, nhưng phải làm sao phát huy được các nguồn lực đó vào sự phát triển, đồng thời phát triển có chọn lọc và hướng đến tính bền vững.
Còn ông Võ Văn Một, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, thì đánh giá giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Thời gian qua T.Ư và Đồng Nai đều triển khai nhiều dự án giao thông lớn, trọng điểm đi qua địa bàn tỉnh. So với thời kỳ ông làm Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai thì khu vực Long Thành đã khác rất nhiều.
Ông cho biết: "Hôm rồi, tôi có dịp vào sân bay Long Thành, phải nói là sân bay hiện đại, hoành tráng, bản thân vui mừng khi tỉnh nhà có một công trình trọng điểm quốc gia, quy mô lớn như vậy".
Ông Một cho biết thêm, năm 1991, khi còn làm ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh, ông được tháp tùng lãnh đạo tỉnh đi TP.HCM họp về quy hoạch vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Lúc đó, các tỉnh đã bàn về việc xây dựng sân bay Long Thành và chính ông đã giới thiệu khu vực Long Thành vì nơi đây có vị trí thuận lợi; thời tiết, khí hậu ổn định; tập trung nhiều đất công dễ cho việc giải phóng mặt bằng.
Theo ông Võ Văn Một, bây giờ sân bay hình thành rồi, các hạ tầng giao thông cũng đã và đang được đầu tư để kết nối đồng bộ. Đồng Nai cũng quy hoạch các vùng phụ cận xung quanh sân bay để khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có.
Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, vì vậy ông cho rằng cần quan tâm vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu trong thời đại mới. Và quan trọng trên hết, xuyên suốt và ưu tiên số một là an sinh xã hội, làm sao để mọi người dân được hưởng lợi, cuộc sống ấm no.
Tìm kiếm học sinh mất tích tại bãi biển Quy Nhơn

Tối 5.4, ông Nguyễn Đức Toàn, Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai (trước đây thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), cho biết địa phương đang phối hợp Bộ đội biên phòng tỉnh tổ chức tìm kiếm một học sinh bị sóng cuốn mất tích trên biển.
Theo thông tin ban đầu, vài ngày qua, một nhóm học sinh lớp 12 của Trường THPT chuyên Hùng Vương (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) đến phường Quy Nhơn thi đánh giá năng lực.
Đến 17 giờ cùng ngày, sau khi thi, các em N.T.S, H.T, V.H.Q, N.N.H, T.N.M và H.Đ.A.H (cùng 17 tuổi) rủ nhau tắm biển tại khu vực đường Xuân Diệu.
Trong lúc tắm, hai em N.N.H và H.Đ.A.H không may bị đuối nước. Người dân phát hiện, kịp thời cứu được em N.N.H và đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Gia Lai. Riêng em H.Đ.A.H bị sóng cuốn mất tích, hiện vẫn chưa được tìm thấy.
Khu vực bãi biển Quy Nhơn đang có gió lớn, sóng mạnh, khiến công tác tìm kiếm nạn nhân gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn nguy hiểm cho lực lượng tiếp cận.
Lực lượng chức năng vẫn đang khẩn trương, nỗ lực triển khai các phương án tìm kiếm nạn nhân.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tim-kiem-nam-sinh-mat-tich-tai-bai-bien-quy-nhon-185260405200148277.htm




