“Ngay cả khi được trao quyền rộng, thành phố vẫn khó tạo bứt phá nếu không khơi lại tinh thần dám nghĩ, dám làm”, TS Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, nói tại hội thảo tham vấn về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho TP HCM do UBND TP HCM phối hợp với Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức, ngày 4/4.
Theo ông Du, khoảng một thập niên qua TP HCM không thiếu cơ chế đặc thù, song các chính sách chưa tạo động lực tăng trưởng rõ rệt, thậm chí vai trò, đóng góp của thành phố có xu hướng giảm.
Dẫn số liệu, ông cho biết năm 2001, vùng Đông Nam Bộ chiếm 37,6% GDP cả nước, hiện còn 31,1%; trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng từ khoảng 25% đã vươn lên dẫn đầu. Cách đây 20-25 năm, khu vực TP HCM (gồm Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương cũ) đóng góp khoảng 50% thu ngân sách, nay còn khoảng một phần ba.
Diễn biến này cũng thể hiện qua các giai đoạn áp dụng cơ chế đặc thù. Khi ban hành Nghị quyết 54 năm 2017, vùng TP HCM chiếm khoảng 27% GDP cả nước; sau 5-6 năm triển khai, tỷ trọng giảm còn 24,5% và đến năm 2020 còn 23,1%.
Liên hệ giai đoạn đầu Đổi mới, TS Huỳnh Thế Du cho rằng TP HCM từng tăng trưởng mạnh nhờ cách làm linh hoạt, “phá rào” trước những ràng buộc chưa phù hợp. “Luật Đô thị đặc biệt hay việc nới khung thể chế chỉ là điều kiện cần, vấn đề là cách làm và vận hành thực tế của bộ máy”, ông nói.
Theo chuyên gia này, điểm mấu chốt nằm ở “thể chế phi chính thức” – cách hệ thống thực sự vận hành, từ phối hợp giữa các cơ quan, xử lý công việc đến tinh thần dám làm và mức độ linh hoạt trong thực thi – có thể chiếm tới 80% động lực đổi mới.
TS Du lưu ý nếu chỉ hoàn thiện quy định trên giấy mà không thay đổi cách vận hành, hiệu quả sẽ hạn chế. Vì vậy, cùng với xây dựng luật, TP HCM cần khơi lại tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ thực thi.
“Giả định TP HCM có quyền như Singapore, tôi vẫn lo ngại nếu cách làm không thay đổi”, ông nói, dẫn lại việc thành phố đã trải qua nhiều cơ chế như Nghị quyết 54, 98 nhưng chưa tạo được bứt phá rõ rệt.
Đồng quan điểm, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng để luật phát huy hiệu quả cần hướng tới mục tiêu: thành phố phải “được làm, làm được và dám làm”, đồng thời triển khai nhanh, sáng tạo và hiệu quả.
Theo ông, dự thảo luật cần thiết kế cơ chế để TP HCM chủ động triển khai các nhiệm vụ cụ thể, kể cả ban hành quy định với những nội dung pháp luật hiện hành chưa đề cập. Tuy nhiên, quyền hạn phải đi kèm năng lực thực thi và trách nhiệm, do đó cần cơ chế bảo vệ cán bộ, nhất là người trực tiếp ra quyết định.
TS Điền nhấn mạnh điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, khi chủ trương, định hướng cơ bản đã rõ. Vì vậy, dự thảo cần bổ sung các công cụ hỗ trợ như quy hoạch, kiến tạo không gian phát triển, liên kết vùng, đồng thời cho phép thành phố chủ động với các lĩnh vực mới.
Về tài chính, ông đề xuất tăng quyền tự chủ tài khóa, cho phép TP HCM chủ động thu – chi, áp dụng một số khoản thu đặc thù và sử dụng các công cụ huy động vốn như trái phiếu, quỹ hạ tầng.
Ngoài ra, cần đột phá trong hợp tác công tư, mở rộng sang hạ tầng số, không gian ngầm và các lĩnh vực mới, cùng cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo. Thành phố cũng cần chủ động hơn về tổ chức bộ máy, chính sách tiền lương để thu hút nhân lực chất lượng cao.
Bộ Chính trị đã đồng ý cho TP HCM xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, tương tự Luật Thủ đô. Thành phố dự kiến hoàn tất dự thảo trong tháng 4, sau đó tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến từ tháng 5 đến tháng 6 trước khi trình Quốc hội khóa XVI xem xét vào cuối năm 2026.
Theo Phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Mạnh Cường, thành phố không chỉ dừng ở bổ sung cơ chế đặc thù mà hướng tới luật hóa các chính sách ở mức cao nhất, đủ sức giải phóng nguồn lực và tạo động lực tăng trưởng mới.
TP HCM xác định ba nguyên tắc khi xây dựng luật. Thứ nhất, trao quyền tự chủ toàn diện theo phương châm “địa phương quyết – địa phương làm – địa phương chịu trách nhiệm”. Thứ hai, luật hóa các vấn đề thực tiễn chưa có hành lang pháp lý như quản lý không gian ngầm, tài sản công, đường sắt đô thị, phát triển trung tâm tài chính, thu hút nhân tài. Thứ ba, thể chế hóa các cơ chế đặc thù, biến lợi thế riêng của thành phố thành quy định pháp luật để phát huy hiệu quả.
Chiều 13.4, ngay sau khi nhận được thông tin về vụ sạt lở nghiêm trọng trên tuyến đê bao sông Lò Gạch (đoạn qua xã Vĩnh Hưng, Tây Ninh), đoàn công tác do ông Đỗ Hữu Phương, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường dẫn đầu đã đến kiểm tra hiện trường, chỉ đạo công tác khắc phục.
Tại buổi kiểm tra, đoàn công tác yêu cầu đơn vị thi công, tư vấn thiết kế và các bên liên quan khẩn trương đánh giá toàn diện hiện trạng công trình, xác định chính xác nguyên nhân và đề xuất phương án khắc phục phù hợp, bảo đảm an toàn lâu dài. Đồng thời, rà soát các đoạn tuyến có nguy cơ để kịp thời gia cố, tránh phát sinh sự cố tương tự.
Trước mắt, chính quyền địa phương phối hợp đơn vị thi công tổ chức rào chắn, cắm biển cảnh báo, không cho người và phương tiện lưu thông qua khu vực nguy hiểm nhằm đảm bảo an toàn. Công tác khảo sát, xây dựng phương án khắc phục phải triển khai khẩn trương để sớm ổn định tuyến đê, phục vụ nhu cầu đi lại và sinh hoạt của người dân.
Như Báo Thanh Niên đã thông tin, vụ sạt lở xảy ra vào chiều 12.4, tại đoạn từ Km7+630 đến Km7+700 trên tuyến đê bao sông Lò Gạch. Tại hiện trường, hơn 60 m đê kết hợp đường giao thông (rộng 5 m) bị sạt lở hoàn toàn về phía sông Lò Gạch. Vị trí sụt lún sâu nhất khoảng 2 m, tạo hàm ếch lớn, tiềm ẩn nguy cơ tiếp tục sạt trượt.
Sự cố khiến toàn bộ nền, mặt và lề đường dân sinh bị hư hỏng, đồng thời làm gián đoạn hệ thống cấp nước sinh hoạt của các hộ dân dọc tuyến, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Rất may không ghi nhận thiệt hại về người và phương tiện.
Bước đầu, cơ quan chức năng nhận định nguyên nhân có thể do nền đất yếu, tồn tại túi bùn, kết hợp với biến động mực nước khiến kết cấu thân đê mất ổn định, dẫn đến sạt lở.
Tôi nhớ một buổi sáng cách đây không lâu ở một thành phố, có quán cà phê với tấm biển lớn treo phía trên: "Cà phê siêu sạch - nguyên chất 100%". Đi thêm vài trăm mét, hiện tượng tương tự lặp lại: quán nào cũng dán dòng chữ ấy, có nơi còn để to hơn cả tên thương hiệu.
Buổi chiều đi ngang qua nhiều cơ sở đào tạo tên gắn liền với chữ "quốc tế".
Hai hiện tượng không liên quan, nhưng phản ánh cùng một logic quen thuộc: nếu niềm tin chất lượng thực tế vẫn còn bị nhiều người ngoài nghi, thì ngôn từ dường như được huy động để lấp đầy khoảng trống.
Trong đời sống thường nhật, người tiêu dùng vẫn thường mang nỗi nghi ngại: ly cà phê mình uống có thật sự nguyên chất? Có bị pha tạp chất, hóa chất bảo quản hay không? Những vụ việc cà phê giả, cà phê "bẩn" bị phát hiện thời gian qua càng làm tăng thêm sự bất an ấy.
Chính vì vậy, "siêu sạch" không còn là một tính từ mô tả mà trở thành lời cam kết hay hứa hẹn. Ngay cả quán cà phê vỉa hè giá chỉ 15.000 đồng cũng treo biển "siêu sạch".
Vì nếu không nói ra điều này, khách hàng khó mà tin tưởng. Khách hàng không chỉ mua một ly cà phê; họ mua cảm giác yên tâm.
Câu chuyện nhiều "đại học quốc tế" cũng vận hành theo cùng một cơ chế. Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình, hai chữ "quốc tế" trở thành tín hiệu mạnh mẽ, gợi lên hình ảnh chương trình tiên tiến, giảng viên chất lượng cao và bằng cấp có giá trị toàn cầu. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng khớp với tên gọi. Nhiều chương trình vẫn còn hạn chế về đội ngũ giảng viên quốc tế, môi trường học thuật và sự công nhận quốc tế thực sự.
Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã siết chặt quy định về đặt tên cơ sở giáo dục đại học, không cho phép tùy tiện sử dụng các từ mang tính "vị thế đặc biệt" như "quốc tế", "quốc gia", "Việt Nam"… trừ khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định này cho thấy hiện tượng lạm dụng tên gọi không còn là chuyện cá biệt, mà đã trở thành vấn đề cần quản lý để tránh gây nhầm lẫn và bảo vệ người học.
Vậy điều gì khiến nhiều người đặc biệt "ưa chuộng" những từ mang tính nâng cấp như "siêu" hay "quốc tế"?
Câu trả lời có lẽ nằm ở một tâm lý dễ hiểu: chất lượng thực tế còn khiêm tốn, nhưng khát vọng vươn tầm lại rất lớn. Trong thời gian dài, một số loại hàng hóa kém ổn định về chất lượng. Giáo dục trong nước cũng thường bị so sánh bất lợi với các nền giáo dục tiên tiến.
Những so sánh ấy có thể không công bằng, nhưng để lại dấu ấn: cảm giác chưa đủ, kèm theo mong muốn được công nhận mạnh mẽ.
Phải chăng khoảng cách giữa thực tế và kỳ vọng còn lớn, nên ngôn từ trở thành giải pháp nhanh nhất để "nâng cấp" hình ảnh?
"Siêu sạch" không chỉ là sạch mà còn vượt trội so với "chưa sạch". "Quốc tế" không chỉ là mở rộng mà còn là cách khẳng định mình đã bước ra khỏi khuôn khổ "bình thường nội địa".
Đó là một dạng tự vệ tâm lý: khẳng định giá trị ngay cả khi điều đó chưa hoàn toàn trở thành hiện thực.
Ở chiều tích cực, khát vọng ấy có thể là động lực quan trọng. Khi người tiêu dùng đòi hỏi cà phê sạch hơn, nhiều doanh nghiệp, từ các thương hiệu lớn đến các cơ sở nhỏ, đã đầu tư nghiêm túc hơn vào nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Tương tự, áp lực từ phụ huynh tìm kiếm giáo dục chất lượng cao đã thúc đẩy nhiều trường cải thiện chương trình, hợp tác quốc tế và hướng tới các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế. Khát vọng, vì thế không chỉ nằm trên tấm biển quảng cáo, mà có thể kéo thực tế đi lên.
Tuy nhiên nếu khát vọng chỉ dừng lại ở ngôn từ, chính những từ ngữ ấy sẽ dần mất giá trị. Khi quán nào cũng "siêu sạch", người tiêu dùng bắt đầu nghi ngờ tất cả.
Khi trường nào cũng mang tên "quốc tế", sinh viên và phụ huynh sẽ tự hỏi: đâu mới là quốc tế thực sự? Khi niềm tin bị bào mòn, thiệt hại không chỉ thuộc về một thương hiệu hay một trường học, mà còn thuộc về cả hệ sinh thái kinh tế - giáo dục.
Ly cà phê vỉa hè đến tấm biển trường đại học cho thấy tràn đầy khát vọng, nhưng ngôn từ đôi khi lại đi nhanh hơn thực lực hiện có.
Có lẽ, điều cốt lõi là nâng chất lượng thực chất đến mức những cụm từ như "siêu sạch" hay "quốc tế" trở nên không còn cần thiết.
Khi cà phê thật sự sạch, người ta nhận ra qua vị đắng thanh và hậu ngọt tự nhiên, chứ không phải qua tấm biển trước quán. Khi một trường đại học đạt chuẩn, sinh viên sẽ cảm nhận qua chương trình học, đội ngũ giảng viên và con đường nghề nghiệp mở ra trên khu vực hoặc toàn cầu, chứ không cần phải đọc tên trường mới biết.
Đến lúc đó, niềm tin không còn treo trên bảng hiệu mà nằm trong trải nghiệm. Và khát vọng cũng không cần phải nói to lên nữa, bởi nó đã hiện diện trong chính chất lượng.
Khoảng 8 giờ 15 ngày 15.4 xảy ra vụ cháy tàu cá trên biển Phan Thiết. Tàu cá mang số hiệu BTh 95768 TS, dài 19 m, công suất 750 CV, đang neo đậu cách cảng cá Phú Hải (phường Phú Thủy, tỉnh Lâm Đồng - trước đây thuộc thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) khoảng 2 km thì bất ngờ bốc cháy.
Tàu cá bị cháy do ông N.V.T (ở phường Phú Thủy) làm chủ kiêm thuyền trưởng.
Theo ghi nhận của PV Thanh Niên, từ đất liền, người dân ở nhiều khu vực có thể quan sát rõ cột khói đen bốc cao trên biển do tàu cá bị cháy. Khi phát hiện vụ cháy, một số tàu cá đang hoạt động gần khu vực đã nhanh chóng tiếp cận, hỗ trợ chữa cháy.
Tuy nhiên, do thời tiết có gió mạnh, ngọn lửa bùng phát dữ dội và lan nhanh ra toàn bộ tàu. Vụ cháy xảy ra ở vị trí cách xa bờ nên lực lượng chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận hiện trường.
Lực lượng biên phòng đã sử dụng xuồng, ca nô và tàu chuyên dụng ra khu vực xảy ra vụ việc, phối hợp cùng ngư dân triển khai các biện pháp chữa cháy. Sau khoảng 1 giờ nỗ lực, đám cháy được khống chế và dập tắt.
Vụ cháy tàu cá trên biển Phan Thiết không gây thiệt hại về người. Hiện tàu cá bị cháy đã được lai dắt vào cảng để khắc phục.