Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành kết luận 17 của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Theo đó, xem xét tờ trình của Đảng ủy Quốc hội về đề án định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thông qua những nội dung cơ bản của đề án.
Bộ Chính trị nhấn mạnh mục tiêu của công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI là tạo lập khung khổ pháp lý thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2031, gắn với định hướng phát triển đất nước.
Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế – xã hội.
Tạo tiền đề đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, tiên tiến, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế.
Công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI tập trung vào các định hướng lớn, trong đó nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác lập pháp cần tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính…
Bộ Chính trị yêu cầu các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị kịp thời thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng.
Trong đó tập trung hoàn thành thể chế hóa ngay trong năm 2026 những nội dung cốt lõi, quan trọng của nghị quyết Đại hội XVI và các nghị quyết chiến lược, trụ cột.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu tập trung khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong giai đoạn phát triển mới.
Tạo lập hành lang pháp lý cho các vấn đề mới, như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo…
Tiếp tục đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang phục vụ, kiến tạo phát triển đất nước, xã hội, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, đưa pháp luật trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Kết luận cũng nêu rõ việc dứt khoát từ bỏ tư duy không quản được thì cấm. Xóa bỏ cơ chế xin – cho, triệt để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn để thu hút đầu tư.
Công tác quản lý nhà nước cần chuyển từ tư duy tiền kiểm, yêu cầu an toàn tuyệt đối sang chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát, luật hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo.
Chính sách, pháp luật gắn với kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm công bằng, minh bạch, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không để xảy ra lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm an ninh chính trị; đề cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy trình xây dựng pháp luật, nhất là của người đứng đầu.
Hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội trong công tác lập pháp cần tiếp tục đổi mới phương thức.
Tăng cường giám sát công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những nội dung bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn.
Cơ quan, tổ chức được giao chủ trì soạn thảo tập trung làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, xây dựng chính sách, tham vấn, đánh giá tác động chính sách trong quá trình soạn thảo.
Người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện, trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế của bộ, ngành mình.
Chính phủ quyết liệt chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, ngành để bảo đảm chất lượng, tiến độ chuẩn bị dự án. Tiếp tục hoàn thiện các khâu trong quy trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật…
Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây gồm 5 gói (XL6, XL7, XL8, XL9, XL10) trải dài khoảng 32,6km qua huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh cũ - khu vực có nền đất yếu, khối lượng xử lý rất lớn.
Ngay sau loạt bài về "Báo động đỏ đoạn phía tây đường vành đai 3 TP.HCM", trao đổi với Tuổi Trẻ Online, các nhà thầu cho biết đang tập trung nguồn lực, nhân sự trên công trường để tăng tốc xử lý nền đất yếu đối với những đoạn còn lại.
Ghi nhận tại các gói thầu XL7, XL8, hiện một số đoạn đang tiếp tục được nhà thầu xử lý nền đất yếu - một công đoạn đường găng, mất nhiều thời gian nhất trong quá trình thi công.
Trong đó, giải pháp xử lý đất yếu đang áp dụng đại trà là bằng bấc thấm, cần rất nhiều cát san lấp và phải chờ gia tải 10 - 14 tháng. Giải pháp thứ hai là xử lý hút chân không, giúp giảm nhu cầu vật liệu, hạn chế phụ thuộc nguồn cát, rút ngắn thời gian xử lý còn 6 - 8 tháng.
Tại gói thầu XL9, theo các phần việc trong hợp đồng, các nhà thầu liên quan đang triển khai giai đoạn xử lý nền đất yếu theo phương pháp gia tải bằng bấc thấm.
Với tiến độ triển khai tại công trường, dự kiến một số đoạn trên tuyến chính vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây cần khoảng 8 tháng nữa mới hoàn thành xử lý đất yếu, và thêm khoảng 1 - 2 tháng để hoàn thiện nền đường.
Tại gói thầu XL8, tiến độ khá chậm, mới đạt hơn 54%. Do việc xử lý đất yếu là đường găng của dự án, nên một số đoạn đã được chuyển từ xử lý bằng bấc thấm sang hút chân không để rút ngắn thời gian.
Theo kế hoạch, những đoạn xử lý đất yếu bằng phương pháp hút chân không phải đến tháng 9-2026 mới hoàn thành để tiếp tục làm hạng mục tiếp theo.
Việc chuyển phương pháp xử lý khiến chi phí tăng cao, gần gấp đôi so với gia tải bằng giải pháp bấc thấm thông thường. Hiện nay dù chưa được duyệt dự toán để bù giá khi thay đổi biện pháp, song các nhà thầu vẫn chủ động nguồn kinh phí triển khai để đảm bảo tiến độ dự án.
Trả lời Tuổi Trẻ Online, đại diện Công ty cổ phần Xây dựng và vận tải Hải Phong - một trong những nhà thầu thi công tại gói thầu XL7, XL8 - cho biết trước đây gói thầu XL7 do một nhà thầu khác triển khai, nhưng đã bị chấm dứt hợp đồng.
Sau đó công ty được giao vào thay thế, nên thời gian triển khai chậm hơn so với các gói thầu và nhà thầu khác. Trong khi đó, thời gian xử lý đất yếu phải theo quy định để đảm bảo chất lượng, muốn rút ngắn cũng không thể được.
Đặc biệt, theo nhà thầu, một trong những nguyên nhân chính gây chậm tiến độ là do vật liệu cát và đá khan hiếm, giá tăng cao.
Cụ thể, thời điểm dự thầu, giá cát san lấp khoảng 200.000 đồng/m³, cấp phối đá dăm tại mỏ khoảng 170.000 - 205.000 đồng/tấn. Đến nay giá cát đã tăng lên khoảng 420.000 đồng/m³, còn cấp phối đá dăm cũng tăng ở mức 242.000 - 319.000 đồng/tấn. Chưa kể các chi phí nhiên liệu, nhân sự tăng chóng mặt kể từ khi xung đột Mỹ - Iran nổ ra.
Đơn giá vật liệu xây dựng trên thị trường tăng mạnh trong thời gian qua. Trong quá trình thi công và nghiệm thu, nhà thầu càng làm càng thua lỗ, đặc biệt là các đơn vị làm phần nền đường với khối lượng vật liệu cát, đá lớn. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng huy động vốn để tiếp tục triển khai dự án.
"Dù gặp rất nhiều khó khăn, hiện nay nhà thầu vẫn đang nỗ lực huy động các nguồn lực, vay vốn để đảm bảo hoàn thành các công việc còn lại tại đường vành đai 3 TP.HCM. Chúng tôi chỉ mong các cơ quan quản lý thấu hiểu tình hình hiện tại và kịp thời cập nhật đơn giá nguyên, vật liệu theo sát biến động của thị trường.
Bởi với đơn giá như hiện tại. nhà thầu càng làm nhiều, càng lỗ nặng. Lỗ ít thì còn có thể cầm cự, nhưng với mức lỗ lớn như hiện nay, các nhà thầu có nguy cơ phá sản", đại diện Công ty cổ phần Xây dựng và vận tải Hải Phong chia sẻ.
Sáng 19/4, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng kiểm tra dự án nâng cấp, mở rộng đường 70 đoạn từ Trịnh Văn Bô đến hết địa bàn Nam Từ Liêm cũ. Tuyến dài gần 5 km, tổng mức đầu tư hơn 3.370 tỷ đồng, đi qua Xuân Phương, Tây Mỗ và Sơn Đồng.
Dự án cần giải phóng khoảng 230.000 m2 đất. Hiện các địa phương đang triển khai giải phóng mặt bằng và thi công ở những khu vực đã có mặt bằng sạch. Theo kế hoạch ban đầu, việc giải phóng mặt bằng dự kiến hoàn thành trong quý 4 năm 2026, toàn bộ dự án hoàn thành vào giữa năm 2027.
Sau khi kiểm tra thực tế, Chủ tịch thành phố yêu cầu điều chỉnh tiến độ. Ba địa phương phải hoàn thành dứt điểm giải phóng mặt bằng trong quý 2/2026. Các nhà thầu tổ chức thi công theo nguyên tắc có mặt bằng đến đâu làm đến đó, huy động nhân lực, thiết bị để phấn đấu hoàn thành toàn bộ các hạng mục trong năm 2026.
Nhấn mạnh vai trò của dự án, Chủ tịch Hà Nội cho biết đây là tuyến trục kết nối quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển đô thị, kinh tế - xã hội khu vực. Vì vậy, việc đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành sớm dự án có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả đầu tư và khai thác tuyến đường.
Theo ông Vũ Đại Thắng, thành phố đã có đầy đủ cơ chế, chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Với các trường hợp còn vướng mắc, các sở, ngành phải phối hợp tháo gỡ kịp thời, địa phương được phép áp dụng linh hoạt chính sách đã ban hành. "Không có lý do để kéo dài tiến độ, việc chậm giải phóng mặt bằng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giải ngân đầu tư công và phát triển kinh tế - xã hội", ông nói.
Đường 70 hiện không liền mạch, bị chia cắt bởi nhiều trục giao thông, phần lớn chỉ có 2 làn xe và đã xuống cấp, mưa lầy lội, nắng bụi. Theo quy hoạch giao thông Thủ đô, tuyến này sẽ được tách thành 2 trục đô thị, rộng từ 28 đến 50 m, trong đó nhiều đoạn đi trùng với đường 70 hiện hữu. Đến nay đơn vị thi công đã hoàn thành khoảng 4,45 km, các đoạn còn lại đang đầu tư mở rộng, trong đó đoạn dài nhất 7 km đang được đưa vào kế hoạch đầu tư giai đoạn 2024-2026.
Cùng ngày, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng cũng kiểm tra dự án mở rộng Quốc lộ 21B, tuyến dài 41,77 km qua khu vực phía nam thành phố. Hiện tuyến đã thông xe hơn 6 km, khoảng 17 km đang thi công và gần 19 km chưa đầu tư. Thành phố yêu cầu hoàn thành giải phóng mặt bằng các đoạn đang triển khai trong tháng 6, đồng thời kết hợp hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật như vỉa hè, hệ thống điện, viễn thông.
"Giai đoạn này không tính lời lỗ, phải bằng mọi cách có người", ông Đặng Xuân Minh, đại diện nhà thầu AIT thi công Trạm biến áp 220kV Phú Quốc, nói. Đây là một trong ba công trình ngành điện phục vụ APEC 2027, dự kiến diễn ra tháng 11 năm sau.
AIT đang thi công san lấp nền trạm, nhà điều khiển, cống thoát nước, móng thiết bị và gia cố mái taluy. Hơn 3 tháng qua, đơn vị duy trì hơn 90 lao động, tăng ca liên tục, không nghỉ cuối tuần. Sắp vào giai đoạn hoàn thiện, nhà thầu cần khoảng 260 người để kịp tiến độ trước mùa mưa kéo dài.
"Phú Quốc hiện như đại công trường, lao động bị cạnh tranh rất mạnh, trong khi nhân lực tại chỗ lại ít", ông Minh nói.
Để chủ động nguồn người, doanh nghiệp về các tỉnh miền Trung tuyển lao động, chỉ yêu cầu đủ sức khỏe. Công nhân được tập hợp sẵn, kể cả khi chưa có việc vẫn được trả lương chờ. Khi công trình bước vào cao điểm, họ được đưa ra đảo. Chi phí đi lại, ăn ở do nhà thầu chi trả. Tiền công tăng 30-40%, lên khoảng 800.000 đồng mỗi ngày.
Theo ông Minh, giá nhân công hiện cao hơn nhiều so với lúc ký hợp đồng, nhưng "không thể chần chừ" vì áp lực tiến độ.
Để phục vụ APEC 2027, tỉnh An Giang triển khai đồng loạt 21 dự án lớn. Nổi bật là Trung tâm Hội nghị và Triển lãm với tổng diện tích sàn 95.200 m2. Công trình có phòng hội nghị 10.790 m2, được xem là lớn nhất thế giới, cùng trung tâm báo chí phục vụ 4.000 phóng viên, hướng đến phát triển du lịch MICE lâu dài.
Đại diện một nhà thầu tại dự án cho biết lực lượng hiện chỉ đáp ứng 30-40% nhu cầu khi khối lượng công việc tăng nhanh. Phần còn lại phải huy động từ nhiều địa phương, chủ yếu TP HCM và các tỉnh phía Nam. Để thu hút, đơn vị dựng lán trại, hỗ trợ chi phí đi lại, cung cấp suất ăn và phụ cấp làm đêm.
Dù vậy, việc tuyển người vẫn khó. Lao động trẻ ngày càng ít chọn công việc nặng nhọc. Trong khi đó, nhiều dự án lớn triển khai cùng lúc khiến cạnh tranh nhân lực gay gắt. Đặc thù Phú Quốc xa đất liền, chi phí sinh hoạt cao càng làm giảm sức hút.
Tâm lý ngại đi xa, cùng lo ngại chậm thanh toán từ một số nhà thầu phụ trước đây, cũng khiến nhiều người chọn việc gần nhà.
Để đảm bảo tiến độ, các công trường tổ chức thi công 3 ca liên tục, trong đó ca đêm chiếm khoảng 30% nhân lực. Ở cao điểm, riêng một nhà thầu tại Trung tâm Hội nghị có thể huy động 2.400-2.700 người khi triển khai đồng loạt kết cấu, hoàn thiện và hệ thống cơ điện.
Ông Hoàng Khắc Kỳ, Trưởng bộ phận xây dựng Ban quản lý dự án APEC thuộc Sun Group, cho biết giai đoạn thi công phần thô, công trường duy trì hơn 2.000 lao động và đã hoàn thành trên 90% kết cấu chính. Khi chuyển sang hoàn thiện, nhu cầu có thể tăng lên 3.000-4.000 người, chủ yếu là thợ lành nghề.
"Các nhà thầu đang dồn lực vì chỉ còn khoảng hai tháng mùa nắng để thi công", ông Kỳ nói.
Cách đó không xa, công trường sân bay Phú Quốc gồm đường băng, nhà ga VIP và nhà ga T2 hiện có khoảng 4.000 công nhân mỗi ngày. Tuy nhiên, để đáp ứng tiến độ, đặc biệt khi vừa thi công vừa khai thác, dự án cần thêm khoảng 2.000 người.
Ông Lê Minh Thuận, Trưởng bộ phận hạ tầng dự án sân bay, cho biết áp lực không chỉ ở số lượng mà còn ở điều kiện thi công đặc thù. Nhiều hạng mục chỉ làm được trong thời gian ngắn rạng sáng để tránh giờ bay, khiến việc bố trí nhân lực phức tạp, đòi hỏi kỷ luật cao.
Theo Sun Group – chủ đầu tư 21 dự án phục vụ APEC – tiến độ chung vẫn được kiểm soát, nhưng áp lực rất lớn khi quỹ thời gian chỉ còn 9-15 tháng. Các nhà thầu chỉ còn khoảng hai tháng mùa khô (tháng 4-5) để tăng tốc trước khi bước vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Đại diện chủ đầu tư cho biết thiếu lao động là một trong bốn điểm nghẽn lớn, bên cạnh mặt bằng, hạ tầng ngầm và vật liệu.
Để hỗ trợ, Sun Group triển khai nhiều chính sách hướng vào người lao động. Tập đoàn xây dựng nhà tiền chế, đảm bảo phần lớn công nhân có chỗ ở miễn phí. Lao động làm dài hạn được thưởng thêm, hỗ trợ vé máy bay về quê. Công nhân làm xuyên Tết được thưởng khoảng một triệu đồng mỗi ngày. Người gắn bó còn được khám chữa bệnh miễn phí. Các khoản hỗ trợ được chuyển trực tiếp.
Trong khi đó, một số nhà thầu đề xuất cho phép bổ sung lao động nước ngoài. Theo họ, nhu cầu nhân lực xây dựng tăng mạnh khi nhiều dự án cùng triển khai, trong khi nguồn trong nước ngày càng hạn chế. Vì vậy, cần cơ chế phù hợp để doanh nghiệp có thêm nguồn lực, đảm bảo tiến độ các công trình trọng điểm.