Mục Lục
ToggleSáng 20/4, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh thừa ủy quyền của Thủ tướng trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam. Dự thảo được xây dựng để thể chế hóa chủ trương của Đảng, tạo thêm nguồn lực, cơ chế đầu tư và chính sách đãi ngộ cho lĩnh vực văn hóa.
Trong tổng thể chính sách phát triển văn hóa, việc xác lập Ngày Văn hóa Việt Nam được đặt ra nhằm tạo dấu mốc xã hội cho các hoạt động tôn vinh, lan tỏa giá trị văn hóa.
Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết Ủy ban nhất trí với đề xuất của Chính phủ về Ngày Văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng quy định “người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương” liên quan trực tiếp đến pháp luật về lao động.
Theo lộ trình, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10 theo trình tự, thủ tục rút gọn. Vì vậy, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị quy định nội dung này tại Bộ luật Lao động để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Ngoài nội dung về Ngày Văn hóa Việt Nam, dự thảo đưa ra 10 nhóm chính sách nhằm tạo thêm nguồn lực và động lực phát triển văn hóa. Trong đó, ngân sách nhà nước bảo đảm tối thiểu 2% tổng chi hằng năm cho lĩnh vực này, đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội.
Song song, Chính phủ đưa ra các cơ chế hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng, ưu đãi thuế, phí để hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; đồng thời cho phép cộng đồng dân cư tham gia quản lý, vận hành một số thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở.
Các chính sách ưu đãi cũng được mở rộng, như áp dụng thuế giá trị gia tăng 5% đối với điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao; miễn thuế nhập khẩu, phí hải quan đối với các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm được mua đấu giá đưa về nước để trưng bày không vì mục đích lợi nhuận.
Với nguồn nhân lực, dự thảo đề xuất cơ chế đãi ngộ đặc thù, gồm đào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước, tuyển dụng không qua thi tuyển trong một số trường hợp, tăng phụ cấp nghề cho nghệ sĩ, nghệ nhân và hỗ trợ chuyển đổi nghề khi hết tuổi nghề.
Cùng với đó, Nhà nước đặt trọng tâm vào bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, đồng thời đặt hàng sáng tạo và phổ biến các tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra nước ngoài cũng được đẩy mạnh thông qua Tuần Văn hóa Việt Nam, mô hình khu phố Việt Nam và các chương trình trưng bày tại bảo tàng quốc tế.
Ủy ban Văn hóa và Xã hội cơ bản tán thành định hướng thu hút nguồn lực phát triển văn hóa, song đề nghị làm rõ nguyên tắc áp dụng chính sách ưu đãi để tránh trùng lặp với quy định hiện hành, đồng thời xác định tiêu chí lựa chọn địa phương thí điểm và bảo đảm khả năng cân đối nguồn lực.
Đối với chủ trương thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật, cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá kỹ mô hình tổ chức, cơ chế quản trị, phương thức huy động vốn, tỷ lệ tham gia của Nhà nước và khu vực tư nhân, cũng như nguyên tắc phân chia rủi ro. Đồng thời, không sử dụng kinh phí của Quỹ để chi trả cho bộ máy quản lý.
Dự thảo nghị quyết dự kiến được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 23/4.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
'Chính phủ cần đặt nền móng cho doanh nghiệp xương sống quốc gia'

Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
- Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
- Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
- Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là "mệnh lệnh phát triển", thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm "made in Viet Nam".
- Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
- Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là "đứng trên vai người khổng lồ".
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
- Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
- Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
- Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo sử sách triều Nguyễn, năm 1864, vua Tự Đức bắt đầu tiến hành xây dựng Vạn Niên Cơ ở khu vực gần đồi Vọng Cảnh, phường Thủy Xuân ngày nay để làm nơi nghỉ ngơi. Khu vực này được bao phủ rừng thông, gần với sông Hương.
Nhà vua giao việc xây dựng Vạn Niên Cơ cho Bộ Công tiến hành, Thị lang Nguyễn Bỉnh cùng Biện lý Nguyễn Văn Chất cùng thống chế Lê Văn Xa chỉ huy xây dựng. Theo kế hoạch của Bộ Công, công trình dự kiến mất khoảng 6-7 năm hoàn thành, với sự tham gia khoảng 3.000 lính và thợ, các lính và thợ sẽ được thay phiên nhau nghỉ 3 tháng một lần.
Năm 1865, Nguyễn Văn Chất và Lê Văn Xa đã tâu xin vua Tự Đức đẩy nhanh tiến độ, xây dựng công trình xong trong vòng 3 năm. Việc đẩy nhanh tiến độ đã vắt kiệt sức thợ không được nghỉ ngơi, xảy ra cuộc khởi nghĩa của lính và thợ do anh em Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Tư Trực, Đoàn Hữu Ái lãnh đạo. Binh khí nghĩa quân sử dụng là chày vôi, đánh thẳng vào hoàng cung. Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa, vua Tự Đức đã cho đổi tên Vạn Niên Cơ thành Khiêm Cung.
Khiêm Cung cơ bản hoàn thành vào năm 1867 với quy mô hơn 50 hạng mục lớn nhỏ như cung điện, đình tạ, hồ nước, đảo cảnh và các công trình phục vụ sinh hoạt, nghỉ dưỡng của nhà vua.
Trong đó, Minh Khiêm Đường được xây dựng vào năm 1865, là một trong những công trình đặc biệt nhất. Nhà hát này được thiết kế chuyên biệt để phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của vua Tự Đức, người nổi tiếng yêu văn chương, âm nhạc và sân khấu. Vua Tự Đức thường xuyên lui tới đây nghỉ ngơi. Trong những lần ngự giá lên Khiêm Cung, vua Tự Đức thường tổ chức biểu diễn nhã nhạc, ca múa và đặc biệt là tuồng, loại hình sân khấu đạt đến đỉnh cao dưới triều Nguyễn.
Hơn 40 năm trước, nhà nghiên cứu Phan Thuận An khảo cứu, đánh giá Minh Khiêm Đường là tòa nhà ba gian hai chái, hai hiên, dựng trên nền hình chữ nhật dài 27,57 m, rộng 18,15 m, nền cao 0,65 m, lát gạch Bát Tràng và bó vỉa đá thanh. Phần nền chái phía tây cao hơn phía đông 0,2 m, nơi đặt ngự tọa cho vua xem. Hai mặt trước sau có 5 hệ thống bậc cấp bằng đá, chạm khắc hình kỷ lân mềm mại. Công trình cao khoảng 7 m, với hệ thống cột gồm 6 hàng dọc, 8 hàng ngang.
Điểm đặc sắc nằm ở trần gỗ rộng khoảng 40 m2, được trang trí thành một "bầu vũ trụ" với mặt trời, mây và khoảng 50 vì tinh tú bằng đồng bọc thủy tinh, tạo hiệu ứng ánh sáng lung linh khi thắp đèn.
Bao quanh nhà là tường gạch che ba mặt chái, mở 7 cửa sổ và 3 cửa lớn thông thoáng. Hai mặt trước sau của gian giữa lắp hệ cửa gỗ. Mái lợp ngói ống thanh lưu ly, bờ nóc trang trí hình bát quái bằng đồng, hai đầu đắp hình lá hóa rồng bằng sành sứ, đầu hồi gắn họa tiết khánh men xanh.
Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, không gian nội thất Minh Khiêm Đường được chia thành ba phần gồm sân khấu, hậu trường và khán đài. Sân khấu nằm ở ba gian giữa với một gác nhỏ, sàn cao 2,7 m, phía trước có lan can, phía sau có cầu thang cho diễn viên lên xuống. Các móc sắt phía trước dùng để kéo màn.
Phía sau là hậu trường, gồm các phòng hóa trang, đặt kệ và đạo cụ phục vụ biểu diễn.
Đối diện sân khấu là khán đài dành cho vua và đoàn tùy tùng, đặt trên một bục thấp ở chái phía tây. Ngự tọa nằm chính giữa, dưới tấm hoành phi đề tên công trình, hướng thẳng ra sân khấu, tạo góc nhìn thuận lợi để thưởng thức các buổi diễn.
Sau khi vua Tự Đức qua đời năm 1883, Khiêm Cung được đổi tên thành Khiêm Lăng theo di nguyện của nhà vua. Nhiều phi tần của vua Tự Đức cũng lên khu vực Khiêm Lăng sinh sống để hương khói.
Nhà nghiên cứu Phan Thuận An lúc đó đánh giá, trước năm 1975, các công trình kiến trúc khác trong lăng Tự Đức được tu sửa khá nhiều lần song trong những danh sách ghi tên các hạng mục công trình kiến trúc được trùng tu, bấy giờ lại không thấy có Minh Khiêm Đường. Do đó, vào thời điểm năm 1975, nhà hát này ở trong tình trạng hư hỏng khá nặng, mái bị dột, một vài cột chính trong nhà bị mục đã phải chống đỡ tạm thời. Nhiều pano trang trí bằng gỗ trên các liên ba đã bị bong rơi và mất hẳn từ lâu về trước.
Năm 1978, Pierre Pichard, một chuyên gia của UNESCO, khi đến tìm hiểu tình hình di tích ở Huế, đã ghi nhận rằng Minh Khiêm Đường bấy giờ đang ở trong tình trạng hư hỏng 60%. Ông Pierre Pichard đánh giá rất cao về nhà hát Minh Khiêm Đường nên đến năm 1978, ông đã đưa Minh Khiêm Đường vào hạng ưu tiên I trong danh sách các di tích Huế sẽ được tu sửa đợt đầu tiên do UNESCO vận động sự tài trợ của quốc tế.
Sau đó, Ban Quản lý Di tích Huế đã cho triệt giải phần mái trên 3 gian chính và lợp tạm lại bằng tôn do UNESCO viện trợ để bảo đảm phần khung gỗ còn lại bên trong, chờ ngày tu sửa. Cơ quan quản lý di tích Huế đã nhiều lần dùng hàng chục cây gỗ và cây tre để chống đỡ cấp thiết, chằng chéo tạm thời để cho ngôi nhà đứng vững.
Dù đã gia cố như thế, nhưng vì tuổi thọ của tường gỗ khá cao, cho nên tình trạng di tích này xuống cấp nhanh, có thể sập đổ bất cứ lúc nào. Có thời điểm, trước cửa Minh Khiêm Đường phải gắn thêm biển cấm không cho du khách vào tham quan trong nội thất, để tránh nguy hiểm. Năm 1990. Minh Khiêm Đường được đánh giá hư hỏng khoảng 80%.
Sau hàng chục năm gồng mình, tháng 6/2024 Minh Khiêm Đường cùng với điện Hòa Khiêm, Ôn Khiêm đường được hạ giải để trùng tu. Trước lúc trùng tu, đơn vị thi công là Công ty CP Tu bổ di tích Huế đã đánh dấu các cấu kiện gỗ Minh Khiêm Đường để so sánh. Việc trùng tu Minh Khiêm Đường ngoài hiện trạng công trình, đơn vị thi công cũng tham khảo các hình ảnh tư liệu.
Sau gần hai năm trùng tu, đơn vị thi công đã hồi sinh Minh Khiêm Đường theo dáng vẻ ban đầu. Song tranh cãi xảy ra khi đơn vị thi công bịt kín hai cánh cửa ở chái đông, khi cho rằng dưới thời vua Tự Đức, khu vực này không có hai cửa lớn. Tuy nhiên, việc bịt kín hai cánh cửa chái vấp phải sự phản bác của các nhà nghiên cứu văn hóa. Một số nhà nghiên cứu văn hóa cũng băn khoăn hệ thống hoa văn trên trần nhà Minh Khiêm Đường sau trùng tu chưa chuẩn xác.
Trong cuộc họp với đơn vị thi công cùng các nhà nghiên cứu văn hóa, ông Nguyễn Phước Hải Trung, Phó giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cho rằng, dưới thời vua Tự Đức hai cánh cửa ở phần chái đông của Minh Khiêm Đường là nơi các diễn viên ra vào trước và sau khi biểu diễn.
Ông Hoàng Việt Trung, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, đã yêu cầu Ban Quản lý dự án di tích Huế, Công ty Cổ phần Tu bổ di tích Huế điều chỉnh, lắp lại hai cánh cửa lớn ở chái đông Minh Khiêm đường như trước khi hạ giải. Ông Trung cũng yêu cầu điều chỉnh các chòm sao trang trí trên trần Minh Khiêm Đường, song đại diện Công ty CP Tu bổ di tích Huế, đơn vị thi công từ chối. Giám đốc công ty cho rằng khi hạ giải công trình, trên trần nhà hay ảnh tư liệu, đơn vị thi công không thấy những vì tinh tú làm bằng thủy tinh xung quanh bọc đồng nên rất khó để tu bổ, phục hồi.
Việc thiết kế, thi công những vì tinh tú trên trần nhà Minh Khiêm Đường được ông Trung giao lại cho Ban Quản lý dự án di tích Huế hoàn thiện.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiều 16/4, trong lúc thi công trụ đèn giao thông tại góc tây nam nút giao đường 22 với quốc lộ 25, khu vực Phú Hòa, đơn vị thi công đã khoan trúng đường ống chính của nhà máy nước Tuy Hòa, thuộc Công ty Cổ phần Cấp nước Phú Yên.
Ngay sau sự cố, công ty phải tạm ngưng cấp nước cho toàn bộ khách hàng tại các phường Tuy Hòa, Bình Kiến, Phú Yên, Đông Hòa, Hòa Hiệp và các xã Tuy An Nam, Ô Loan.
Ông Nguyễn Tấn Thuần, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Cấp nước Phú Yên, cho biết đơn vị đã huy động tối đa nhân lực và vật tư dự phòng để khắc phục. Đến tối cùng ngày, đoạn ống hư hỏng gần sửa xong, dự kiến khuya nay người dân sẽ có nước trở lại.
Theo ông Thuần, thời điểm nhà thầu thi công trụ đèn giao thông, công ty cấp nước không nhận được thông báo từ đơn vị này. Sau khi xử lý xong sự cố, doanh nghiệp sẽ báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xem xét, xử lý.
Tin Gốc: Vnexpress

