TP HCM dự kiến miễn vé 135 tuyến xe buýt từ tháng 5, nếu hoàn tất thủ tục và được thông qua sớm. Chính sách nhằm giảm chi phí đi lại, khuyến khích người dân sử dụng giao thông công cộng, qua đó hạn chế ùn tắc và ô nhiễm. Khi triển khai, đây sẽ là lần đầu toàn bộ người dân thành phố được đi xe buýt miễn phí.
Theo PGS-TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (Đại học Quốc gia TP HCM), chủ trương này được đưa ra trong bối cảnh giá xăng dầu tăng cao, mang ý nghĩa an sinh lớn khi góp phần giảm chi phí đi lại cho người dân. Tuy vậy, ông cho rằng miễn phí chưa phải yếu tố quyết định để người dân bỏ xe máy, bởi nhiều năm nay giá vé xe buýt vốn thấp và không phải rào cản lớn nhất.
Dẫn kinh nghiệm trong và ngoài nước, ông Quân cho biết miễn vé thường giúp lượng khách tăng nhanh, có nơi thêm 20-30% ngay sau khi áp dụng. Tại TP HCM, các đợt miễn vé xe buýt và metro dịp lễ, Tết hoặc sự kiện lớn cũng ghi nhận lượng người sử dụng tăng mạnh. Tuy nhiên, để giữ chân hành khách lâu dài, yếu tố quan trọng nhất vẫn là chất lượng dịch vụ.
“Người dân chỉ gắn bó khi xe buýt thực sự thuận tiện, đúng giờ, an toàn và sạch sẽ”, ông Quân nói.
TP HCM hiện có 180 tuyến xe buýt với hơn 2.400 xe, trong đó 135 tuyến nội tỉnh, chủ yếu hoạt động trên địa bàn cũ trước khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Dù giữ vai trò chủ lực của giao thông công cộng, thị phần xe buýt vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Năm 2025, hệ thống phục vụ gần 97 triệu lượt khách, tăng so với năm trước, nhưng tỷ lệ người đi xe buýt chỉ đạt 1,6%, thấp xa mục tiêu 7,23%. Khoảng cách này cho thấy xe buýt chưa đủ sức hút, trong khi phương tiện cá nhân, nhất là xe máy, vẫn chiếm ưu thế áp đảo. TP HCM hiện quản lý gần 13 triệu xe, gồm hơn 1,4 triệu ôtô và gần 11,3 triệu xe máy – nhiều nhất cả nước.
Theo ông Quân, một trong những nguyên nhân chính là ùn tắc khiến xe buýt khó đảm bảo thời gian hành trình. Trong khi đó, mạng lưới nhiều năm qua dù mở rộng nhưng vẫn chủ yếu bám các trục chính, chưa đi sâu vào đường nhỏ, hẻm và khu dân cư mới. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận, chưa đáp ứng cự ly đi bộ hợp lý 300-500 m theo khuyến nghị.
Tại khu trung tâm, bán kính đi bộ đến điểm đón gần nhất khoảng 100-300 m, nhưng nhiều nơi từ các hẻm có thể hơn một km; ở ngoại thành độ phủ còn hạn chế hơn. Với khoảng cách này, người dân có thể mất 15-30 phút đi bộ ra trạm. Nếu gặp ùn tắc, tổng hành trình có thể kéo dài 1-2 giờ. Trong khi đó, đi xe máy thường chỉ mất khoảng một nửa thời gian và linh hoạt hơn, khiến xe buýt khó cạnh tranh.
Ông Lê Trung Tính, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải hành khách TP HCM, cũng cho rằng trở ngại lớn nhất hiện nay là xe buýt thường xuyên trễ giờ do ùn tắc. Mỗi ngày, xe buýt phải chen trong dòng ôtô, xe máy dày đặc, khiến hành trình thiếu ổn định và giảm sức hút với hành khách.
Ông nhắc lại việc TP HCM từng triển khai làn riêng cho xe buýt trên đường Trần Hưng Đạo, nhưng mô hình sau đó dừng hoạt động. Theo ông, đây là bước lùi trong mục tiêu phát triển giao thông công cộng.
“Khi xe buýt không được ưu tiên trên đường, việc đảm bảo đúng giờ gần như bất khả thi với điều kiện giao thông TP HCM hiện nay”, ông nói.
Ngoài hạ tầng, ông Tính cho rằng lựa chọn của hành khách còn phụ thuộc vào chất lượng đoàn xe và thái độ phục vụ. Dù vậy, ông đánh giá chất lượng xe buýt gần đây đã cải thiện rõ rệt nhờ đội xe mới, tỷ lệ xe điện tăng cao và ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành.
PGS-TS Nguyễn Thị Bích Hằng, Đại học Giao thông Vận tải, cũng nhận định miễn phí xe buýt mới chỉ là một “điều kiện cần”. Hiệu quả thực sự phụ thuộc vào các yếu tố nền tảng như chất lượng dịch vụ, độ phủ mạng lưới và khả năng kết nối.
Theo bà, đây là cơ hội để TP HCM tổng rà soát, nâng cấp toàn diện hệ thống vận tải công cộng. Trọng tâm là tái cấu trúc mạng lưới, tổ chức làn ưu tiên để cải thiện độ đúng giờ, đồng thời tăng kết nối giữa xe buýt với metro, xe đạp công cộng và các loại hình khác.
“Nếu sự chuẩn bị về hạ tầng và dịch vụ chưa đủ, tác động ban đầu có thể giảm rất nhanh, khó đạt mục tiêu đề ra”, bà Hằng nói.
Sở Xây dựng TP HCM cho biết sẽ tiếp tục tái cấu trúc mạng lưới, phát triển các tuyến buýt nhỏ, xanh đi sâu vào khu dân cư, bảo đảm người dân tiếp cận trong bán kính đi bộ 300-500 m. Hệ thống cũng sẽ mở rộng các tuyến kết nối Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, sân bay Long Thành, nghiên cứu buýt đêm và mô hình vận tải theo nhu cầu.
Về lâu dài, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 toàn bộ xe buýt chuyển sang điện và năng lượng xanh, đồng thời đầu tư thêm bến bãi, nhà chờ, lối đi bộ kết nối và bãi giữ xe trung chuyển.
Tuy nhiên, cả chuyên gia và nhà quản lý đều cho rằng các giải pháp kỹ thuật chỉ phát huy tối đa khi việc kiểm soát xe cá nhân được triển khai đồng bộ.
Theo PGS-TS Nguyễn Hồng Quân, bên cạnh mở rộng mạng lưới, xe buýt cần tăng kết nối với metro, xe đạp công cộng, đồng thời cải thiện hạ tầng đi bộ theo hướng xanh và thuận tiện. Chính sách cũng nên ưu tiên nhóm khó tự di chuyển như học sinh, người cao tuổi, người khuyết tật.
Ông dẫn kinh nghiệm từ Luxembourg – quốc gia đầu tiên miễn phí giao thông công cộng – cho thấy chính sách này không chỉ nhằm giảm ùn tắc, ô nhiễm mà còn bảo đảm quyền tiếp cận đi lại cho người thu nhập thấp. Theo ông, TP HCM cần áp dụng vé điện tử gắn định danh để hỗ trợ đúng nhóm cần ưu tiên, đồng thời có dữ liệu phục vụ đánh giá và điều chỉnh chính sách.
Ngày 13.4, máy đào hầm TBM số 2 "Táo bạo" đã về đích an toàn tại ga ngầm S12 - ga Hà Nội, chính thức hoàn thành toàn bộ hành trình khoan hầm dài 4 km qua 4 ga ngầm S9 - Kim Mã, S10 - Cát Linh, S11 - Văn Miếu, S12 - ga Hà Nội, thuộc Dự án metro Nhổn - ga Hà Nội.
Hồi tháng 2.2025, máy đào hầm TBM số 2 bắt đầu đào hầm và sau hơn 14 tháng thi công đến nay đã khoan tới ga ngầm S12 - ga Hà Nội.
Cùng với việc TBM số 1, với tên gọi "Thần tốc" đã hoàn thành hầm thứ nhất vào tháng 12.2025, việc hoàn thành hầm thứ hai đã nối thông toàn bộ tuyến hầm của dự án metro Nhổn - ga Hà Nội.
Theo thiết kế, phần ngầm bao gồm 4 km hầm ngầm, 4 ga ngầm, 1 giếng thoát hiểm; hiện các hạng mục này đang được triển khai thi công đồng loạt, đạt khoảng 63% tiến độ, riêng gói thầu CP03 đạt 76,69%.
Cạnh đó, dự án metro Nhổn - ga Hà Nội đang tiếp tục được thi công các hạng mục kết cấu còn lại trong hầm, hoàn thiện dốc hạ ngầm (RAMP), các ga ngầm, đường chuyển làn, gara và thi công hoàn thiện đường ven hồ Thủ Lệ...
Dự án đường sắt đô thị (metro) số 3, đoạn Nhổn - ga Hà Nội dài 12,5 km, có 8 ga trên cao và 4 ga ngầm. Trong đó, đoạn trên cao Nhổn - Cầu Giấy dài 8,5 km (đã khai thác thương mại hồi tháng 7.2024), đoạn đi ngầm Cầu Giấy - ga Hà Nội dài 4 km.
Dự án khởi công năm 2009, kế hoạch hoàn thành năm 2015 nhưng nhiều lần lùi tiến độ, dự kiến hoàn thành toàn tuyến năm 2027.
Để phục vụ thi công 4 km hầm ngầm tuyến metro Nhổn - ga Hà Nội, chủ đầu tư đã huy động 2 chiếc máy TBM có chiều dài hơn 100 m, nặng khoảng 850 tấn.
Quá trình thi công hầm ngầm tuyến đường sắt đô thị Nhổn - ga Hà Nội đã gây ra nhiều sự cố "suối bùn" phun trào ở vỉa hè và khu dân cư.
Tối 6.4, thông tin từ Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Trị cho biết đơn vị vừa kịp thời hỗ trợ một bé trai 15 tuổi đi lạc hơn 150 km, trở về nhà an toàn.
Trước đó, vào lúc 0 giờ 30 phút cùng ngày, trong quá trình thực hiện tuần tra, kiểm soát trên quốc lộ 1, đoạn đi qua địa phận phường Đồng Thuận (Quảng Trị), tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Trị đã phát hiện một bé trai đi xe đạp trong đêm.
Qua hỏi thăm, bé trai nói tên N.V.Đ (15 tuổi) có bố tên là Nguyễn Tiên Luân (44 tuổi, trú tại phường Hoành Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Cháu Đ. cho biết bản thân bị lạc và không nhớ đường về nhà. Khu vực lực lượng chức năng phát hiện, cách nhà cháu Đ. hơn 150 km.
Sau khi nắm được thông tin, tổ công tác đã xác minh và liên hệ được với gia đình Đ. vào Quảng Trị đưa cháu về nhà an toàn.
Thời buổi gì mà chỉ cần có chút mâu thuẫn, va chạm nho nhỏ là sẵn sàng sử dụng bạo lực ngôn từ, chửi cha mắng mẹ, xưng bố xưng ông, rút hung khí đánh người không gớm tay, thậm chí là truy sát kiểu đuổi cùng giết tận.
Những vụ việc bạo lực đời thường liên tục xảy ra gần đây đã đủ để chúng ta lo lắng về một thứ "hội chứng rối loạn" của xã hội chưa?. Hay chỉ nên đặt những chuyện như thế ở tầm mức "quan ngại"?
Đừng tránh né nữa! Bạo lực đời thường phổ biến như thế chắc chắn là bằng chứng không thể bỏ qua của sự bất lực về văn hóa ứng xử và ngôn ngữ. Khi một cá nhân dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, đó thường là dấu hiệu cho thấy họ thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và khả năng thương thuyết.
Khi xã hội coi bạo lực là phương thức hiệu quả để bắt người khác tuân phục, đó chính là sự thụt lùi về văn minh. Nhất là soi vào nếp truyền thống ứng xử "dĩ hòa vi quý" của người Việt thì sự phổ biến bạo lực đời thường phản ánh một sự tha hóa rõ ràng của chuẩn mực hành xử truyền thống.
Nhưng tại sao chuẩn mực hành xử truyền thống bền vững cả ngàn đời mà giờ lại dễ dàng bị giẫm qua như thế?. Phải chăng có điều gì đó hằng ngày, từng chút một, tưởng vô hại nhưng rất nguy hiểm, đã làm xói mòn những chuẩn mực này?
Sự xói mòn chuẩn mực hành xử có thể xảy ra bởi những kiểu ngôn từ thô bạo mà người Việt đang ngày càng dễ dãi sử dụng và chấp nhận. Chính sự tha hóa của ngôn từ là một trong những tiền đề cho sự băng hoại của hành vi. Chúng ta có bao giờ thật sự cân nhắc điều này chưa, dù ngay trong những câu nói đùa giỡn hay trong những ngữ cảnh cho phép sự suồng sã?
Khi những lời chửi thề, những từ ngữ mang tính nhục mạ hoặc hạ thấp người khác xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội và trong giao tiếp đời thường, chúng ta dần hình thành kiểu trạng thái trơ lì cảm xúc.
Ban đầu thì còn cảm thấy sốc và khó chịu. Rồi dần dần chấp nhận nó như một phần của cá tính hoặc ngôn ngữ mạng. Cuối cùng thì ta sử dụng nó như một phản xạ tự nhiên. Khi ngôn từ trở nên thô bạo, ranh giới giữa tranh luận và mạt sát bị xóa nhòa.
Một khi đã chấp nhận nhục mạ nhau bằng lời nói, việc chuyển sang dùng nắm đấm chỉ còn là một bước tiến rất ngắn về mặt tâm lý. Đó là kiểu hiệu ứng "con ếch bị luộc chín" (boiling frog syndrome) trong ngôn ngữ. Chúng ta đã không "canh giữ" nhau trong ngôn từ hằng ngày trên mạng, trong đời thường, để rồi thứ chúng ta nhận lại là sự tha hóa tồi tệ của hành xử bạo lực.
Rồi khi ngôi nhà có một ô cửa kính bị vỡ mà không được sửa, người ta sẽ sớm đập phá những ô cửa còn lại. Ngôn ngữ cũng vậy. Sự dễ dãi chấp nhận ngôn từ thô bạo chính là "ô cửa sổ vỡ" đầu tiên. Khi cái sai nhỏ được chấp nhận, cái sai lớn hơn (bạo lực thể xác) sẽ có mảnh đất màu mỡ để tồn tại.
Nguy hiểm nhất là khi bạo lực ngôn từ được khoác chiếc áo "thẳng thắn", "thật thà" hay "sống thật". Vì nhầm lẫn giữa sự thô lỗ và chân thành, nhiều người không còn động lực để tu dưỡng sự điềm tĩnh.
Điều chúng ta cần không chỉ là pháp luật nghiêm minh, mà còn cần một cuộc phục hưng về năng lực ngôn ngữ và sự thấu cảm, bắt đầu từ việc từ chối những ngôn từ độc hại hằng ngày.