Chia sẻ tại Hành trình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc (diễn ra cuối năm 2025 tại Quảng Châu, do Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Đông tổ chức), TS Trương Thị Bích Hạnh, Phó hiệu trưởng Trường THPT chuyên Khoa học xã hội và nhân văn (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội), đã đưa ra cách tiếp cận giàu chiều sâu lịch sử để lý giải nền tảng của tình hữu nghị và giá trị của giao lưu nhân văn giữa hai quốc gia.
Theo TS Trương Thị Bích Hạnh, nhìn lại lịch sử, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 – thời điểm mang tính bước ngoặt đối với cả hai dân tộc, có 3 điểm tương đồng cơ bản giữa hai nước Việt – Trung, được gọi là “3 chữ đồng”: đồng văn (cùng chung nền tảng văn hóa), đồng chủng (có sự gần gũi về nguồn gốc) và đồng bệnh (cùng đối mặt với nguy cơ mất nước và tình trạng lạc hậu). Chính những điểm tương đồng này đã tạo nên sự gắn bó tự nhiên, thúc đẩy các thế hệ yêu nước hai nước tìm đến nhau trong hành trình cứu quốc.
Bà Hạnh cho biết có 3 thế hệ người Việt Nam sang Trung Quốc tìm đường cứu nước. Từ những nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19, đến thế hệ Phan Bội Châu với nỗ lực xây dựng các tổ chức cách mạng, và sau đó là thế hệ do Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Ở chiều ngược lại, nhiều nhà cách mạng Trung Quốc, tiêu biểu là Tôn Trung Sơn, cũng từng hoạt động tại Việt Nam, góp phần tạo nên sự giao thoa tư tưởng và hành động giữa hai dân tộc.
Theo TS Trương Thị Bích Hạnh, những thành công hay thất bại của các thế hệ đi trước đều để lại di sản quý giá, trong đó có nền tảng của tình hữu nghị Việt – Trung ngày nay. Đây chính là “gốc rễ” để hai nước tiếp tục phát triển giao lưu nhân văn trong bối cảnh hiện đại.
Từ nền tảng lịch sử đó, bà Hạnh cho rằng giao lưu nhân văn Việt Nam – Trung Quốc hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Không chỉ dựa trên sự tương đồng về lịch sử và văn hóa, hai nước còn có quá trình đồng hành trong việc tìm kiếm con đường phát triển và thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950.
Đặc biệt, TS Hạnh nhấn mạnh sự mở rộng từ “3 chữ đồng” trong lịch sử sang một “chữ đồng” mới trong hiện tại – đó là “đồng hành”, cùng hướng tới xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai. Qua đó, bà khẳng định các chương trình giao lưu nhân văn không chỉ mang ý nghĩa giao lưu đơn thuần, mà còn là sự tiếp nối lịch sử, góp phần củng cố hiểu biết, tăng cường tin cậy và làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Là một học giả của Trung Quốc, ông Ngưu Khải Quân, Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, ĐH Trung Sơn, cũng cho rằng Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng và liên kết về mặt văn hóa. Trong số các quốc gia Đông Nam Á, người Trung Quốc dễ dàng giao tiếp và thấu hiểu nhất chính là với người Việt Nam và người Singapore. “Xét từ góc độ này, nếu Trung Quốc muốn giao lưu và hợp tác sâu rộng với các nước Đông Nam Á, thì Việt Nam và Singapore sẽ là những cầu nối quan trọng nhất, cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân”, ông Ngưu Khải Quân nhận định thêm.
Theo ông Quân, hiện nay có rất nhiều sinh viên Trung Quốc sang Việt Nam học tập, khảo sát và cũng có rất nhiều lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc. Đồng thời, giao lưu học thuật giữa các chuyên gia, học giả hai nước cũng nở rộ và số lượng người Trung Quốc đang làm ăn, kinh doanh tại Hà Nội và TP.HCM cũng rất lớn. “Tôi cho rằng đây đều là những cầu nối quan trọng giúp hai nước Trung – Việt thấu hiểu nhau hơn”, Viện trưởng Ngưu Khải Quân nêu.
Nhận định về các biện pháp thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới, ông Ngưu Khải Quân kỳ vọng trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò cầu nối tích cực trong tăng cường hợp tác kinh tế cũng như đẩy mạnh giao lưu nhân văn giữa hai nước nói riêng và Trung Quốc – ASEAN nói chung. “Tôi cho rằng trước hết, hai bên có thể thúc đẩy hợp tác kinh tế. Một trong những khía cạnh hợp tác nhiều tiềm năng phải kể đến là lĩnh vực robot và năng lượng mới. Đây được coi là những thế mạnh của Trung Quốc hiện nay”, ông Quân khẳng định.
Ngoài ra, hai bên có thể thúc đẩy giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân. Theo Viện trưởng Quân, cả văn hóa và kinh tế đều còn rất nhiều dư địa để hai bên trao đổi, giao lưu và học hỏi. Khi được hỏi đánh giá của ông về Năm giao lưu nhân văn Việt – Trung 2025, ông Ngưu Khải Quân cho biết sẽ sử dụng 3 từ: thấu hiểu, tôn trọng, và giao lưu.
“Chỉ cần hai bên tăng cường giao lưu, thì chúng ta sẽ thấu hiểu nhau hơn, từ đó dẫn đến sự tôn trọng lẫn nhau. Và càng tôn trọng nhau, thì quan hệ hai nước sẽ càng tiến xa hơn và bền vững hơn. Như tôi đã đề cập, văn hóa hai nước Trung – Việt có rất nhiều điểm tương đồng. Trong số những người nước ngoài tôi từng tiếp xúc, người Việt Nam là những người mà tôi dễ dàng trao đổi sâu sắc nhất. Khi đã có sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau, những mâu thuẫn nhỏ giữa các quốc gia đều có thể giải quyết được. Giao lưu càng nhiều, quan hệ đôi bên sẽ càng bền vững và lâu dài”, ông Quân nhấn mạnh.
Có mặt trong Hành trình hữu nghị Việt – Trung, ông Nguyễn Việt Dũng, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, đã cùng các đại biểu tham quan nhiều di tích mang dấu ấn sâu đậm của tình hữu nghị Việt – Trung như: Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, nơi có ngôi mộ liệt sĩ Việt Nam Phạm Hồng Thái. Ông Dũng đã có những chia sẻ sâu sắc về tầm quan trọng và ý nghĩa của hành trình thăm các “địa chỉ đỏ” đối với quan hệ hai nước.
Theo ông Nguyễn Việt Dũng, hành trình đỏ là nhịp cầu nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại năng động. Việc đoàn đại biểu được thăm lại những di tích lịch sử gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối tại Trung Quốc là một trải nghiệm vô cùng xúc động. Đây là cơ hội để thế hệ trẻ thấu hiểu sâu sắc về tình đoàn kết, sự kề vai sát cánh giữa hai dân tộc trong những giai đoạn lịch sử gian khổ nhưng vẻ vang, từ đó tiếp thêm động lực để giữ gìn và phát huy tình hữu nghị truyền thống.
Cũng trong hành trình này, đoàn đại biểu đã gặp những học giả Trung Quốc yêu mến Việt Nam. Ông Phòng Vĩnh Phu, nghiên cứu viên cao cấp Trung tâm Đông Nam Á (ĐH Trung Sơn), là một trong những người gắn bó lâu dài với Việt Nam và nói tiếng Việt như người Việt. Ông đã hơn 30 lần đến Việt Nam, đi qua nhiều địa phương từ Lạng Sơn đến Phú Quốc. Năm 2012, dù đã cao tuổi, ông vẫn cố gắng về Nghệ An để thăm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cho biết mỗi ngày ông dành hơn một giờ để đọc tin tức Việt Nam. Ông bày tỏ ấn tượng với sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là tinh thần cải cách và khát vọng vươn lên trong giai đoạn mới.
“Tôi đã tham gia giảng dạy cho nhiều sinh viên người Việt Nam, họ rất chăm chỉ, dễ mến, có chí tiến thủ. Các thế hệ thanh niên hai nước cần kiên trì đi theo con đường lý tưởng cách mạng của các bậc tiền bối, vun đắp cho tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”, ông Phòng Vĩnh Phu bày tỏ. (còn tiếp)
Dự án bao bì sinh học từ lục bình của nhóm tác giả gồm 5 sinh viên Lê Hoàng Khanh, Trần Minh Khánh, Khưu Thúy Quỳnh, Nguyễn Thanh Hào và Mã Tấn Lộc (Trường ĐH FPT Cần Thơ). Hiện nhóm đang phát triển dự án GreenShield Mekong để tạo ra các giải pháp bao bì sinh học thay thế nhựa dùng một lần.
Hoàng Khanh cho biết không dừng lại ở ý tưởng, nhóm đã bước vào giai đoạn thương mại hóa với hệ sinh thái sản phẩm tương đối hoàn chỉnh. Các dòng sản phẩm chủ lực bao gồm: khay, hộp đựng trái cây ép khuôn từ lục bình, lót ly sinh học, chén lá lục bình và đĩa từ lá sen. Tất cả đều có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn, đảm bảo an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trường.
Quy trình sản xuất sử dụng phương pháp xử lý sinh khối đơn giản nhưng hiệu quả như: nghiền, trộn, ép khuôn và phơi khô (đối với lục bình); ép, định hình và xử lý bề mặt (đối với lá sen).
Bên cạnh đó, dự án tích hợp chuyển đổi số với hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, bản đồ số vùng nguyên liệu và công nghệ AI phân loại nguyên liệu. Điểm nổi bật của dự án nằm ở khả năng giải quyết đồng thời nhiều bài toán thực tiễn. Bao bì được thiết kế ôm sát, có độ chịu lực tốt, giúp giảm tỷ lệ dập nát nông sản trong quá trình vận chuyển, đặc biệt là trái cây xuất khẩu. Việc sử dụng vật liệu sinh học giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội trong chuỗi cung ứng.
Dự án tạo ra sinh kế ổn định cho nông dân thông qua các hoạt động thu gom, sơ chế và gia công lục bình, lá sen. Mô hình này đặc biệt phù hợp với lao động nông thôn, phụ nữ và lao động nhàn rỗi, góp phần hình thành chuỗi cung ứng gắn với hợp tác xã, nâng cao thu nhập và ý thức bảo vệ môi trường.
Về mặt môi trường, dự án góp phần giảm đáng kể lượng rác thải nhựa khó phân hủy và cải thiện hệ sinh thái sông ngòi tại ĐBSCL.
Theo Hoàng Khanh, dự án GreenShield Mekong tập trung vào khách hàng là doanh nghiệp xuất khẩu trái cây, hợp tác xã nông nghiệp, hệ thống siêu thị và chuỗi nhà hàng, khách sạn. Đây là khách hàng có nhu cầu lớn và ổn định, đồng thời chịu áp lực ngày càng cao về tiêu chuẩn bao bì xanh.
Thầy Nguyễn Trọng Luân, Chủ nhiệm bộ môn khởi nghiệp, Trường ĐH FPT Cần Thơ, đánh giá GreenShield Mekong là dự án tiêu biểu của sinh viên khi đồng thời giải quyết ô nhiễm rác thải nhựa và tình trạng lục bình phát triển quá mức tại ĐBSCL. Dự án thể hiện rõ tư duy đổi mới, khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn và định hướng thị trường theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, để thương mại hóa bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện chất lượng sản phẩm, mô hình tài chính và chiến lược thị trường.
Phan Văn Hùng (26 tuổi), nhà sáng tạo nội dung tại Hà Nội, là một trong những người trẻ chọn quay về với thiên nhiên như cách để "giải nhiệt" cuộc sống.
Hùng cho biết một ngày làm việc thường bắt đầu từ khoảng 9 giờ 30 và kéo dài đến 21 giờ. Buổi sáng dành cho việc chuẩn bị, lên kế hoạch; buổi chiều quay chụp; buổi tối là thời gian viết nội dung, đăng bài và tiếp tục nghĩ ý tưởng mới. Công việc lặp lại trong một vòng xoay quen thuộc. "Có những lúc mình thấy mệt nhất là khi mọi thứ dồn lại, nhưng vẫn phải tự mình chạy hết các khâu", Hùng chia sẻ.
Giữa guồng quay ấy, thiên nhiên trở thành lựa chọn được Hùng tìm đến mỗi khi cần một khoảng lặng. Không phải quán xá hay trung tâm thương mại, những chuyến đi về với cảnh sắc tự nhiên mang lại cảm giác chân thật và thư thái hơn. "Chỉ cần đến một nơi đẹp, ngồi nhìn những gì trước mắt, tự nhiên thấy nhẹ đi rất nhiều", anh kể.
Có chuyến đi, anh chỉ ngồi bên một hồ nước từ sáng đến chiều, nhìn ánh sáng thay đổi theo từng khoảnh khắc. Không quay chụp nhiều, cũng không cố tạo ra trải nghiệm đặc biệt. "Ban đầu mình nghĩ phải đi nhiều nơi mới đáng, nhưng sau vài lần, mình thấy chỉ cần ngồi yên là đủ", Hùng chia sẻ.
Với anh, hành trình không nằm ở việc di chuyển bao xa, mà ở việc có thể dừng lại đủ lâu để cảm nhận.
Nguyễn Dương Khánh (35 tuổi) và Võ Phụng (27 tuổi), sống tại Vĩnh Long, lại tìm về thiên nhiên theo cách khác. Họ lần theo các làng nghề truyền thống ở miền Tây và nhiều địa phương khác, những nơi không xuất hiện trên bản đồ du lịch quen thuộc.
Những chuyến đi bắt đầu từ rất sớm, có khi từ 3, 4 giờ sáng. Họ băng qua những con đường vắng, đi ghe vào sâu trong các xóm nhỏ, đến các làng dệt chiếu, làm hủ tiếu, nấu đường thốt nốt.
Ở đó, họ không chỉ ghi hình mà còn tham gia vào nhịp sống: phụ nhóm bếp, thử làm nghề, ăn cơm cùng gia đình chủ nhà, ngồi nghe kể chuyện. Có lúc, họ dừng quay, chỉ để quan sát.
"Thiên nhiên không phải lúc nào cũng là cảnh lớn. Đôi khi chỉ là ánh sáng buổi sớm, mùi khói bếp hay tiếng gió", Khánh nói.
Qua từng chuyến đi, họ chọn cách chậm lại, ở lâu hơn, làm ít hơn. "Mỗi lần rời đi, tụi mình thấy như mang theo một phần ký ức của nơi đó", Phụng chia sẻ.
Việc lựa chọn gắn bó với làng quê và thiên nhiên đến từ cảm giác được sống thật của cả hai. "Ở đó hai đứa thấy mình thật nhất. Ngồi dưới mái hiên nhà cổ, nghe tiếng lạch cạch của khung cửi hay mùi bùn đất, mùi khói rơm... tự nhiên thấy lòng mình nhẹ hẳn", Khánh chia sẻ.
Với Điêu Minh Trí (30 tuổi, Hà Nội), những chuyến đi về với thiên nhiên thường gắn với vận động. Sau những ngày làm việc vất vả, anh chọn trekking những cung đường ngắn, leo lên điểm cao để nhìn toàn cảnh, hoặc tìm một bãi biển vắng để ở lại cả buổi.
Một ngày về với thiên nhiên của anh Trí có thể bắt đầu bằng việc đi bộ trong rừng, buổi chiều ngồi nhìn cảnh, tối đến chỉ đơn giản là nằm nghe âm thanh xung quanh. "Có lúc mình không làm gì, nhưng lại thấy đủ", Trí nói.
Cảm giác rõ nhất sau mỗi chuyến đi là sự nhẹ đi, khi những áp lực cuộc sống vẫn còn đó, nhưng cách nhìn đã khác: tích cực và nhẹ nhàng hơn.
Nguyễn Phan Quang Huy (27 tuổi, sống tại Hà Nội) cũng chọn những điểm đến gần như vùng ven đô, cánh đồng hay dòng sông yên tĩnh. Đấy cũng là cách Huy giải tỏa bớt căng thẳng cuộc sống.
Anh dành thời gian đi bộ, đạp xe, hoặc ngồi hàng giờ quan sát xung quanh. Trong những chuyến đi, anh hạn chế dùng điện thoại, để ý nhiều hơn đến cảnh sắc thiên nhiên.
"Có những chuyện trước đó nghĩ mãi không ra, tự nhiên lại thấy nhẹ đi", Huy nói. Với anh, thiên nhiên là nơi đủ yên để suy nghĩ rõ ràng hơn.
Nguyễn Phương Thảo (30 tuổi, sống tại Nghệ An), một Freelancer (người làm việc tự do), giữ cho nhịp sống của mình ở trạng thái nhẹ nhàng. Thảo thường xen kẽ những chuyến đi ngắn đến biển, đồi thấp hoặc vùng ngoại ô nhiều cây xanh.
Trong những ngày đó, Thảo dậy sớm đón bình minh, đi bộ, đọc sách hoặc chỉ ngồi yên nghe sóng và gió. "Có những chuyến đi mình gần như không làm gì nhiều, chỉ là ở đó và cảm nhận", Thảo chia sẻ.
Chính những khoảng lặng ấy giúp Thảo nhìn lại công việc và bản thân rõ ràng hơn. Từ trải nghiệm cá nhân, Thảo nhận thấy ngày càng nhiều người trẻ tìm về thiên nhiên như một cách sống chậm, khi trekking, leo núi hay sống xanh dần trở thành lựa chọn quen thuộc.
Trong chuyến công tác tham gia "Hành trình đỏ" tại vùng lưỡng quảng Quảng Đông và Quảng Châu (Trung Quốc) vào cuối năm 2025, đoàn đại biểu các nhà báo chúng tôi đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều bạn trẻ của Trung Quốc và Việt Nam. Họ đã chia sẻ những trải nghiệm quý giá của mình khi tham gia hành trình ý nghĩa này.
"Tôi rất nhớ Hà Nội, nhớ hồ Gươm, nhớ hồ Tây thơ mộng, nhớ những món ăn rất ngon, nhớ những người bạn Việt Nam thân thiện…", chị Lư Kim Linh, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Học viện Quan hệ quốc tế, ĐH Trung Sơn, đồng thời là giảng viên tại Trường ĐH Dân tộc Quảng Tây, đã bộc bạch khi được hỏi về cảm nhận của mình với Việt Nam. Là một người Trung Quốc từng học tập tại Việt Nam và có vốn tiếng Việt lưu loát, chị Linh là một nhịp cầu sống động trong giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Trong chuyến tham gia Hành trình hữu nghị Việt - Trung, chị Linh được đặt chân đến nhiều di tích lịch sử in đậm tình hữu nghị của Việt Nam - Trung Quốc, trong đó có Di tích Lớp huấn luyện chính trị thanh niên Việt Nam tại Trụ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu. Đây là điểm lịch sử quan trọng, gắn liền với các hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chính tại nơi này, trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc tháng 8.2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã viết lưu bút, bày tỏ xúc động khi trở lại địa điểm gắn với những năm tháng hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đồng thời khẳng định giá trị của tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết và gắn bó giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc.
Lần đầu tiên được đến thăm, chị Linh bày tỏ sự ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và hiểu hơn về tình hữu nghị giữa hai Đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, cũng như mối quan hệ giữa nhân dân hai nước. Theo chị, việc kết nối giữa quá khứ và hiện tại là vô cùng quan trọng. Chị nhấn mạnh rằng tình hữu nghị truyền thống Việt - Trung được xây dựng từ nền móng vững chắc của các nhà lãnh đạo tiền bối như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông - một di sản quý báu "không hề dễ dàng có được".
Từ góc độ của một nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế, chị Linh cho rằng thế hệ trẻ hôm nay đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới trong việc định nghĩa lại cách thức giao lưu trong thời đại số.
"Đối với thế hệ trẻ chúng tôi, việc tiếp tục kế thừa và phát huy tình cảm hữu nghị này là trách nhiệm của mỗi người dân hai nước. Đặc biệt là với những sinh viên đã từng sang Việt Nam học tập và học tiếng Việt như tôi, việc tìm hiểu nhiều hơn về Việt Nam và giúp các bạn Việt Nam hiểu thêm về Trung Quốc là một trách nhiệm xã hội mà chúng tôi nhất định phải gánh vác", chị Linh bày tỏ.
Tại Trung Quốc, có một "địa chỉ đỏ" vô cùng ý nghĩa về tình hữu nghị giữa hai quốc gia Việt - Trung, đó là ĐH Trung Sơn. Cách đây hơn một thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sắp xếp cho 8 thiếu niên Việt Nam sang theo học tại Trường trung học và tiểu học thuộc ĐH Quảng Đông, tiền thân của ĐH Trung Sơn ngày nay.
Câu chuyện "gieo mầm hữu nghị" ấy đến nay vẫn là ký ức chung, được hai bên trân trọng giữ gìn. Trong suốt những năm qua, ĐH Trung Sơn luôn coi trọng giao lưu và hợp tác với Việt Nam và đã đào tạo cho nước ta nhiều thế hệ nhân tài ưu tú, thông thạo ngôn ngữ hai nước, am hiểu sâu sắc văn hóa lẫn nhau. Hiện ở đây có khoảng 60 lưu học sinh Việt Nam.
Chị Hoàng Thị Ngọc Minh là một nghiên cứu sinh Việt Nam đang theo học năm thứ 2 chuyên ngành quan hệ quốc tế tại ĐH Trung Sơn. Chia sẻ về lý do chọn học tại nơi đây, chị Minh cho biết muốn "đến để hiểu, hiểu để yêu". Đối với chị, khi đến đây thì tình hữu nghị Việt - Trung không chỉ nằm trong sử sách hay những tuyên bố ngoại giao, mà hiện hữu sống động qua từng trải nghiệm thực tế và sự kết nối giữa con người với con người.
Chị Minh chia sẻ, trước đây cái nhìn của chị về Trung Quốc phần lớn qua phim ảnh, âm nhạc và những thông tin đa chiều trên mạng xã hội, đôi khi chưa thực sự toàn diện. Chỉ khi sống và học tập tại đây, chị mới cảm nhận rõ nét sự ấm áp của tình người.
Câu chuyện về một người phụ nữ lớn tuổi Trung Quốc không ngần ngại giúp đỡ chị xách những chiếc va li nặng nề trên tàu điện ngầm trong những ngày đầu bỡ ngỡ đã để lại ấn tượng sâu đậm. Với chị Minh, đó là minh chứng rõ nhất cho việc lòng tốt và sự thân thiện không có biên giới. Chị nhận ra rằng, dù ở đâu, sự cởi mở và đối thoại trực tiếp chính là chìa khóa để phá vỡ những rào cản hay định kiến do thông tin sai lệch tạo ra.
Từ những trải nghiệm cá nhân, chị Minh cho rằng mỗi người trẻ là một "sứ giả" mang hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Chị Minh thực hiện trách nhiệm ấy bằng những hành động thiết thực: sử dụng mạng xã hội WeChat để chia sẻ những video ngắn về đời sống hiện đại, vẻ đẹp đất nước và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Chị cũng cùng các bạn Việt Nam thường xuyên tham gia các buổi giao lưu văn hóa, mang hơi thở và bản sắc dân tộc giới thiệu đến thầy cô và bạn bè Trung Quốc.
Là một trong những người trẻ tham gia Hành trình hữu nghị Việt - Trung năm 2025, anh Nguyễn Hoài Đảm, Bí thư Đoàn thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam, đã cảm nhận sâu sắc về sứ mệnh của thế hệ trẻ trong việc kế thừa, phát huy tình hữu nghị giữa hai quốc gia. "Qua hành trình này, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc nền tảng của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước kiên trì vun đắp qua năm tháng", anh nói.
"Thế hệ trẻ hôm nay có thể chưa viết nên ngay lập tức những trang sử lớn, nhưng chính các bạn đang và sẽ góp phần định hình tương lai quan hệ Việt - Trung bằng tri thức, trải nghiệm và sự năng động, sáng tạo của mình. Các bạn chính là nguồn cảm hứng để tiếp tục kể những câu chuyện tốt đẹp về tình hữu nghị giữa hai đất nước, hai dân tộc trong kỷ nguyên mới", anh Đảm bày tỏ. (còn tiếp)