Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
– Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
– Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
– Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
– Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là “mệnh lệnh phát triển”, thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm “made in Viet Nam”.
– Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
– Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là “đứng trên vai người khổng lồ”.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
– Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
– Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
– Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
– Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Thông tin về việc lấy ý kiến hoán đổi ngày làm việc để người lao động được nghỉ lễ liền mạch trong 2 kỳ nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và lễ 30.4 - 1.5 vừa được ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, chia sẻ ngày 7.4.
Theo ông Hiểu, những ngày qua, nhiều công đoàn cơ sở, người lao động và cả cán bộ, công chức đã có kiến nghị với Tổng LĐLĐ Việt Nam nên nghiên cứu về việc hoán đổi để tạo kỳ nghỉ liền mạch giữa nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và dịp lễ 30.4 - 1.5.
"Tổng LĐLĐ Việt Nam sẽ lắng nghe ý kiến từ phía người lao động, đồng thời nghiên cứu quy định của pháp luật và trao đổi với Bộ Nội vụ trước khi đưa ra đề xuất chính thức", ông Hiếu nói.
Dự kiến chiều nay 7.5, sẽ lấy ý kiến tiếp của đoàn viên, người lao động thông qua mạng xã hội, đặc biệt là nghiên cứu các quy định của pháp luật.
Ông Hiểu cũng cho hay, để đưa ra đề xuất chính thức Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng phải cân nhắc đồng thời 3 yếu tố, gồm: nguyện vọng của người lao động, quy định của pháp luật và sự hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan.
Thực tế, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã lấy ý kiến từ công đoàn cơ sở và sẽ tiếp tục mở rộng lấy ý kiến người lao động trên diện rộng. Sau khi tổng hợp, đánh giá và đối chiếu quy định pháp luật, cơ quan này mới có thể đưa ra đề xuất chính thức.
Một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là quy định nghỉ bù phải liền kề ngay sau ngày nghỉ lễ. Điều này khiến việc "nối" 2 kỳ nghỉ gần nhau trở nên khó khăn.
"Quy định phải nghỉ bù ngay sau ngày lễ đôi khi tạo ra bất cập, nhất là trong tình huống 2 kỳ nghỉ sát nhau như năm nay. Đây là vấn đề cần bàn bạc kỹ, bởi hiện chưa có sửa đổi luật, nên mọi phương án đều phải cân nhắc thận trọng", ông Hiểu nhấn mạnh.
Nhiều ý kiến đề xuất, nếu ngày Giỗ tổ rơi vào cuối tuần thì không nghỉ bù ngay sau đó, mà chuyển sang ngày 29.4 để kéo dài kỳ nghỉ. Tuy nhiên, phương án này chưa phù hợp với quy định hiện hành.
"Đây là tình huống đặc biệt mà luật chưa tính đến, nên việc đề xuất gặp nhiều khó khăn", ông Hiểu nói thêm.
Bà Hồ Thị Kim Ngân, Phó trưởng ban Quan hệ lao động (Tổng LĐLĐL Việt Nam), cho biết từ thực tế tại doanh nghiệp, nhiều ý kiến đã đề xuất phương án hoán đổi ngày nghỉ. Đề xuất này xuất phát từ thực tế bố trí lịch nghỉ năm 2026 còn bất hợp lý, đặc biệt với nhóm lao động làm việc cả thứ bảy.
Cụ thể, một số doanh nghiệp và công đoàn cơ sở đề xuất chuyển ngày nghỉ bù Giỗ tổ (ngày 27.4) sang thứ tư (ngày 29.4) hoặc thứ bảy ( ngày 2.5), nhằm giúp người lao động có thể nghỉ liên tục 4 - 5 ngày.
"Việc hoán đổi sẽ giúp người lao động có thời gian nghỉ ngơi tốt hơn, tái tạo sức lao động. Nếu không hoán đổi, người lao động trong doanh nghiệp sẽ nghỉ Giỗ tổ 2 ngày (chủ nhật 26.4 và thứ hai 27.4), sau đó đi làm tiếp 2 ngày, rồi lại nghỉ 2 ngày dịp 30.4 - 1.5, sau đó quay lại làm việc 1 ngày thứ bảy (2.5) rồi mới nghỉ tiếp vào chủ nhật, khiến kỳ nghỉ bị chia nhỏ", bà Ngân phân tích.
Trong khi đó, theo bà Ngân, nếu được hoán đổi hợp lý, người lao động có thể có kỳ nghỉ dài hơn, thuận tiện cho sinh hoạt và phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên, theo quy định của bộ luật Lao động, phương án hoán đổi này lại không khả thi.
"Luật quy định ngày nghỉ bù phải được bố trí ngay sau ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ hằng tuần trùng lễ, không được chuyển đổi sang thời điểm khác. Do đó, một số Sở Nội vụ đã có ý kiến không đồng thuận với đề xuất hoán đổi do không phù hợp quy định pháp luật", bà Ngân nói.
Từ thực tiễn triển khai, bà Ngân cho rằng đã đến lúc cần nghiên cứu điều chỉnh quy định theo hướng linh hoạt hơn, thay vì "cứng" như hiện nay.
"Nên xem xét quy định mở, cho phép doanh nghiệp và công đoàn thỏa thuận để sắp xếp lịch nghỉ phù hợp với tình hình sản xuất và nhu cầu nghỉ ngơi của người lao động", bà Ngân đề xuất.
Bà Ngân cũng nhấn mạnh, lịch nghỉ giữa khu vực nhà nước và khu vực doanh nghiệp thực tế có sự liên thông, tác động qua lại.
"Lịch nghỉ của 2 khu vực tưởng không liên quan nhưng thực tế lại ảnh hưởng lẫn nhau. Việc công bố lịch nghỉ sớm ngay từ đầu năm là cần thiết, giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, đồng thời góp phần kích cầu tiêu dùng, du lịch. Ngoài ra, việc xây dựng lịch nghỉ cần có sự trao đổi, phối hợp giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp để đảm bảo hài hòa lợi ích".
Từ thực tế lịch nghỉ của năm 2026, bà Ngân kiến nghị khi sửa bộ luật Lao động cần bổ sung quy định cho phép linh hoạt hơn trong bố trí ngày nghỉ lễ, nghỉ bù.
"Một chính sách khó có thể đáp ứng tất cả, nhưng cần hướng tới lợi ích của đa số người lao động và không gây bất lợi cho xã hội", bà Ngân nhấn mạnh.
Theo các chuyên gia, nếu được sắp xếp hợp lý, người lao động có thể có kỳ nghỉ dài 4 ngày thay vì bị chia nhỏ như hiện nay, vừa đảm bảo quyền lợi nghỉ ngơi, vừa không ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong bối cảnh nhu cầu cân bằng giữa công việc và cuộc sống ngày càng được quan tâm, việc điều chỉnh linh hoạt lịch nghỉ lễ được xem là cần thiết, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
Trước đó, tại buổi họp báo ngày 3.4 của Bộ Nội vụ, ông Vũ Trọng Bình, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), khẳng định những ngày nghỉ của năm 2026 đã được Chính phủ cho phép và Bộ Nội vụ thông báo vào tháng 10.2025. Đến ngày 3.4, Bộ Nội vụ và Chính phủ không có một chủ trương gì mới đối với thông báo ngày nghỉ của năm 2026.
Sở Xây dựng TP.HCM vừa có văn bản gửi Bộ Xây dựng và Cục Đường bộ Việt Nam phản ánh một số khó khăn trong công tác quản lý, bình ổn giá cước vận tải đường bộ, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp.
Theo Sở Xây dựng thành phố, chi phí nhiên liệu hiện chiếm khoảng 30-40% tổng chi phí hoạt động của đơn vị kinh doanh vận tải. Trong khi đó, giá nhiên liệu biến động mạnh thời gian qua đã tạo áp lực lớn đến chi phí vận hành.
"Nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm từ 20 - 70% số chuyến, thậm chí hoạt động cầm chừng hoặc bù lỗ", văn bản nêu.
Trước thực tế này, Sở Xây dựng thành phố kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét miễn, giảm phí sử dụng đường bộ, phí sử dụng dịch vụ đường bộ phù hợp với tình hình thực tế.
Đồng thời cơ quan chức năng cần nghiên cứu cơ chế giãn, giảm một số nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn khó khăn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vận tải duy trì hoạt động.
Sở cũng đề xuất Cục Đường bộ Việt Nam nghiên cứu xây dựng và triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kê khai giá cước vận tải đường bộ, kết nối đồng bộ giữa Trung ương và địa phương, phục vụ công tác quản lý và dự báo thị trường trước biến động giá nhiên liệu.
Đối với hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định, Sở Xây dựng thành phố kiến nghị xem xét đề xuất các địa phương chỉ đạo đơn vị quản lý bến xe báo cáo Sở Tài chính để thực hiện miễn, giảm giá dịch vụ xe ra, vào bến xe khách, tạo sự thống nhất trong triển khai.
Ngoài ra nhằm đảm bảo ổn định hoạt động vận tải tuyến cố định, Sở Xây dựng thành phố đề xuất tạm thời chưa xử lý thu hồi thông báo đăng ký khai thác tuyến đối với các đơn vị thực hiện từ 50% số chuyến đã đăng ký trong một tháng.
Những ngày qua, nhiều căn nhà trên quốc lộ 13, đoạn qua phường Hiệp Bình được phá dỡ, lùi sâu vào trong, chờ triển khai công trình.
Dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 13 đoạn dài 6 km từ cầu Bình Triệu đến Vĩnh Bình sẽ mở rộng từ 4-6 làn xe lên 10 làn, rộng 60 m, cùng hành lang trồng cây xanh, công trình hạ tầng kỹ thuật, giúp giảm ùn tắc cửa ngõ đông bắc TP HCM. Công trình có tổng mức đầu tư gần 21.000 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao).
Những ngày qua, nhiều căn nhà trên quốc lộ 13, đoạn qua phường Hiệp Bình được phá dỡ, lùi sâu vào trong, chờ triển khai công trình.
Dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 13 đoạn dài 6 km từ cầu Bình Triệu đến Vĩnh Bình sẽ mở rộng từ 4-6 làn xe lên 10 làn, rộng 60 m, cùng hành lang trồng cây xanh, công trình hạ tầng kỹ thuật, giúp giảm ùn tắc cửa ngõ đông bắc TP HCM. Công trình có tổng mức đầu tư gần 21.000 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao).
Một dãy nhà đã được chủ hộ hoàn tất giải tỏa hơn một tuần nay, giúp không gian thoáng đãng hơn.
Theo UBND phường Hiệp Bình, dự án cần thu hồi đất của 1.041 trường hợp, trong đó hơn 200 hộ phải giải tỏa toàn bộ. Ngân sách thành phố dự kiến chi hơn 14.600 tỷ đồng cho dự án cho bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Một dãy nhà đã được chủ hộ hoàn tất giải tỏa hơn một tuần nay, giúp không gian thoáng đãng hơn.
Theo UBND phường Hiệp Bình, dự án cần thu hồi đất của 1.041 trường hợp, trong đó hơn 200 hộ phải giải tỏa toàn bộ. Ngân sách thành phố dự kiến chi hơn 14.600 tỷ đồng cho dự án cho bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Sáng 10/4, dọc theo quốc lộ 13 có khoảng 4-5 căn nhà đang đang được tháo dỡ; nhiều hộ khác đã bàn giao mặt bằng trước đó.
Đến nay, phường Hiệp Bình đã chi trả bồi thường cho 598 trường hợp với tổng số tiền gần 4.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc bàn giao mặt bằng không diễn ra đồng loạt, hiện có khoảng 25 hộ bàn giao mặt bằng.
Sáng 10/4, dọc theo quốc lộ 13 có khoảng 4-5 căn nhà đang đang được tháo dỡ; nhiều hộ khác đã bàn giao mặt bằng trước đó.
Đến nay, phường Hiệp Bình đã chi trả bồi thường cho 598 trường hợp với tổng số tiền gần 4.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc bàn giao mặt bằng không diễn ra đồng loạt, hiện có khoảng 25 hộ bàn giao mặt bằng.
Tại căn nhà số 168, gạch đá, xà bần ngổn ngang sau khi tháo dỡ được công nhân thu dọn.
Tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng hiện vẫn chậm so với yêu cầu của UBND TP HCM. Một trong những nguyên nhân chính là thiếu quỹ nhà, đất phục vụ tái định cư.
Theo Sở Xây dựng TP HCM, trước đây thành phố bố trí 178 căn hộ và nền đất để phục vụ tái định cư. Tuy nhiên, qua rà soát, nhu cầu thực tế tăng lên đáng kể, với gần 350 trường hợp. Sự thiếu hụt này ảnh hưởng tiến độ chi trả bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho người dân.
Tại căn nhà số 168, gạch đá, xà bần ngổn ngang sau khi tháo dỡ được công nhân thu dọn.
Tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng hiện vẫn chậm so với yêu cầu của UBND TP HCM. Một trong những nguyên nhân chính là thiếu quỹ nhà, đất phục vụ tái định cư.
Theo Sở Xây dựng TP HCM, trước đây thành phố bố trí 178 căn hộ và nền đất để phục vụ tái định cư. Tuy nhiên, qua rà soát, nhu cầu thực tế tăng lên đáng kể, với gần 350 trường hợp. Sự thiếu hụt này ảnh hưởng tiến độ chi trả bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho người dân.
Các mảng tường sau khi kéo sập được công nhân cắt các kết cấu bên trong để lấy sắt thép.
Các mảng tường sau khi kéo sập được công nhân cắt các kết cấu bên trong để lấy sắt thép.
Một số nhà xưởng trên quốc lộ 13 cũng tiến hành tháo dỡ. Theo chủ nhà, do dự án mở rộng đường có quy hoạch từ lâu nên khi xây đã chừa phần lộ giới, việc bàn giao mặt bằng đơn giản hơn, chỉ vài ngày là hoàn thành.
Một số nhà xưởng trên quốc lộ 13 cũng tiến hành tháo dỡ. Theo chủ nhà, do dự án mở rộng đường có quy hoạch từ lâu nên khi xây đã chừa phần lộ giới, việc bàn giao mặt bằng đơn giản hơn, chỉ vài ngày là hoàn thành.
Cách đó khoảng 500 m, khu đất rộng hơn 200 m2 của ông Lê Tuấn Hưng vừa giải tỏa xong, đang dọn dẹp mặt bằng và xây lại nhà mới. Hơn 50 năm sống ở đây, ông thường xuyên gặp cảnh ùn tắc ở con đường huyết mạch nối tỉnh Bình Dương cũ với TP HCM.
Ông cho biết giá đền bù chưa như mong muốn nhưng vẫn đồng thuận giao mặt bằng. "Trước là dãy nhà trọ nên giờ mất một khoản thu nhập, chỉ mong dự án sớm khởi công để đi lại thuận tiện hơn”, ông nói.
Cách đó khoảng 500 m, khu đất rộng hơn 200 m2 của ông Lê Tuấn Hưng vừa giải tỏa xong, đang dọn dẹp mặt bằng và xây lại nhà mới. Hơn 50 năm sống ở đây, ông thường xuyên gặp cảnh ùn tắc ở con đường huyết mạch nối tỉnh Bình Dương cũ với TP HCM.
Ông cho biết giá đền bù chưa như mong muốn nhưng vẫn đồng thuận giao mặt bằng. "Trước là dãy nhà trọ nên giờ mất một khoản thu nhập, chỉ mong dự án sớm khởi công để đi lại thuận tiện hơn”, ông nói.
Một căn nhà sau khi giải tỏa phần trước đang được chủ hộ xây sửa lại để sớm ổn định cuộc sống.
Một căn nhà sau khi giải tỏa phần trước đang được chủ hộ xây sửa lại để sớm ổn định cuộc sống.
Dọc theo quốc lộ 13, lác đác vài căn nhà đã dỡ tạm, chủ dọn đi, chờ giải tỏa toàn. Theo kế hoạch công tác chi trả bồi thường, hỗ trợ di dời sẽ hoàn thành trong tháng 6 và khởi công vào cuối năm nay, hoàn thành sau đó hai năm.
Dọc theo quốc lộ 13, lác đác vài căn nhà đã dỡ tạm, chủ dọn đi, chờ giải tỏa toàn. Theo kế hoạch công tác chi trả bồi thường, hỗ trợ di dời sẽ hoàn thành trong tháng 6 và khởi công vào cuối năm nay, hoàn thành sau đó hai năm.
Quốc lộ 13 đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu Vĩnh Bình hiện rộng 20-30 m, thường xuyên ùn tắc giờ cao điểm và ngập khi mưa, triều cường. Ngoài mở rộng mặt đường, khoảng 3,2 km ở giữa tuyến sẽ xây dựng đường trên cao (cầu cạn) với quy mô 4 làn xe, hai bên là đường song hành.
Quốc lộ 13 đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu Vĩnh Bình hiện rộng 20-30 m, thường xuyên ùn tắc giờ cao điểm và ngập khi mưa, triều cường. Ngoài mở rộng mặt đường, khoảng 3,2 km ở giữa tuyến sẽ xây dựng đường trên cao (cầu cạn) với quy mô 4 làn xe, hai bên là đường song hành.
Đoạn khởi công từ cầu Bình Triệu đến khu vực gần cổng chào Vĩnh Phú. Đồ họa: Khánh Hoàng
Quốc lộ 13 dài hơn 140 km, nối TP HCM với Bình Dương và Bình Phước. Đây là trục giao thông chính ở cửa ngõ đông bắc thành phố, thường xuyên ùn tắc do đi qua khu dân cư đông và kết nối bến xe Miền Đông cũ. Ngoài tuyến này, TP HCM còn xúc tiến ba dự án BOT nâng cấp quốc lộ 1, 22 và trục Bắc - Nam.
Đoạn khởi công từ cầu Bình Triệu đến khu vực gần cổng chào Vĩnh Phú. Đồ họa: Khánh Hoàng
Quốc lộ 13 dài hơn 140 km, nối TP HCM với Bình Dương và Bình Phước. Đây là trục giao thông chính ở cửa ngõ đông bắc thành phố, thường xuyên ùn tắc do đi qua khu dân cư đông và kết nối bến xe Miền Đông cũ. Ngoài tuyến này, TP HCM còn xúc tiến ba dự án BOT nâng cấp quốc lộ 1, 22 và trục Bắc - Nam.