Khi các bên trung gian đang nỗ lực thúc đẩy vòng đàm phán thứ hai giữa Mỹ và Iran để chấm dứt xung đột, một vấn đề trọng tâm đang nổi lên như điểm mấu chốt gây tranh cãi là khối tài sản của Tehran bị đóng băng ở nước ngoài.
Hôm 10/4, trước khi vòng đàm phán ngừng bắn đầu tiên diễn ra tại Pakistan, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf đã viết trên X rằng những tài sản bị phong tỏa của nước này phải được giải phóng trước khi bất kỳ cuộc thương lượng nào diễn ra.
Đến ngày 11/4, tại cuộc đàm phán ngừng bắn ở thủ đô Islamabad, Pakistan, một số thông tin xuất hiện cho rằng Mỹ đã đồng ý giải tỏa ít nhất một phần tài sản của Iran ở nước ngoài. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ đã nhanh chóng bác bỏ khẳng định những tài sản đó vẫn bị phong tỏa.
Khối tài sản 100 tỷ USD
Nền kinh tế Iran đã suy yếu nhiều năm qua do loạt lệnh trừng phạt từ Mỹ và các quốc gia khác. Những lệnh trừng phạt này bắt đầu từ năm 1979, đầu tiên là do vụ bắt con tin tại đại sứ quán Mỹ ở Tehran sau cuộc cách mạng Hồi giáo, sau đó gia tăng vì chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo Iran.
Các lệnh trừng phạt này khiến Iran không thể tiếp cận nhiều tài sản của chính mình, như doanh thu bán dầu đang bị đóng băng tại các ngân hàng nước ngoài. Theo thông tin tổng hợp từ phía Iran và giới chuyên gia, ước tính tổng tài sản của nước này đang bị kẹt ở nước ngoài là hơn 100 tỷ USD.
Frederic Schneider, chuyên gia tại Hội đồng các Vấn đề Toàn cầu Trung Đông, cho hay khối tài sản này gấp khoảng 4 lần doanh thu từ dầu khí hàng năm của Iran.
“Đó là khoản tiền rất lớn, đặc biệt đối với một đất nước đã phải chịu các lệnh trừng phạt do Mỹ áp đặt trong nhiều thập kỷ”, ông nói.
Tuy nhiên, Schneider lưu ý thêm rằng ngay cả khi đồng ý giải phóng những tài sản này, vẫn chưa rõ liệu Mỹ có đặt ra điều kiện về cách Iran sử dụng chúng hay không.
Jacob Lew, bộ trưởng tài chính dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama, từng phát biểu vào năm 2016 rằng Iran sẽ không thể tiếp cận toàn bộ tài sản bị phong tỏa ở nước ngoài ngay cả khi mọi lệnh trừng phạt được dỡ bỏ. Tại thời điểm đó, Iran vừa đạt được thỏa thuận lịch sử với Mỹ và các cường quốc khác, chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân của mình để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt.
Lew đã phát biểu trước quốc hội Mỹ rằng trên thực tế, Iran cùng lắm cũng chỉ có thể tiếp cận khoảng một nửa số tài sản bị phong tỏa, bởi phần còn lại đã bị ràng buộc vào các cam kết đầu tư từ trước hoặc để thanh toán các khoản vay.
Hiện tại, yêu cầu then chốt của Tehran trong các cuộc đàm phán ngừng bắn là Mỹ phải giải phóng ít nhất 6 tỷ USD tài sản bị phong tỏa, coi đây như một cách xây dựng lòng tin.
Tài sản bị đóng băng là gì?
Khi tiền bạc, của cải hoặc số dư chứng khoán của các cá nhân, doanh nghiệp hoặc ngân hàng trung ương một quốc gia bị nhà chức trách nước khác hoặc tổ chức quốc tế tạm giữ, đó chính là phong tỏa tài sản.
Khả năng bán tài sản của chủ sở hữu sẽ bị hạn chế do các lệnh trừng phạt, phán quyết từ tòa án hoặc những lý do pháp lý khác.
Tài sản có thể bị đóng băng bởi tòa án, một quốc gia khác, tổ chức quốc tế hoặc một định chế ngân hàng. Các quốc gia thường tuyên bố phong tỏa tài sản của quốc gia hay công ty khác dựa trên những cáo buộc về hoạt động tội phạm, rửa tiền hoặc vi phạm luật pháp quốc tế.
Nhưng những người chỉ trích biện pháp phong tỏa tài sản cho rằng cách làm này đang được sử dụng để nhắm vào những đối thủ của phương Tây thay vì với mục đích răn đe. Phần lớn các nước đang chịu lệnh trừng phạt và bị phong tỏa tài sản là các quốc gia bị phương Tây coi là “không thân thiện”, như Iran, Nga, Triều Tiên, Libya hay Venezuela.
Vì sao Iran bị đóng băng tài sản?
Theo hồ sơ lưu trữ của chính phủ Mỹ, đợt phong tỏa tài sản đầu tiên diễn ra vào tháng 11/1979, khi tổng thống Jimmy Carter lúc bấy giờ tuyên bố Iran “đã tạo ra mối đe dọa bất thường và đặc biệt đối với an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại cũng như nền kinh tế Mỹ”.
Vào thời điểm đó, các sinh viên Iran đang bắt 66 công dân Mỹ làm con tin tại đại sứ quán Mỹ ở Tehran.
Ông William Miller, bộ trưởng tài chính Mỹ khi ấy, cho biết tài sản dễ thanh khoản của Iran có giá trị chưa tới 6 tỷ USD, trong đó khoản lớn nhất là 1,3 tỷ USD trái phiếu kho bạc do Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York nắm giữ. Năm 1981, Hiệp định Algiers do Algeria làm trung gian giữa Mỹ và Iran đã dẫn đến việc Mỹ giải tỏa một phần đáng kể các tài sản này để đổi lấy việc Iran trả tự do cho 52 con tin Mỹ vẫn bị giam tại Tehran.
Tuy nhiên, trong những năm sau đó, quan hệ giữa Mỹ và Iran tiếp tục xấu đi do Washington lo ngại về chương trình hạt nhân của Tehran.
Iran luôn khẳng định chương trình làm giàu uranium của mình chỉ phục vụ mục đích năng lượng dân sự, mặc dù họ đã làm giàu uranium vượt xa ngưỡng cần thiết cho mục tiêu đó.
Israel và Mỹ đã liên tục cáo buộc Iran làm giàu uranium để phát triển vũ khí hạt nhân. Mỹ cùng các đồng minh, đặc biệt là châu Âu, đã áp đặt nhiều đợt trừng phạt lên quốc gia này.
Năm 2015, dưới thời tổng thống Obama, Mỹ đã dẫn dắt các cuộc đàm phán để Iran đạt được thỏa thuận với các cường quốc thế giới mang tên Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA). Theo thỏa thuận, Tehran đồng ý thu hẹp chương trình hạt nhân và nhờ đó được tiếp cận lại phần lớn tài sản ở nước ngoài của mình.
Tuy nhiên, vào năm 2018, trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Donald Trump đã đơn phương rút Mỹ khỏi JCPOA, gọi đây là một thỏa thuận “phiến diện” và tái áp đặt các lệnh trừng phạt lên Iran, một lần nữa phong tỏa số tài sản ở nước ngoài của Tehran.
Năm 2023, Mỹ và Iran thống nhất một thỏa thuận trao đổi tù nhân, theo đó Iran trả tự do cho 5 công dân Mỹ gốc Iran để đổi lấy việc Mỹ thả một số người Iran, đồng thời cho phép Tehran tiếp cận hàng tỷ USD tiền bị phong tỏa. Khoản tiền này là 6 tỷ USD doanh thu từ dầu mỏ bị phong tỏa tại Hàn Quốc.
Theo kế hoạch trên, số tiền được chuyển đến Qatar để giám sát. Tuy nhiên, một năm sau, tổng thống Mỹ Joe Biden đã áp đặt các lệnh trừng phạt mới nhằm đáp trả cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) của Iran vào Israel, khiến họ một lần nữa mất quyền tiếp cận số tiền đang được đóng băng tại Doha.
Ngoài Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) cũng phong tỏa một phần tài sản của ngân hàng trung ương Iran với lý do nước này bị cáo buộc vi phạm nhân quyền, không tuân thủ các quy định về hạt nhân…
Tài sản bị đóng băng của Iran hiện do nhiều quốc gia nắm giữ. Số tiền chính xác tại mỗi quốc gia chưa rõ ràng, nhưng truyền thông Iran trước đây đưa tin Nhật Bản, một khách hàng dầu mỏ quan trọng, đang nắm giữ khoảng 1,5 tỷ USD, Iraq giữ khoảng 6 tỷ USD, Ấn Độ giữ 7 tỷ USD.
Mỹ cũng nắm giữ khoảng 2 tỷ USD tài sản bị phong tỏa của Iran, trong khi các quốc gia EU như Luxembourg giữ khoảng 1,6 tỷ USD. Qatar hiện giữ khoảng 6 tỷ USD, số tiền đã được chuyển từ Hàn Quốc để thanh toán cho Iran, nhưng sau đó bị Mỹ chặn lại.
Hy vọng cho nền kinh tế Iran
Nền kinh tế Iran đang lâm vào khủng hoảng khi các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều thập kỷ đã hạn chế xuất khẩu dầu mỏ, đồng thời làm tê liệt khả năng thu hút đầu tư và hiện đại hóa công nghiệp cũng như công nghệ của nước này.
Lạm phát tăng cao và đồng nội tệ mất giá đã dẫn đến các cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu năm nay. Cuộc xung đột với Mỹ – Israel bùng phát từ ngày 28/2 đã khiến cơ sở hạ tầng của Iran bị tàn phá nặng nề.
Fatemeh Mohajerani, người phát ngôn chính phủ Iran, ngày 14/4 cho biết thiệt hại mà nước này hứng chịu trong 6 tuần chiến sự là khoảng 270 tỷ USD, yêu cầu Mỹ, Israel và các nước vùng Vịnh bồi thường.
Trong bối cảnh này, tài sản bị đóng băng nếu được giải phóng sẽ là nguồn tiền mà Iran có thể sử dụng ngay lập tức. 100 tỷ USD tương đương gần 1/4 GDP của Iran.
Roxane Farmanfarmaian, giảng viên chính trị quốc tế chuyên về Iran tại Đại học Cambridge, Anh, cho rằng việc tài sản được phá băng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Iran.
“Điều này đồng nghĩa với việc Iran có thể đưa các khoản tiền thu được bằng ngoại tệ mạnh từ việc bán dầu mỏ trở lại nền kinh tế trong nước. Nó cũng giúp họ kiểm soát biến động tỷ giá, từ đó hạn chế những tổn thương trước tình trạng trồi sụt của đồng nội tệ”, Farmanfarmaian giải thích.
Bà lưu ý rằng những cơ sở công nghiệp chủ chốt, trong đó có các mỏ dầu, hay hệ thống nước, mạng lưới điện đang xuống cấp của Iran sẽ được nâng cấp nếu họ có quyền tiếp cận với tài sản bị đóng băng của mình. Với nguồn tiền đó, Iran có thể chi trả cho các công ty nước ngoài và cấp vốn cho những ngành công nghiệp trong nước để bắt đầu cải thiện tình hình kinh tế.
“Rõ ràng, Iran cũng sẽ phải tái thiết sau xung đột và các tài sản được giải phóng sẽ ngay lập tức giúp quá trình đó diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn”, Farmanfarmaian nói thêm. “Ngoài ra, việc tiếp cận các khoản tiền bị phong tỏa còn tạo đà tăng trưởng kinh tế, cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ với người dân”.
Quyết định của Mỹ về việc có giải tỏa tài sản của Iran hay không cũng sẽ là một thông điệp ngoại giao quan trọng, Chris Featherstone, chuyên gia chính trị tại Đại học York, bình luận.
“Về mặt quốc tế, việc giải tỏa các tài sản có thể là tín hiệu cho thấy Mỹ đang giảm bớt áp lực lên nền kinh tế Iran”, Featherstone cho biết, song lưu ý rằng với cách tiếp cận khó đoán của chính quyền Trump, ít ai có thể dự đoán được ông sẽ làm gì sau đó.
Để xuất khẩu bưởi Việt Nam sang Úc, cơ quan chức năng và doanh nghiệp hai nước phải phối hợp làm việc suốt 2 năm để xúc tiến quá trình trao đổi kỹ thuật, hoàn thiện báo cáo phân tích nguy cơ dịch hại và đạt được thỏa thuận cho trái bưởi tươi của Việt Nam được phép nhập khẩu vào Úc.
Từ giữa năm 2023, Cục TTBVTV (trước đây là Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ NN-PTNT) đã nhận được thông báo từ Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Úc (DAFF) về việc bắt đầu phân tích nguy cơ dịch hại cho trái bưởi của Việt Nam. Cuối năm 2025, Cục TTBVTV phối hợp với Đại sứ quán Úc tại Việt Nam tổ chức lễ công bố xuất khẩu trái bưởi của Việt Nam sang Úc và trái việt quất của Úc sang Việt Nam. Tuy nhiên, từ đó đến nay phải tiếp tục hoàn thành thêm một số thủ tục. Đến ngày 10.4 vừa qua, bước thủ tục cuối cùng được hoàn thiện khi hệ thống BICON của Úc chính thức ban hành tiêu chuẩn nhập khẩu bưởi của Việt Nam. Như vậy, sau trái thanh long, vải, nhãn, chanh leo..., bưởi sẽ là loại trái cây tiếp theo của Việt Nam mở cửa thành công sang thị trường Úc.
Chỉ 3 ngày sau, tức 13.4, lô bưởi đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu sang Úc đã được Công ty Blue Ocean chính thức chuyển sang Úc. Công ty 4Way, chuyên nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam sang Úc, sẽ phân phối loại trái cây này tại Úc.
Phát biểu tại sự kiện trên, bà Phạm Thị Ngọc Thạch, Giám đốc Công ty Blue Ocean, chia sẻ: "Việc xuất khẩu bưởi lần này tiếp tục khẳng định chất lượng và uy tín của nông sản Việt Nam. Qua đó, chúng ta hôm nay có thể tự tin rằng: bưởi Việt Nam đã sẵn sàng chinh phục những thị trường khó tính nhất". Cuối năm 2024, Blue Ocean là đơn vị xuất khẩu chính thức lô hàng chanh dây đầu tiên của Việt Nam sang Úc, giúp cho món trái cây trị giá ngàn tỉ này vươn mình. Không chỉ dừng ở hoạt động xuất khẩu, Blue Ocean mong muốn hợp tác sâu rộng hơn với các đối tác nhập khẩu, phân phối và bán lẻ tại Úc để xây dựng một chuỗi cung ứng ổn định, minh bạch và bền vững lâu dài.
Chia sẻ trực tuyến tại sự kiện, ông Lý Hoàng Duy, Việt kiều Úc và là nhà sáng lập Công ty 4Way, cho biết: "Tôi đã trông chờ sự kiện này khá lâu để phân phối bưởi của Việt Nam vào thị trường Úc. Khoảng 10 năm qua, chúng tôi đã nhập khẩu nhiều loại trái cây của Việt Nam để phân phối tại thị Úc như: vải, nhãn, thanh long, xoài, dừa, chanh dây. Giờ đây có thêm bưởi là loại trái cây khá đặc biệt khi có thể thu hoạch quanh năm, dễ vận chuyển". Lô hàng đầu tiên được vận chuyển bằng đường hàng không, nên ông Duy cho biết dự kiến ngày 15 hoặc 16.4, bưởi Việt Nam sẽ chính thức "lên kệ" để sớm đến tay khách hàng tại Úc.
Những năm gần đây, diện tích trồng bưởi ở nước ta ngày càng được mở rộng, từ 50.000 ha năm 2015 tăng lên hơn 100.000 ha vào năm 2025 với sản lượng đạt gần 1 triệu tấn mỗi năm. Ước tính, kim ngạch xuất khẩu quả bưởi tươi đạt hơn 70 triệu USD vào năm 2025.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 4/4 nhắc lại tối hậu thư mà ông đưa ra hơn một tuần trước, yêu cầu Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn hoặc mở cửa eo biển Hormuz vào ngày 6/4. "Thời gian đang cạn dần, chỉ còn 48 giờ nữa trước khi địa ngục trút xuống đầu họ", Tổng thống Mỹ viết.
Tối hậu thư này lập tức bị Iran bác bỏ. Thiếu tướng Ali Abdollahi Aliabadi, chỉ huy Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya phụ trách hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang Iran, gọi lời đe dọa của Tổng thống Mỹ cho thấy sự "vô vọng, bất an, mất cân bằng và ngớ ngẩn".
"Đừng quên rằng nếu xung đột leo thang, toàn bộ khu vực sẽ trở thành địa ngục đối với các người. Ảo tưởng đánh bại Iran đã biến thành một đầm lầy và nó sẽ nhấn chìm các người", phát ngôn viên Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya Ebrahim Zolfaghari sau đó ra tuyên bố.
Theo giới quan sát, chính quyền Tổng thống Trump bắt đầu cảm nhận những hệ lụy tiêu cực khi chiến sự với Iran bước sang tuần thứ sáu, đặc biệt là sau khi Iran bắn hạ tiêm kích F-15E, buộc Mỹ phải tiến hành chiến dịch quy mô lớn với mức độ rủi ro cao để giải cứu một phi công trong lãnh thổ nước này.
Ông Trump cho rằng việc quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch giải cứu phi công thành công mà không có người nào thiệt mạng hay bị thương "một lần nữa chứng minh chúng ta đã đạt được thế kiểm soát tuyệt đối trên không phận Iran". Tuy nhiên, Mỹ đã phải bỏ lại và phá hủy hai vận tải cơ trong chiến dịch giải cứu, cho thấy tổn thất vật chất lớn của hoạt động này.
Kết quả các khảo sát cho thấy người dân Mỹ ngày càng phản đối cuộc chiến mà Tổng thống phát động. Tình hình tệ đến mức một số người ủng hộ trung thành của Tổng thống Trump cũng bắt đầu chỉ trích cuộc xung đột chưa thấy ngày kết thúc.
Trong khi đó, một quan chức cấp cao cho biết Tổng thống Trump thường bắt đầu ngày mới bằng việc xem video do quân đội Mỹ tổng hợp những thành công trên chiến trường. Ông tin rằng trên cương vị Tổng tư lệnh, loại bỏ mối đe dọa hạt nhân từ Iran có thể là một trong những thành tựu lớn nhất nhiệm kỳ hai.
Chánh văn phòng Nhà Trắng Susie Wiles lo ngại các trợ lý đang vẽ ra viễn cảnh màu hồng, chỉ nói điều ông Trump muốn nghe thay vì những gì cần nghe. Bà thúc giục các đồng nghiệp phải "thẳng thắn hơn với sếp" về những rủi ro chính trị và kinh tế. Chánh văn phòng đã cùng các cố vấn thân tín đến Phòng Bầu dục gặp Tổng thống, cảnh báo ông rằng chiến sự càng kéo dài, sự ủng hộ từ cử tri và triển vọng của đảng Cộng hòa trong bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 càng u ám.
Cuộc gặp tại Phòng Bầu dục phản ánh một thực tế mà Nhà Trắng không còn có thể phớt lờ. Thời gian đang cạn dần trước khi Tổng thống Trump, đảng Cộng hòa và người dân Mỹ phải trả cái giá đắt hơn nữa.
Phản ứng vượt dự tính từ Iran
Ông Trump tỏ ra tự tin với những kết quả ban đầu của chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng, khi đòn tấn công đầu tiên đã khiến Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei cùng loạt quan chức cấp cao Iran thiệt mạng hôm 28/2. Tuy nhiên, Iran sau đó đã phản ứng đáp trả rất dữ dội, phóng tên lửa, UAV tấn công Israel, nhắm mục tiêu các căn cứ Mỹ ở vùng Vịnh, từ Kuwait, Bahrain đến Arab Saudi, UAE và Qatar.
Phản ứng này khiến các quan chức Mỹ bất ngờ, ông Trump cũng thừa nhận điều này khi trả lời phỏng vấn CNN. Dựa trên tiền lệ trong quá khứ, họ vốn tin rằng Mỹ có công thức chiến thắng là giáng một đòn phủ đầu áp đảo, và phản ứng từ Iran sẽ chỉ là trả đũa hạn chế để xoa dịu dư luận trong nước.
Iran tiếp tục gây sức ép khi phong tỏa gần như hoàn toàn eo biển Hormuz, tuyến đường vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu từ vùng Vịnh, đẩy giá nhiên liệu tăng vọt.
Tổng thống Trump biện minh đây là "cái giá ngắn hạn" cần thiết để loại bỏ nguy cơ Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Đồng thời, ông cho rằng phản ứng của Iran càng chứng minh họ là mối đe dọa.
Nhưng khi chiến sự kéo dài mà không có lối thoát rõ ràng, cái giá Mỹ phải trả dần trở nên "dài hạn". Tổng thống Trump từng cam kết sẽ vực dậy nền kinh tế và giữ Mỹ đứng ngoài các cuộc xung đột khi tranh cử nhiệm kỳ hai. Giờ đây, ông lại khơi mào một cuộc chiến mà chưa nhận được sự ủy nhiệm từ quốc hội và hệ lụy kinh tế mới chỉ dần bộc lộ.
Xung đột làm chao đảo thị trường năng lượng và tài chính toàn cầu. Mỹ cũng không phải ngoại lệ, khi giá xăng vượt 4 USD một gallon (khoảng 3,78 lít), các chỉ số chứng khoán xuống thấp nhất trong nhiều năm. Mỹ ghi nhận 13 binh sĩ thiệt mạng, hàng trăm quân nhân bị thương khi Iran tấn công đáp trả vào các căn cứ của Washington ở vùng Vịnh.
Một tháng sau chiến sự, dự báo tăng trưởng toàn cầu bị điều chỉnh giảm, tình trạng khan hiếm nhiên liệu xuất hiện ở châu Âu và châu Á, trong khi giới chuyên gia cảnh báo thế giới vẫn chưa cảm nhận hết mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Eo biển Hormuz nếu bị phong tỏa kéo dài có thể đẩy kinh tế toàn cầu suy thoái.
Theo hai cố vấn và hai nghị sĩ đã trao đổi với ông Trump, những tổn thất về chính trị và kinh tế ngày càng tăng khiến Tổng thống phải tìm kiếm "lối thoát danh dự". Tổng thống Trump nói với họ rằng ông muốn kết thúc chiến dịch, lo ngại xung đột kéo dài sẽ ảnh hưởng đảng Cộng hòa trước thềm bầu cử giữa kỳ. Nhưng ông cũng muốn chiến dịch này phải là một thắng lợi mang tính quyết định.
Trong bài phát biểu trước toàn quốc tối 1/4, ông Trump đã cố "đi dây" khi cập nhật tình hình chiến sự. Ông ca ngợi các chiến thắng và tuyên bố chiến dịch "đang gần hoàn tất", nhưng đồng thời đe dọa sẽ giáng đòn "cực mạnh" vào Iran trong 2-3 tuần tới, hủy diệt cơ sở hạ tầng năng lượng của quốc gia này.
"Chúng ta sẽ đưa họ trở lại thời kỳ đồ đá, nơi họ thuộc về", Tổng thống tuyên bố.
Theo số liệu của Lầu Năm Góc, chiến dịch là "thành công không thể chối cãi", khi đã phá hủy 90% năng lực tên lửa của Iran, vô hiệu hóa 70% bệ phóng, 150 tàu hải quân, hạ ông Khamenei cùng nhiều quan chức cấp cao.
"Chúng ta nắm toàn bộ lợi thế. Họ không có gì", ông Trump nói. "Chúng ta đang đi đúng hướng để sớm hoàn thành mọi mục tiêu quân sự của Mỹ".
Vài ngày sau, Iran "dội gáo nước lạnh" vào tuyên bố chiến thắng này của ông Trump. Việc họ bắn rơi một tiêm kích F-15E, một cường kích A-10 và gây hư hại một số trực thăng khiến đánh giá năng lực quân sự Iran "không có gì" của ông Trump trở nên kém tin cậy.
Việc Mỹ giải cứu thành công phi công thứ hai trên chiếc F-15E đã giúp ông Trump thoát khỏi một kịch bản thảm họa, tránh để Iran biến phi công bị bắt sống thành lá bài mặc cả.
Tuy nhiên, đích đến cuối cùng của chiến dịch vẫn còn mơ hồ, khi ông Trump vừa tuyên bố tăng cường chiến đấu, vừa hứa sớm kết thúc. Đặc phái viên về Trung Đông Steve Witkoff, người bạn lâu năm của Tổng thống, giải thích cách tiếp cận này phản ánh tư duy hình thành từ sự nghiệp kinh doanh của ông Trump, lĩnh vực mà việc luôn giữ nhiều phương án lựa chọn có vai trò then chốt.
"Tổng thống luôn có nhiều kịch bản", ông Witkoff nói. "Ông ấy giữ rất nhiều lựa chọn, nhiều 'lối thoát', rồi từng bước dò đường trong quá trình triển khai".
Lối thoát hẹp dần
Chiến tranh thường diễn biến vượt tính tính toán của một Tổng thống. Iran cho thấy họ quyết chiến tới cùng, đồng nghĩa ông Trump đối mặt nguy cơ sa lầy hơn nếu leo thang hơn nữa trong những tuần tới, khiến các lối thoát bị thu hẹp hơn là mở ra.
Một trở ngại tiềm tàng nữa là từ đồng minh Israel. Tổng thống Trump từ lâu đã ưa thích những chiến dịch mà các trợ lý gọi là "đánh một lần rồi thôi", như đã áp dụng tại Yemen, Syria, Somalia hay Venezuela. Nhưng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu có cách tiếp cận khác.
Trong 6 tháng qua, ông Netanyahu liên tục nói với ông Trump rằng những thành công trước đây chỉ là bước đệm cho một chiến dịch quyết định và kéo dài hơn, theo một quan chức Israel. Ngoài ra, Arab Saudi cũng có xu hướng muốn kéo dài cuộc chiến, coi đây là cơ hội hiếm có để làm suy yếu một đối thủ chung.
Tình thế này khiến Tổng thống Trump đối mặt với thế lưỡng nan. Ông muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng không thể ra về tay không nếu chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iran. Trong khi đó, việc thiết lập một chính quyền thân phương Tây ở Iran không đơn giản, còn mở lại eo biển Hormuz đòi hỏi chiếm đóng quân sự kéo dài hoặc một thỏa thuận chấm dứt chiến sự.
Một số cố vấn nhận thấy trong suy nghĩ của Tổng thống Trump đã xuất hiện phần nào tâm lý chấp nhận thực tế. Trong các cuộc trao đổi riêng, ông thường nhắc lại rằng đảng cầm quyền thường mất ghế trong các kỳ bầu cử giữa kỳ.
"Ông ấy đang khó vượt qua tiền lệ này", một trợ lý nhận xét.
Randy Shilling, 58 tuổi, từng tốt nghiệp Đại học Texas A&M ở bang Texas với tấm bằng kỹ sư dầu khí. Trong 10 năm đầu sự nghiệp, ông sống trong căn hộ đi thuê và thường phải cân nhắc chi tiêu cho các kỳ nghỉ.
Bước ngoặt đến khi ngoài 30 tuổi, ông nhận việc tại một nhà máy hóa chất với mức lương cao hơn khoảng 15%, kèm tiền thưởng, giúp cuộc sống dễ thở hơn. Cùng thời điểm đó, ông mua một ngôi nhà nằm trên sân golf ở vùng ngoại ô Humble, thành phố Houston.
Sau đó, ông liên tiếp được thăng chức, tăng lương và tích lũy được hơn 3 triệu USD cho quỹ hưu trí. Song Shilling không nhận ra mình đã bước vào nhóm trung lưu khá giả.
"Tôi vẫn nghĩ mình chỉ là người bình thường. Tôi không cần xe sang hay TV đắt tiền. Nhưng khi muốn thứ gì, tôi có thể mua được", Shilling nói.
Theo một nghiên cứu mới của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), trong 50 năm qua, mức sống của các gia đình Mỹ đã tăng đáng kể trên toàn bộ các nhóm thu nhập. Nghiên cứu của AEI chia các hộ gia đình theo 5 nhóm, gồm nghèo hoặc cận nghèo, trung lưu thấp, trung lưu cốt lõi, trung lưu khá giả và giàu.
Chưa có định nghĩa cụ thể về tầng lớp trung lưu hay trung lưu khá giả ở Mỹ bởi mức thu nhập được coi là "cao" ở một thành phố có thể chỉ là "khiêm tốn" ở thành phố khác.
Song báo cáo của AEI, do Stephen Rose và Scott Winship thực hiện, phân loại một gia đình ba người có thu nhập 133.000-400.000 USD (tính theo giá trị năm 2024) là tầng lớp trung lưu khá giả. Hộ có mức thu nhập trên mức này sẽ được xếp vào nhóm giàu. Phân tích này chỉ xem xét thu nhập, không tính đến tài sản như cổ phiếu hay bất động sản.
Hiện tỷ lệ hộ gia đình thuộc nhóm trung lưu khá giả đã tăng từ 10% năm 1979 lên khoảng 31% vào năm 2024, theo AEI. Sử dụng phương pháp tính khác, Trung tâm Nghiên cứu Pew cũng ghi nhận xu hướng tương tự khi tỷ lệ người Mỹ thuộc nhóm thu nhập cao tăng từ 11% lên 19% trong giai đoạn 1971-2023.
"Nhìn chung mức sống của người Mỹ đã cải thiện, nhưng thu nhập của các hộ khá giả tăng nhanh hơn đáng kể so với phần còn lại", Richard Fry, nhà nghiên cứu cấp cao tại Pew, cho biết.
Các tác giả nhận thấy ngày càng nhiều gia đình ở Mỹ được xếp vào hai nhóm có thu nhập cao nhất, trong khi số gia đình thuộc ba nhóm dưới đang giảm đi.
Theo báo cáo của AEI, năm 2024, khoảng 19% các gia đình Mỹ được coi là "nghèo hoặc cận nghèo", giảm so với khoảng 30% vào năm 1979. Báo cáo định nghĩa nhóm này là các gia đình ba người có thu nhập từ 40.000 USD trở xuống.
Theo nhà kinh tế Scott Winship, một phần lý do nhóm thu nhập cao mở rộng là nhờ mức lương tăng nhanh hơn tốc độ lạm phát, đặc biệt ở những người lao động có bằng đại học.
Một phân tích năm 2021 của Rose khi làm tại Viện Đô thị cho thấy 55% người có bằng cử nhân và 68% người có bằng sau đại học thuộc nhóm trung lưu khá giả hoặc giàu.
Các cặp vợ chồng hoặc sống chung cũng có khả năng gia nhập nhóm này cao hơn, một phần vì có hai nguồn thu nhập và có thể chia sẻ chi phí sinh hoạt. Phân tích của Viện Đô thị cho thấy hơn 80% người thuộc nhóm trung lưu khá giả và giàu sống trong các hộ gia đình có hai người trưởng thành.
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 2015, Gabriel Martinez bắt đầu làm việc trong lĩnh vực logistics với mức lương 50.000 USD mỗi năm. Hiện người đàn ông 34 tuổi này làm cho một công ty công nghệ lớn với thu nhập khoảng 180.000 USD mỗi năm, chưa kể các khoản tiền và cổ phiếu thưởng đi kèm.
Martinez từng phải vay mượn để mua một chiếc xe đắt tiền, trong khi vợ anh, Anna, cũng vay hơn 100.000 USD để theo học chương trình thạc sĩ. Anh sau đó đổi sang một chiếc xe bình dân hơn và hai người cũng phải cắt giảm các khoản chi tiêu như ăn nhà hàng hay mua quần áo, để dành tiền trả nợ.
Nhưng sau vài năm, với mức lương cải thiện, họ đã tích lũy được một khoản dự phòng và sở hữu căn nhà rộng 158 m2 tại Boerne, bang Texas.
Tuy nhiên, thu nhập cao hơn không đồng nghĩa với cảm giác giàu có. Lạm phát kéo dài cùng chi phí thiết yếu tăng mạnh trong vài năm qua khiến nhiều gia đình, kể cả nhóm thu nhập cao, vẫn phải cân nhắc kỹ các khoản chi lớn. Khảo sát cho thấy khoảng 90% người Mỹ cho biết họ đang chịu tác động từ cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt, theo Study Finds.
Theo dữ liệu từ Bankrate, giá bán trung vị của một căn nhà đã qua sử dụng tại Mỹ hiện gần 400.000 USD. Học phí đại học trung bình cũng rơi vào khoảng 38.000 USD mỗi năm.
Laura Shields, 46 tuổi sống ở bang New Jersey, cho biết bà chỉ mới cảm thấy tài chính dư dả hơn kể từ sau đại dịch Covid-19. Bà và chồng kiếm khoảng 240.000 USD mỗi năm, giúp họ có thể thanh toán nợ thẻ tín dụng, tích lũy một khoản tiết kiệm hay chi trả khoản phát sinh ngoài dự kiến.
Tuy nhiên, khi con trai cả sắp vào đại học, họ lo ngại có thể phải vay nợ để trang trải học phí cho con. "Tôi đang cố gắng để không lo nghĩ quá nhiều về điều đó," Shields nói.
Với gia đình Shilling, tổng thu nhập của hai vợ chồng ông vào khoảng 220.000 USD mỗi năm. Điều này giúp cuộc sống của ông tốt hơn so với thời cha mẹ, những người không học đại học. Tuy nhiên, ông không chắc con trai Blake, 23 tuổi, có thể duy trì đà đi lên đó.
"Tôi nghĩ thế hệ con cháu chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn," ông nói, nhắc tới chi phí sinh hoạt ngày càng cao.