Ngay sau khi bài viết Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 còn 46 triệu người, ‘siêu già’ từ năm 2040 đăng trên Báo Thanh Niên (ngày 9.4.2026) – chủ đề này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của độc giả với hàng trăm lượt tương tác trên fanpage của báo cùng nhiều bình luận dưới bài viết và trên mạng xã hội. Đáng chú ý, câu chuyện dự báo dân số giảm mạnh vẫn tiếp tục là chủ đề chưa hạ nhiệt được đông đảo bạn đọc bàn luận.
Bên cạnh mối quan tâm về dự báo dân số Việt Nam và xu hướng già hóa dân số tại nhiều quốc gia phát triển trong tương lai, không ít bạn đọc đã thẳng thắn chia sẻ về bài toán sinh con, nuôi con giữa bối cảnh chi phí ngày càng cao.
Đáng chú ý, bạn đọc “CK Nguyen” đưa ra một phép tính khá chi tiết về chi phí nuôi dạy con tại đô thị lớn như TP.HCM. Theo bạn đọc này, ngay cả trong kịch bản chi tiêu tiết kiệm, để nuôi 1 con từ nhỏ đến hết đại học, gia đình cũng phải chuẩn bị khoảng 1,2 – 1,8 tỉ đồng; nếu nuôi 2 con, số tiền có thể lên tới 2,4 – 3,6 tỉ đồng.
Trong đó, giai đoạn 6 – 18 tuổi được xem là tốn kém nhất, với tổng chi phí ước tính khoảng 600 triệu – 1,2 tỉ đồng, chưa kể những khoản khác như học thêm, học ngoại ngữ, kỹ năng, thiết bị học tập hay chăm sóc sức khỏe. Riêng 4 năm đại học, học phí và sinh hoạt cũng có thể tiêu tốn thêm khoảng 200 – 500 triệu đồng.
Từ phép tính này, bạn đọc CK Nguyen cho rằng đây mới chỉ là mức chi tối thiểu, qua đó bày tỏ nỗi lo trước áp lực tài chính kéo dài trong hành trình sinh con, nuôi dạy con.
Bạn đọc “Minh Nguyen” chia sẻ rất yêu trẻ nhưng chần chừ trước quyết định sinh con. Theo bạn đọc này, nuôi con không chỉ là lo ăn học, mà còn cần thời gian, công sức để đồng hành, dạy dỗ con nên người. Đồng thời, bạn đọc cho rằng việc sinh con không thể trông chờ vào suy nghĩ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
“Có những điều không thể giải quyết chỉ bằng tiền. Phải lo được cho con thì tôi mới dám sinh, không chỉ đủ điều kiện kinh tế, mà còn phải có thời gian để chăm sóc, đồng hành và dạy dỗ con”, bạn đọc bày tỏ.
Trong khi đó, bạn đọc “Hung Cuong” nhắc đến thực tế thu nhập còn thấp là rào cản lớn khiến nhiều người không dám sinh con. Theo bạn đọc này, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc trang trải cuộc sống cá nhân đã không dễ, nên chuyện lập gia đình, sinh con và bảo đảm điều kiện nuôi dạy con càng trở thành bài toán khó. “Ngay cả nuôi bản thân còn chật vật nên chuyện sinh con càng khó tính toán”, bạn đọc bày tỏ.
Chị Ái Trinh (30 tuổi, ở phường Thủ Đức, TP.HCM) hiện đã có 2 con nhỏ, cho biết từng nghĩ đến chuyện sinh thêm con thứ ba. Thế nhưng, mong muốn ấy phải gác lại trước áp lực áp lực kinh tế và thời gian.
Theo chị Trinh, nỗi lo lớn nhất không chỉ là chuyện sinh thêm một đứa trẻ, mà là làm sao bảo đảm điều kiện nuôi dạy con chu đáo trong bối cảnh chi phí sống ở đô thị ngày càng đắt đỏ.
“Vợ chồng tôi đều đi làm, thu nhập không thấp nhưng chi phí nuôi 2 con đã rất lớn, từ học hành, ăn uống đến các khoản phát sinh. Nếu sinh thêm, tôi không chắc có đủ thời gian chăm sóc con hay không, chưa kể áp lực công việc và nguy cơ ảnh hưởng thu nhập”, chị Trinh nói.
Còn bạn đọc Trung Nguyên chia sẻ: khi bàn về chuyện sinh con, điều nên đặt lên trước là làm sao để một đứa trẻ được sinh ra trong hạnh phúc, chứ không phải sinh con như một chỗ dựa để cha mẹ thấy yên lòng hơn về sau. Theo bạn đọc này, đó là hai cách nghĩ hoàn toàn khác nhau…
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng chuyện sinh con ngày nay không còn chỉ là việc riêng của mỗi gia đình, mà gắn trực tiếp với quy mô lao động, quy mô dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, người lao động có “vai trò kép”: vừa trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa tạo ra thế hệ lao động tiếp theo cho đất nước.
Ông nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thu nhập không theo kịp chi phí nuôi con. Theo phân tích của ông, tại nhiều nước vẫn còn khoảng 35 – 45% người lao động có mức lương dưới ngưỡng đủ sống tối thiểu – tức mức lương thấp nhất để một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề. Với mức thu nhập đó, họ không đủ điều kiện tài chính để sinh và nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Theo ông Nhân, cái gốc của câu chuyện ngại sinh con nằm ở chỗ đã sinh thì phải nuôi được, dạy cho tử tế. Người trẻ sẽ không sinh hoặc chỉ sinh 1 con nếu chưa có đủ những điều kiện cần thiết như thu nhập đủ sống và chỗ ở phù hợp.
Ông nêu rõ: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ. Nhưng khi mà một đất nước trên dưới 40% số gia đình hoặc phụ nữ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con, còn hầu hết các gia đình còn lại chỉ sinh 2 con, thì mức sinh bình quân của cả nước không bao giờ đạt mức thay thế 2,1 con. Tỷ lệ tái tạo lao động của đất nước luôn nhỏ hơn 100%”.
Ông cũng phân biệt rõ giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tối thiểu. Nếu lương tối thiểu chỉ giúp người lao động tự nuôi bản thân, còn muốn yên tâm sinh con, nuôi con và duy trì một gia đình ổn định, phải có mức lương đủ sống cho cả gia đình.
Bên cạnh đó, từ việc khảo sát hàng loạt công bố, ông Nhân cho rằng mức sinh thấp kéo dài không chỉ do gánh nặng chi phí sống, thiếu dịch vụ chăm trẻ, thời gian làm việc quá dài hay điều kiện lao động chưa thuận lợi cho phụ nữ, mà còn bắt nguồn từ sự suy giảm cả động lực cá nhân lẫn động lực xã hội đối với hôn nhân và sinh con.
Ông chỉ ra xu hướng “3 không” trong một bộ phận thanh niên: không kết hôn, không sinh con, không thấy có trách nhiệm phải kết hôn và sinh con. Từ đó, ông Nhân cho rằng các chính sách khuyến sinh sẽ khó hiệu quả nếu không xử lý đúng các điểm nghẽn cốt lõi.
Theo ông, nhiều Chính phủ đã chi hàng tỉ, chục tỉ USD mỗi năm để khuyến khích kết hôn và sinh con, nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Nguyên nhân là các chương trình hỗ trợ này có tác dụng rất hạn chế, do mức hỗ trợ quá nhỏ so với nhu cầu tài chính để nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Ông lý giải, nhiều Chính phủ đã chi rất nhiều chi phí để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng hiệu quả vẫn hạn chế do mức hỗ trợ còn quá nhỏ so với gánh nặng thực tế, trong khi các vấn đề nền tảng chưa được giải quyết. Đó là thu nhập của một bộ phận người dân không đủ nuôi 2 con ăn học đàng hoàng tới 18 tuổi; thiếu trường mầm non công lập với chi phí vừa phải; chi phí nhà quá cao; bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong việc nhà và trả lương.
Bên cạnh đó là điều kiện làm việc khắc nghiệt với phụ nữ, khiến cơ hội thăng tiến bị ảnh hưởng tiêu cực khi họ có con; chi phí điều trị vô sinh cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều cặp vợ chồng; môi trường xã hội chưa thân thiện với trẻ em và phụ nữ làm mẹ.
Ngoài ra, nhiều nơi cũng chưa có nội dung giáo dục về trách nhiệm công dân đối với tương lai, sự phát triển của đất nước, cũng như giáo dục về hạnh phúc gia đình và cách xây dựng gia đình hạnh phúc.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi, để phục vụ thi công dự án thành phần đoạn cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn thuộc cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Ban Quản lý dự án 2 đã "mượn" 37 tuyến đường dân sinh làm đường công vụ.
Theo cam kết, toàn bộ các tuyến phải hoàn trả trước ngày 30-9-2025, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn khai thác.
Tuy nhiên, đến giữa tháng 4-2026 vẫn còn 4 tuyến chưa hoàn thành, chủ yếu thuộc gói thầu XL02, trong khi gói XL01 cơ bản đã xong.
Tại xã Khánh Cường, tuyến đường dân sinh từ quốc lộ 1A đi hồ Huân Phong dài gần 7km bị xuống cấp nặng sau thời gian dài phục vụ thi công.
Dù đang được đổ bê tông làm lại mặt đường để hoàn trả cho người dân đi lại sau khi thi công cao tốc nhưng mặt đường bê tông mới làm đã xuất hiện nhiều vết nứt dọc, lún rãnh, lề đường chưa hoàn thiện.
Ông Vũ Ngọc Hạnh, Trưởng thôn Bàn Thạch, cho biết nhà thầu nhiều lần lùi thời hạn hoàn trả, từ tháng 9-2025 sang trước Tết Nguyên đán 2026 nhưng đến nay vẫn chưa xong.
"Không chỉ chậm, chất lượng cũng tệ, vừa làm xong đã nứt nhiều chỗ. Song song với việc hoàn trả, các đơn vị liên quan cần đánh giá lại chất lượng, đảm bảo bà con đi lại lâu dài, an toàn", ông Hạnh nói.
Theo ông Nguyễn Trần Hoàng Vũ, Phó trưởng Phòng Kinh tế xã Khánh Cường, nhiều tuyến chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cơ bản. Một số đoạn thiếu khe co giãn, lề đường chưa đắp hoàn chỉnh, khiến kết cấu thiếu ổn định.
Với hiện trạng nứt mặt đường ngay từ khi mới làm xong, nguy cơ xuống cấp nhanh là rất lớn khi đưa vào sử dụng.
Không chỉ ở Khánh Cường, tuyến đường dân sinh mượn thi công cao tốc từ xã Lân Phong đi quốc lộ 24 dài khoảng 4km cũng xuống cấp nghiêm trọng, xuất hiện dày đặc ổ gà, ổ voi, nhiều đoạn hư hỏng sâu, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn.
Người dân địa phương mong ngóng một con đường mới thay thế, đảm bảo đi lại an toàn. Với mặt đường hiện tại, việc đi lại gặp khó.
Việc đường cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đã thi công xong, sắp đưa vào khai thác, người dân địa phương rất mừng, nhất là họ từng chia sẻ với nhà thầu chở vật liệu trong suốt quá trình thi công. Giờ bà con mong các đơn vị liên quan, có trách nhiệm cao nhất, trả lại những con đường tốt nhất.
Dự án cao tốc đoạn Quảng Ngãi - Hoài Nhơn là công trình trọng điểm quốc gia với tổng vốn hơn 20.400 tỉ đồng. Đây là dự án thành phần trong dự án đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông, kết nối dặm dài Tổ quốc.
Trước thực trạng chậm tiến độ và chất lượng chưa đảm bảo, Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi có văn bản yêu cầu chủ đầu tư quyết liệt chỉ đạo nhà thầu khẩn trương khắc phục, đảm bảo đúng cam kết về tiến độ và chất lượng.
Việc hoàn trả đường dân sinh không chỉ là nghĩa vụ hợp đồng mà còn là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với an sinh của người dân vùng dự án. Tuyệt đối không vì mục tiêu tiến độ của dự án lớn mà xem nhẹ an toàn và sinh kế của nhân dân địa phương.
Theo Bộ Khoa học - Công nghệ, Thông tư số 08 năm 2026 hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất (xác thực SIM chính chủ) bắt đầu có có hiệu lực từ 15.4.
Quy định mới nhằm loại bỏ triệt để tình trạng SIM rác, SIM không chính chủ - vốn là một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn nạn tin nhắn rác, cuộc gọi lừa đảo gây bức xúc dư luận thời gian qua.
Bên cạnh việc xác thực trực tiếp tại các điểm giao dịch của nhà mạng, qua các ứng dụng của doanh nghiệp, người dùng điện thoại được khuyến khích sử dụng ứng dụng VNeID để chủ động kiểm soát các số thuê bao đang đứng tên mình. Nếu phát hiện số lạ "đứng" tên mình, người dân có thể phản ánh ngay qua ứng dụng để nhà mạng khóa thuê bao vi phạm.
Các bước tự xác thực SIM chính chủ trên VNeID như sau:
Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VNeID, tại màn hình Trang chủ hiển thị thông báo, công dân nhấn Truy cập chức năng.
Bước 2: Xác thực bằng passcode hoặc vân tay/ khuôn mặt (tùy theo cấu hình xác thực của tài khoản trên thiết bị)
Bước 3: Nhấn số điện thoại
Bước 4: Chọn yêu cầu tích hợp
-Bước 5.1: Xác nhận tích hợp thông tin. Công dân kiểm tra các thông tin, sau đó chọn đang sử dụng số thuê bao và nhấn xác nhận.
Bước 5.2: Xác nhận không tích hợp thông tin. Công dân kiểm tra các thông tin, chọn không sử dụng số thuê bao và nhấn xác nhận.
Bước 6: Xác nhận tích hợp thành công. Nhấn quay lại để điều hướng về màn Xác nhận tích hợp thông tin.
Bước 7: Màn hình sau khi xác nhận thông tin
Bên cạnh xác thực thông tin SIM chính chủ, chính sách mới cho phép người dân có thể tra cứu toàn bộ các số thuê bao đứng tên mình. Từ đó, họ xác nhận những số đang sử dụng và loại bỏ các số không phải do mình đăng ký hoặc không còn sử dụng bằng cách phản ánh qua VNeID.
Cụ thể, người dùng đăng nhập vào ứng dụng VNeID, tại màn hình Trang chủ tài khoản định danh điện tử mức 2 nhấn Ví giấy tờ.
Sau đó nhấn Số điện thoại, xác thực bằng passcode hoặc vân tay/ khuôn mặt (tùy theo cấu hình xác thực của tài khoản trên thiết bị).Trên màn hình sẽ hiện danh sách số điện thoại đã tích hợp.
Bộ KH-CN cũng lưu ý, không phải tất cả người dùng đều cần xác thực lại. Những thuê bao đã sử dụng số điện thoại để đăng ký tài khoản VNeID mức độ 2, hoặc sử dụng để đăng ký thẻ căn cước, căn cước công dân gắn chíp sẽ được miễn, trừ khi thay đổi thiết bị sau mốc 15.6.2026.
Đối với thuê bao bị xác nhận "không chính chủ" trên VneID, doanh nghiệp phải thông báo liên tục và yêu cầu xác thực lại, nếu không sẽ bị ngừng dịch vụ.
Thuê bao chưa chuẩn hóa sẽ được thông báo, sau đó lần lượt bị dừng chiều đi, hai chiều và chấm dứt hợp đồng nếu không thực hiện chuẩn hóa.
Theo TTXVN, phát biểu tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh giữ gìn văn hóa các dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn giữ gìn nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước bền vững.
Trong nền tảng đó, các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là những người lưu giữ ký ức cộng đồng, mà còn là điểm tựa tinh thần, là nơi hội tụ niềm tin, góp phần giữ vững sự ổn định và gắn kết từ cơ sở.
Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực cả về nhận thức và đời sống xã hội. Nhiều địa phương đã xuất hiện những mô hình, những cách làm rất thiết thực và giàu ý nghĩa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ cần thẳng thắn nhìn nhận rằng sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, có những vấn đề mang tính lâu dài, tác động trực tiếp đến nền tảng phát triển bền vững của đất nước.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu đặt ra là phát triển hài hòa giữa nâng cao đời sống và giữ gìn bản sắc, giữa hội nhập với tự chủ văn hóa.
Cần đặc biệt coi trọng vai trò chủ thể của cộng đồng, bởi chính người dân là chủ thể gìn giữ, thực hành và trao truyền các giá trị văn hóa. Chỉ khi văn hóa được nuôi dưỡng từ ý thức tự giác và niềm tự hào của mỗi người, mới có thể tồn tại, phát triển một cách bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín sẽ tiếp tục phát huy vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ gìn bản sắc, củng cố khối đại đoàn kết và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Đồng thời mong muốn các nghệ nhân tiếp tục truyền dạy cho lớp trẻ, để tiếng nói, làn điệu dân ca, nghề truyền thống được nối dài trong đời sống hôm nay.
Cần quan tâm tạo điều kiện để văn hóa được thực hành trong đời sống, có không gian để gìn giữ và lan tỏa, để mỗi người dân, mỗi cộng đồng thực sự trở thành chủ thể của quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu cùng nhau giữ vững sự bình yên của bản làng, góp phần giữ ổn định từ cơ sở.
Bằng uy tín, bằng trách nhiệm và bằng tình cảm gắn bó với Nhân dân, các già làng, trưởng bản... tiếp tục nêu gương, vận động bà con không nghe theo những lời xúi giục sai trái, không vi phạm pháp luật, không để các yếu tố tiêu cực xâm nhập cộng đồng.
Giữ cho bản làng bình yên cũng chính là góp phần giữ vững sự ổn định chung của đất nước và cùng nhau đổi mới nếp nghĩ, cách làm để phát triển bền vững quê hương, đất nước.
Tiếp tục vận động bà con phát huy tinh thần tự lực, chủ động vươn lên, phát triển kinh tế gia đình, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn minh.
Bảo tồn văn hóa cần gắn chặt với phát triển sinh kế, nhất là du lịch cộng đồng, để người dân vừa gìn giữ bản sắc, vừa nâng cao thu nhập, từ đó tạo động lực lâu dài cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa.
Phát triển không chỉ là có thêm cái mới, mà còn là giữ gìn và phát huy được những giá trị tốt đẹp vốn có của mình.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành và các cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.
Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, gắn chặt với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của địa phương, của đất nước.
Chính phủ cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách về văn hóa theo hướng đồng bộ, sát thực tiễn.
Ưu tiên nguồn lực cho văn hóa cơ sở, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, bảo đảm văn hóa thực sự đi vào đời sống, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội...