Mục Lục
ToggleTheo đặc phái viên TTXVN, trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152 (IPU-152) và tiến hành một số hoạt động song phương tại Thổ Nhĩ Kỳ, chiều 16-4 giờ địa phương, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã hội kiến Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cảm ơn sự đón tiếp trọng thị và chuyển lời thăm hỏi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Tổng thống và các nhà lãnh đạo cấp cao Thổ Nhĩ Kỳ.
Ông đánh giá cao vai trò và vị thế của Thổ Nhĩ Kỳ trên trường quốc tế, đặc biệt thông qua việc đăng cai tổ chức nhiều sự kiện quan trọng trong năm 2026, trong đó có IPU-152.
Bày tỏ vui mừng được đón tiếp Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, Tổng thống Recep Tayyip Erdogan trân trọng gửi lời chúc mừng và thăm hỏi đến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Ông khẳng định Thổ Nhĩ Kỳ coi trọng quan hệ với Việt Nam và mong muốn thúc đẩy, đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng sau gần 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ song phương đã phát triển ở tầm mức mới, chiến lược hơn, cần nâng tầm quan hệ tương xứng với tiềm năng, triển vọng của hai nước.
Hai bên nhất trí tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, sớm tổ chức họp Ủy ban hỗn hợp và tận dụng các điều kiện thuận lợi về đường bay thẳng, thị thực (visa) điện tử cho công dân hai nước, tạo điều kiện thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch và giao lưu nhân dân.
Khẳng định dư địa hợp tác giữa hai nước còn rất lớn, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh đưa kinh tế, thương mại và đầu tư là trụ cột hợp tác quan trọng, tạo các điều kiện thuận lợi để đạt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai nước lên 4 tỉ USD, tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư vào Việt Nam để góp phần phát triển kinh tế Việt Nam.
Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chuyển lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ sang thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất. Ông Recep Tayyip Erdogan đã vui vẻ nhận lời.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tờ The Wall Street Journal ngày 10.4 dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết cộng đồng tình báo đánh giá rằng Iran vẫn có thể triển khai sử dụng nhiều tên lửa đạn đạo sau 6 tuần chiến sự.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth tuần này nói rằng chương trình tên lửa của Iran đã "bị phá hủy về mặt chức năng", với số lượng bệ phóng và tên lửa "bị cạn kiệt, suy giảm nghiêm trọng và gần như hoàn toàn không hiệu quả".
Tuy nhiên, các báo cáo tình báo của Mỹ cho thấy Iran có thể khôi phục lại một phần lực lượng tên lửa. Mặc dù một nửa số bệ phóng tên lửa của Iran đã bị phá hủy, hư hại hoặc bị mắc kẹt dưới đống đổ nát, nhưng nhiều bệ phóng có thể được sửa chữa và đưa ra từ các địa điểm ngầm.
Các quan chức Mỹ và Israel cũng được trích dẫn nói rằng mặc dù hiện nay Iran chỉ còn một nửa số tên lửa so với trước xung đột, nhưng nước này vẫn còn hàng ngàn tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm ngắn có thể đưa ra khỏi nơi cất giấu hoặc đào lên từ trong lòng đất.
Các quan chức Israel cho biết khoảng 2/3 số bệ phóng tên lửa đạn đạo của Iran đã bị vô hiệu hóa trong chiến sự, song Iran có thể thu hồi nhiều bệ phóng bị mắc kẹt dưới lòng đất do các cuộc tấn công của Mỹ và Israel. Các quan chức Israel cũng cho biết Iran vẫn còn hơn 1.000 trong số khoảng 2.500 tên lửa tầm trung mà nước này sở hữu khi bắt đầu chiến sự. Số còn lại đã được sử dụng hoặc bị phá hủy.
Về số lượng máy bay không người lái (UAV), theo các quan chức Mỹ, Iran hiện chỉ còn chưa đến 50% UAV tấn công một chiều so với thời điểm bắt đầu chiến sự nhưng nước này có thể mua các hệ thống tương tự từ đồng minh để sử dụng chống lại các nước láng giềng.
Iran cũng vẫn còn một lượng nhỏ tên lửa hành trình, có thể được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các tàu chiến ở vịnh Ả Rập hoặc nhắm vào quân đội Mỹ, nếu Washington tấn công chiếm giữ một hòn đảo Iran trong trường hợp đàm phán đổ vỡ, các quan chức Mỹ cho biết.
Lầu Năm Góc và Nhà Trắng từ chối bình luận về thông tin của The Wall Street Journal, nhấn mạnh quân đội Mỹ đã đạt được mọi mục tiêu.
Đánh giá được tiết lộ giữa thời điểm Mỹ đang bước vào vòng đàm phán trực tiếp với Iran tại Pakistan nhằm đạt thỏa thuận chấm dứt chiến sự và mở lại eo biển Hormuz.
Báo cáo cũng cho rằng một số quan chức Mỹ lo ngại Iran sẽ lợi dụng thỏa thuận ngừng bắn hiện tại để xây dựng lại kho tên lửa của mình.

Giữa thập niên 1990, Chiến tranh Bosnia bước vào thời kỳ căng thẳng nhất. Đây là cuộc xung đột nổ ra sau khi Nam Tư tan rã, với sự đối đầu giữa các cộng đồng sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina, khiến đất nước này bị chia cắt và chìm trong bạo lực kéo dài. Phương Tây ban đầu can thiệp thông qua lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chiến sự sau đó leo thang, NATO bắt đầu áp đặt vùng cấm bay trên không phận Bosnia nhằm ngăn các bên sử dụng máy bay quân sự.
Tuy nhiên, vùng cấm bay không đồng nghĩa kiểm soát hoàn toàn bầu trời. Lực lượng Serb ở Bosnia vẫn duy trì hệ thống radar và tên lửa phòng không từ mặt đất, đủ khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay bay qua khu vực. Vì vậy, các chuyến tuần tra của NATO vẫn hoạt động trong môi trường rủi ro cao.
Ngày 2/6/1995, đại úy Scott O'Grady, phi công F-16 của Không quân Mỹ, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên không phận Bosnia thì tiêm kích trúng tên lửa đất đối không. Máy bay nhanh chóng bị phá hủy, buộc anh phải kích hoạt ghế phóng để thoát hiểm.
Anh bung dù và tiếp đất trong khu vực rừng núi do lực lượng Serb kiểm soát, nơi nguy cơ bị phát hiện và bắt giữ luôn thường trực.
6 ngày sinh tồn trong im lặng
Sau khi O'Grady chạm đất, những gì anh có là một bản đồ dành cho vùng tây bắc Bosnia có ảnh các loài thực vật ăn được, radio PRC-112 nặng gần 800 gr, bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế chiếc F-16, gồm túi sơ cứu, vài quả pháo sáng, một súng ngắn 9 mm, pin.
Trong suốt gần một tuần, O'Grady áp dụng kỹ năng sinh tồn được huấn luyện. Ban ngày, nam phi công nằm im trong bụi rậm hoặc dưới tán cây, tránh mọi chuyển động có thể bị phát hiện. Ban đêm, anh di chuyển thận trọng để tìm nơi trú ẩn mới.
O'Grady phải ăn côn trùng, cây dại và tận dụng khẩu phần khẩn cấp mang theo. Khi nước dự trữ cạn, anh hứng nước mưa từ lá cây để duy trì sự sống. Anh không sử dụng radio trong nhiều ngày vì lo ngại bị phát hiện.
"Sử dụng thiết bị liên lạc có thể đồng nghĩa với việc tự lộ vị trí", một quan chức quân sự Mỹ cho biết.
Trong thời gian đó, lực lượng Serb liên tục rà soát khu vực. Có thời điểm, trực thăng tìm kiếm bay rất thấp, đến mức O'Grady có thể nhìn thấy rõ phi hành đoàn. Đến ngày thứ 6, khi thể lực suy giảm và nguy cơ bị phát hiện gia tăng, O'Grady quyết định bật radio trong thời gian ngắn.
"Đây là Basher-52. Tôi còn sống và cần trợ giúp", anh nói qua radio 2h08 CET ngày 8/6/1995, sử dụng mật danh cá nhân.
Thông tin này được phi cơ tuần tra của NATO thu thập, lập tức kích hoạt một chuỗi quyết định khẩn cấp. Các chỉ huy nhận định rằng cơ hội cứu hộ có thể biến mất nhanh chóng nếu chậm trễ. O'Grady đang ở sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, và việc kéo dài thời gian chỉ làm tăng rủi ro.
Chiến dịch 5 giờ
7 phút sau khi thu được tín hiệu, chiến đấu cơ AC-130 mật danh Ghost 45 xác nhận người cầu cứu là O'Grady. Các sĩ quan trên một máy bay cảnh báo sớm (AWACS) báo tin về sở chỉ huy rằng O'Grady vẫn ổn, nhưng thêm rằng "cậu ấy thực sự cần được giải cứu trong đêm nay và tín hiệu radio ngày càng yếu".
Thông tin về O'Grady được chuyển tới Đô đốc Leighton Smith tại Anh, chỉ huy lực lượng NATO ở miền nam châu Âu.
"Basher-52 vừa liên lạc", một quan chức thuật lại nội dung tin nhắn. "Đô đốc Smith bật dậy, dồn toàn bộ tập trung vào tình huống". Các phương án hành động nhanh chóng được cân nhắc. Lệnh TRAP (triển khai chiến dịch thu hồi máy bay hoặc nhân sự) được ban hành.
Tại Washington lúc này là khoảng 21h30 ngày 7/6/1995. Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake báo tin cho tổng thống Bill Clinton.
Kế hoạch được xây dựng theo mô hình nhiều lớp. Trực thăng đưa lực lượng đổ bộ vào điểm tiếp cận. Tiêm kích và trực thăng tấn công yểm trợ trên không, sẵn sàng phản ứng nếu bị tấn công. Máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu radar nhằm giảm khả năng phát hiện.
Lực lượng đặc nhiệm được huy động từ tàu tấn công đổ bộ USS Kearsarge, đang hoạt động ngoài khơi biển Adriatic. Đây là căn cứ gần nhất có đủ trực thăng và lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ.
Khoảng 40 lính thủy đánh bộ trên tàu Kearsarge lập tức chuẩn bị cho đợt triển khai lúc rạng sáng vào khu vực sâu gần 100 km trong đất liền. Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng: tiếp cận nhanh, cứu phi công và rút lui trước khi đối phương kịp phản ứng mạnh.
Các lính thủy đánh bộ lên hai trực thăng CH-53E Super Stallion. Hộ tống các trực thăng Stallion là hai trực thăng tấn công AH-1W SuperCobra cùng cặp tiêm kích cất hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier. Đội bay này còn được yểm trợ bởi các biên đội trực thăng và tiêm kích dự bị cùng loại. Toàn bộ "hạm đội trên không" gồm khoảng 40 phi cơ, được điều phối từ một máy bay AWACS.
"Chúng tôi đã huy động toàn bộ hỏa lực cần thiết", ông Smith nói.
6h07 ngày 8/6/1995, các máy bay gây nhiễu EA-6B và EF-111 được thiết kế cho tác chiến điện tử bắt đầu chế áp mạnh hệ thống radar và liên lạc trong khu vực, nhằm làm tê liệt khả năng theo dõi của lực lượng Serb. 6 phút sau, một máy bay báo đã bắt được liên lạc với O'Grady.
Ở bên kia biên giới, trong khu vực Croatia do người Serb kiểm soát, một hệ thống radar bắt đầu theo dõi hoạt động trên không phận Bosnia. Trạm radar tại Knin, mật danh Giraffe, được kích hoạt lúc 6h21, cho thấy nếu ban đầu lực lượng Serb còn bất ngờ, thì lúc này họ không còn "mù thông tin" nữa.
Khoảng 6h35, lực lượng Mỹ tiếp cận khu vực thu được tín hiệu từ O'Grady. Các phi công phát hiện một vệt khói màu vàng bốc lên từ tán cây gần một bãi đất đá. O'Grady đã bắn pháo hiệu.
Chiếc CH-53E đầu tiên, do thiếu tá William Tarbutton điều khiển, tránh những cọc hàng rào gỗ có dây thép gai và hạ cánh. Khoảng 20 lính thủy đánh bộ nhanh chóng lao ra, thiết lập vành đai an ninh.
Chiếc CH-53E thứ hai, do đại tá Martin Berndt chỉ huy, vô tình đáp xuống một đoạn hàng rào, buộc phi công phải đưa máy bay lên rồi hạ xuống lại. Phía trên, hai trực thăng tấn công AH-1W lơ lửng yểm trợ, sẵn sàng khai hỏa. Cao hơn nữa, hai tiêm kích AV-8B sẵn sàng cung cấp hỏa lực mạnh hơn nếu cần.
Berndt nhìn qua buồng lái và bất ngờ thấy một người chạy về phía trực thăng, tay cầm súng ngắn vào lúc 6h44. Sương mù khá dày, nên ban đầu Berndt chưa thể biết đó là ai.
"Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chỉ có thể là anh ấy", Berndt nhớ lại.
Cửa bên của trực thăng vừa mở được khoảng ba giây thì O'Grady lao thẳng vào khoang. Anh trao khẩu súng cho phi hành đoàn, nhanh chóng khoác áo và đội mũ bảo hiểm bay.
"Thậm chí không ai trong chúng tôi phải rời khỏi trực thăng", Berndt nói thêm.
Ngay sau đó, trực thăng cất cánh. O'Grady được phủ chăn, nhanh chóng ăn khẩu phần khẩn cấp. 0h49 ngày 8/6/1995 tại Washington (6h49 CET), ngay khi trực thăng CH-35E cất cánh, tổng thống Clinton nhận cuộc gọi báo tin từ cố vấn an ninh quốc gia Lake.
"Đã cứu được cậu ấy", Lake nói.
"Tuyệt vời! Đây là một chàng trai phi thường", ông Clinton đáp lại.
Chiến dịch thu hồi, xét về mặt kỹ thuật, diễn ra gần như hoàn hảo trong giai đoạn tiếp cận. Thách thức lớn nhất đến trong giai đoạn rút lui.
Khi đội hình trực thăng rời khỏi khu vực, họ đối mặt với hỏa lực từ mặt đất, bao gồm súng máy và tên lửa vác vai. Một số viên đạn trúng vào thân và cánh quạt trực thăng, nhưng không gây thiệt hại nghiêm trọng.
Lúc 6h58, một sĩ quan trên máy bay gây nhiễu EA-6B đã đề xuất phá hủy trạm radar tại Knin. Tuy nhiên, đề xuất bị bác bỏ do lo ngại leo thang xung đột, bởi khi đó lực lượng Serb đang giữ một số binh sĩ Liên Hợp Quốc làm con tin.
7h07, một trong hai trực thăng cho biết họ bị nhắm bắn bằng tên lửa vác vai nhưng không trúng. Đội hình rút lui an toàn và đưa O'Grady trở lại tàu Kearsarge ngoài khơi.
O'Grady được mọi người chào đón khi trở về Mỹ. Phi công này còn đến thăm Nhà Trắng, được tổng thống Clinton gọi là "một anh hùng nước Mỹ".
Tin Gốc: Vnexpress

"Để tuân thủ nguyên tắc an toàn hàng hải và tránh nguy cơ va phải thủy lôi, tất cả tàu thuyền dự định đi qua eo biển Hormuz cần sử dụng lộ trình thay thế khi lưu thông", Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) hôm nay ra thông báo.
IRGC cũng công bố các hướng dẫn về lộ trình ra vào eo biển, thay thế luồng chính qua tuyến hàng hải huyết mạch này.
Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải chiến lược hẹp, có nơi chỉ rộng khoảng 33-38 km. Trước đây, luồng chính cho tàu chở dầu đi lại chỉ rộng khoảng 3 km, nằm giữa vịnh Ba Tư và vịnh Oman.
Hồi cuối tháng 3, IRGC đã cho phép một số tàu hàng, tàu dầu đi qua Hormuz dưới sự hướng dẫn, hộ tống của họ theo lộ trình đi qua lãnh hải Iran quanh đảo Larak, thay vì theo luồng chính của eo biển.
Việc Iran mở lại eo biển Hormuz được tiến hành sau thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần đạt được với Mỹ vào đêm 7/4, rạng sáng 8/4, chỉ vài giờ trước khi tối hậu thư mà Tổng thống Donald Trump đưa ra cho Tehran hết hạn. Theo thỏa thuận, Iran đồng ý mở lại eo biển Hormuz trong thời gian ngừng bắn, nhưng tàu thuyền đi qua sẽ chịu sự giám sát của lực lượng vũ trang Iran và phải tuân thủ một số "biện pháp kỹ thuật".
Iran nói với các bên trung gian đàm phán rằng họ sẽ hạn chế số lượng tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz xuống khoảng chục chiếc mỗi ngày. Theo công ty cung cấp và phân tích dữ liệu S&P Global Market Intelligence, chỉ 4 tàu được phép đi qua eo biển Hormuz hôm 8/4 sau khi thỏa thuận ngừng bắn được công bố, con số thấp nhất từ đầu tháng và giảm mạnh so với hơn 100 tàu mỗi ngày trước khi chiến sự nổ ra.
Các bên trung gian và môi giới hàng hải cũng cho biết Iran yêu cầu các tàu phải thỏa thuận trước về phí quá cảnh, sau đó thanh toán bằng tiền điện tử hoặc đồng nhân dân tệ. Mức phí phụ thuộc vào kích thước của tàu và bao gồm phí quá cảnh cơ bản, phí hộ tống an ninh và phí xử lý hành chính.
Các nhà khai thác vận tải biển cho biết mức phí thường được ấn định trước khoảng một tuần. Theo các bên môi giới và chủ tàu, khoản thanh toán có thể lên tới 2 triệu USD đối với một siêu tàu chở dầu có sức chứa khoảng hai triệu thùng.
Quan chức từ các nước Arab vùng Vịnh phản đối việc thu phí, cho rằng đề xuất của Iran vi phạm các hiệp ước quốc tế, như Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển, vốn đảm bảo quyền tự do hàng hải qua các khu vực như eo biển Hormuz.
Luật hàng hải quốc tế không cho phép chính phủ các nước thu phí đối với việc đi lại qua các tuyến đường biển tự nhiên như eo biển Hormuz, eo biển Manche, Gibraltar và Malacca.
Các nhà sản xuất năng lượng vùng Vịnh kiên quyết phản đối bất kỳ thỏa thuận nào yêu cầu phải trả tiền cho Iran. Những bên trung gian hòa giải dự đoán yêu cầu của Iran sẽ làm phức tạp thêm các cuộc đàm phán trong những tuần tới nhằm hướng tới lệnh ngừng bắn lâu dài.
Truyền thông Iran hôm 8/4 đưa tin nước này đã tạm đóng trở lại eo biển Hormuz để phản ứng với việc Israel tiếp tục tấn công vào Lebanon, bất chấp thỏa thuận ngừng bắn.
Trong khi đó, Phó tổng thống Mỹ JD Vance cho rằng thỏa thuận ngừng bắn với Iran không bao gồm vấn đề Lebanon. Ông cảnh báo Tehran nên giữ lời hứa mở cửa eo biển Hormuz cho các tàu dầu lưu thông. "Thẳng thắn mà nói, nếu phá vỡ thỏa thuận, họ sẽ phải gánh những hậu quả nghiêm trọng", ông nói.
Huyền Lê (Theo AFP, Wall Street Journal, NY Times)
Tin Gốc: https://vnexpress.net/iran-cong-bo-lo-trinh-tranh-thuy-loi-o-eo-bien-hormuz-5060240.html

