Mục Lục
ToggleNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giảm lãi suất huy động 0,5%/năm kể từ ngày 13.4. Cụ thể, lãi suất đối với kỳ hạn có lãi suất huy động cao nhất (kỳ hạn 24 tháng) được điều chỉnh giảm 0,5%/năm xuống mức 6%/năm; các kỳ hạn khác sẽ được tiếp tục rà soát để điều chỉnh phù hợp. Với điều chỉnh này, lãi suất huy động tại tất cả các kỳ hạn của Vietcombank đều không vượt quá mức 6%/năm. Theo Vietcombank, giảm lãi suất huy động sẽ giúp các ngân hàng từng bước tối ưu chi phí vốn đầu vào, gia tăng dư địa cho việc giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất – kinh doanh.
Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) giảm lãi suất huy động với mức giảm từ 0,3% đến 0,5% bắt đầu từ ngày 11.4 tùy theo kỳ hạn. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,45 – 6,65%/năm; kỳ hạn từ 15 tháng đến 36 tháng giảm mạnh 0,5%/năm, còn 6,45%/năm.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn 6 – 36 tháng với mức giảm từ 0,3 – 0,5%/năm. Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 – 9 tháng giảm 0,5%/năm, xuống còn 6,1%/năm; kỳ hạn 10 – 24 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,3%/năm. Riêng kỳ hạn 36 tháng được điều chỉnh giảm 0,5%/năm, xuống mức 5,6%/năm kể từ hôm nay.
Động thái giảm lãi suất của các ngân hàng sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chiều 9.4. Theo định hướng của NHNN, các ngân hàng thương mại đồng thuận cao việc giảm mặt bằng lãi suất huy động nhằm tạo dư địa hạ chi phí vốn cho vay cho nền kinh tế, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp và người dân.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/ngan-hang-dong-loat-giam-lai-suat-tiet-kiem-05-nam-185260410163515804.htm
Đề nghị thương nhân đầu mối, phân phối xăng dầu 'không găm hàng chờ tăng giá'

Bộ Công thương cho biết đã và đang triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo đảm mục tiêu cung ứng đủ xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuy vậy, để bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu cho nền kinh tế trong thời gian tới, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đề nghị các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, thương nhân phân phối xăng dầu trong tháng 4 phải bảo đảm việc nhập khẩu, mua nhà máy sản xuất trong nước tháng 4; tiếp tục đa dạng hóa nguồn nhập khẩu xăng dầu, khẩn trương xây dựng ngay kế hoạch nhập khẩu xăng dầu tháng 5.
Đặc biệt, thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối xăng dầu "tuyệt đối không găm hàng chờ tăng giá, tuyệt đối không để gián đoạn nguồn cung xăng dầu trong hệ thống kinh doanh, từ thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối, cửa hàng bán lẻ xăng dầu".
"Trong mọi tình huống phải cung cấp đủ xăng dầu cho cửa hàng bán lẻ thuộc hệ thống phân phối của thương nhân để duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên", công văn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, các thương nhân phải chú trọng chia sẻ nguồn cung, chia sẻ lợi nhuận trong hệ thống phân phối một cách hợp lý để đảm bảo không bị gián đoạn việc cung ứng xăng dầu cho thị trường. Bố trí đủ nhân lực, tổ chức trực hoặc tăng ca để duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên, liên tục cho thị trường.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cũng yêu cầu thương nhân xăng dầu thực hiện nghiêm túc, đầy đủ tổng nguồn xăng dầu tối thiểu năm 2026 đã được phân giao (cả về số lượng, chủng loại) cũng như chủ động dự báo tình hình, xây dựng kế hoạch ứng phó và đa dạng hóa nguồn cung cả trong nước và nhập khẩu. Nghiêm túc dự trữ xăng dầu theo quy định, bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu cho thị trường trong nước trong mọi tình huống.
Bộ Công thương sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho thị trường, giám sát việc nhập khẩu, mua nhà máy sản xuất trong nước, dự trữ lưu thông của các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, thương nhân phân phối xăng dầu và sẽ xử lý nghiêm các hành vi vi phạm (nếu có).
Kinh tế Việt Nam kiên cường vượt bão tố

Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý 1/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý 1/2025 tăng 7,07%). Đây cũng là mức tăng GDP quý đầu năm cao nhất trong vòng 10 năm qua. Đáng chú ý, những lĩnh vực vốn được đánh giá sẽ chịu tác động trực tiếp ngay khi chiến sự tại Trung Đông nổ ra vẫn có sự bứt phá ngoạn mục. Trong đó, hoạt động xuất khẩu vẫn tăng cao bất chấp cước phí logistics nhảy vọt. Cụ thể, cước container đi Mỹ và EU tăng gấp 2 - 3 lần so với trước đó nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 vẫn tăng đến 40,3% so với tháng 2 và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đưa xuất khẩu cả nước trong quý đầu năm đạt 122,93 tỉ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tương tự, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự đảo chiều ngoạn mục. Nếu như tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký chỉ đạt khoảng 2,57 tỉ USD, giảm so với cùng kỳ năm trước và tổng cộng sau 2 tháng chỉ đạt hơn 6 tỉ USD thì bước sang tháng 3, vốn FDI nhảy vọt. Tổng cộng cả quý 1, VN thu hút vốn FDI đạt 15,2 tỉ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đà tăng của tổng số vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện trong 3 tháng đầu năm đạt 5,41 tỉ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 3 tháng đầu năm trong 5 năm qua, tiếp tục giữ vững mức đỉnh liên tục cao nhất trong 5 năm trở lại đây của vốn giải ngân. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới gia tăng, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên tối ưu hóa chuỗi cung ứng hiện hữu và đánh giá lại kế hoạch mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó VN vẫn được đánh giá là điểm đến có sức hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và vị trí thuận lợi trong chuỗi sản xuất khu vực.
Một lĩnh vực giữ vững phong độ dù bị tác động trực tiếp là du lịch. Số liệu công bố cho thấy trong tháng 3, VN đón gần 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đánh dấu lần đầu tiên 3 tháng liên tiếp VN vượt mốc 2 triệu lượt khách quốc tế. Tổng cả quý 1, VN đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức cao nhất trong quý 1 từ trước đến nay. Tuy nhiên, nếu chỉ nói về mức tăng số lượng khách nước ngoài là chưa đủ bởi việc duy trì ở mức cao liên tục trong tháng 3 cho thấy trong mắt du khách, VN vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn. Con số này càng trở nên ý nghĩa khi trong tháng 3, hàng loạt chuyến bay quốc tế bị hoãn, hủy cũng như giá vé máy bay nhảy vọt khiến nhiều người phải thay đổi kế hoạch du lịch. Thế nhưng, khách quốc tế đến VN vẫn tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ trong những tháng đầu năm...
Chuyên gia kinh tế, đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhận định kết quả tăng trưởng ấn tượng quý 1/2026 của VN không đến một cách tự nhiên mà là kết quả của quá trình cải cách, chuẩn bị trong thời gian vừa qua. Đó là cải cách thể chế, thực hiện chính quyền theo mô hình 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp phân quyền cho địa phương. "Xuất phát từ khát vọng, niềm tin của người dân từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất, kỷ niệm 80 năm thành lập nước, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới cũng góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Hơn nữa, kết quả đó cũng thể hiện sự điều hành sát sao, kịp thời của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới lên cao trong đầu năm nay", ông Trần Hoàng Ngân lý giải.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia Đông Nam Á lao đao vì cú sốc năng lượng khi chiến sự tại Trung Đông bùng nổ từ cuối tháng 2, VN nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi giữa cơn khủng hoảng được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong nhiều thập niên khi giữ ổn định thị trường xăng dầu, duy trì nguồn cung năng lượng cho các hoạt động kinh tế - xã hội…
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, từ đầu tháng 3 đến nay, tình hình thế giới bắt đầu có những biến động lớn. Căng thẳng tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Iran và Mỹ - Israel đã tạo ra nguy cơ khủng hoảng năng lượng. Giá dầu thô tăng cực mạnh, chi phí logistics, phí bảo hiểm hàng hóa và chi phí vận chuyển đều tăng vọt. Nhờ Chính phủ có những chính sách kịp thời như giảm thuế, phí liên quan đến xăng dầu, sử dụng Quỹ bình ổn để bình ổn giá nhiên liệu, kịp thời cắt đứt tâm lý kỳ vọng lạm phát và tình trạng đầu cơ, tích trữ. "Chính sách phản ứng linh hoạt, đồng bộ đã giúp kinh tế trong nước vượt qua cú sốc lớn từ thế giới. Đồng thời, việc tiếp tục triển khai tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, các dự án tồn đọng hay giải ngân đầu tư công đã mang lại kết quả rõ nét. Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ và sự đồng lòng của các địa phương, nhất là những đầu tàu kinh tế như TP.HCM, Hà Nội… chúng ta đã đạt được kết quả tích cực. Nếu không có cú sốc từ chiến sự ở khu vực Trung Đông, tăng trưởng kinh tế VN trong quý đầu năm nay có thể còn tăng cao hơn, vượt 8%", PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) cũng đánh giá rất cao quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Bộ Chính trị. Bởi VN đã trải qua 40 năm đổi mới với nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn thiếu những đột phá mang tính bước ngoặt, khiến nền kinh tế chưa thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình. Nếu tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện nay, phải cần thêm hàng chục năm để hình thành nền công nghiệp hiện đại. Chưa kể, các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" đang hội tụ, nếu không kịp nắm bắt, cơ hội này sẽ khó lặp lại.
Với tinh thần đó, Chính phủ đã có ứng biến rất nhanh, rất linh hoạt trước cơn bão giá nhiên liệu bất ngờ ập tới. Mặc dù đã tích lũy được sức mạnh nội sinh vững chắc, song, với đặc thù phụ thuộc một phần vào năng lượng nhập khẩu, VN khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn cơ bản được bảo đảm, chuỗi cung ứng duy trì thông suốt, góp phần giảm áp lực lên sản xuất, kinh doanh và chi phí sinh hoạt của người dân. Một loạt quyết sách thuế mang tính "phòng thủ" và "trợ lực" rất mạnh mẽ, thậm chí hiếm thấy, như rút ngắn chu kỳ điều hành giá xăng dầu, đã được ban hành thần tốc, không chỉ giúp bình ổn tâm lý thị trường mà còn trực tiếp kiềm chế lạm phát trong bối cảnh áp lực chi phí đầu vào tăng cao. Đặc biệt, Chỉ thị 09 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện được PGS-TS Nguyễn Thường Lạng ví như "cơn mưa đúng lúc", giúp định hướng rõ ràng cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc ứng phó thách thức trước mắt, đồng thời chuẩn bị cho chiến lược dài hạn.
"Việc tăng cường tiết kiệm năng lượng được xem là giải pháp "hai trong một" khi vừa giúp giảm áp lực lên nguồn cung, vừa trực tiếp cắt giảm chi phí cho nền kinh tế. Có thể thấy, từ các biện pháp ngắn hạn đến định hướng dài hạn về cung ứng, dự trữ nguyên, nhiên liệu, các quyết định đều được đưa ra rất nhanh, linh hoạt, bám sát thực tiễn. Các quyết sách không chỉ hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong biến động ngắn hạn của thị trường năng lượng mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo đất nước tiến tới một mô hình tăng trưởng bền vững hơn trong tương lai", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhận xét.
Kết quả tăng trưởng quý 1 khả quan nhưng các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng trong quý 2/2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động từ các biến động địa chính trị thế giới, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Với sự kiên định từ Đảng và Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên thì nhiệm vụ của các quý còn lại trong năm rất nặng nề. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng lưu ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phải phối hợp nhịp nhàng, vừa định hướng, vừa khuyến khích phát triển, phù hợp chiến lược tăng trưởng của đất nước. Cách triển khai cũng phải linh hoạt, nới lỏng có kiểm soát để vừa thúc đẩy sản xuất và đầu tư, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, cần tập trung thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Các công cụ như thuế, chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư công, phải được sử dụng hiệu quả, có trọng tâm, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn.
Quan trọng hơn, cần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, nhất là về công nghệ; nếu phụ thuộc vào bên ngoài sẽ khó đạt tốc độ phát triển nhanh và bền vững. Chính sách tài khóa, tiền tệ cần hướng tới xây dựng năng lực nội sinh vững mạnh, từ công nghệ, mô hình phát triển đến nguồn lực và phương thức tổ chức. Nhà nước cần nhanh chóng đầu tư mạnh mẽ vào khoa học, công nghệ, tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, đặc biệt là 11 công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ trọng điểm. Sau đó, ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, dịch vụ và đời sống. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất, hiệu quả và xây dựng mô hình phát triển thông minh, bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung vào "đại dự án", "đại tập đoàn" và "đại vùng kinh tế" có sức lan tỏa lớn, khả năng kết nối mạng lưới rộng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và cập nhật xu hướng công nghệ, phát triển toàn cầu. Những dự án trọng điểm sẽ trở thành hạt nhân dẫn dắt, tạo mô hình phát triển thông minh, sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh: "Đây sẽ là những "động lực của động lực", dẫn dắt VN bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới với tốc độ và hiệu quả chưa từng có".
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng để đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng cao đã đề ra, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phân cấp phân quyền cho các địa phương. Chính phủ phải có niềm tin và để địa phương quyết, địa phương làm và địa phương tự chịu trách nhiệm. Việc này song hành với hoàn thiện thể chế sẽ tháo gỡ được các điểm nghẽn lâu nay của nền kinh tế. Từ đó giúp các bộ ngành hay tỉnh, thành tránh được tình trạng có tiền nhưng không tiêu được, các dự án đầu tư công sẽ được triển khai kịp thời, đúng tiến độ. Đặc biệt, Chính phủ cần triển khai kịp thời 3 đột phá chiến lược đã đề ra tại Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đó là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, đột phá về nguồn nhân lực và đột phá về hạ tầng. Đồng thời, phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số vẫn là chiến lược xuyên suốt để tạo động lực cho các ngành kinh tế tăng tốc đi lên. Song song đó, Chính phủ cũng cần bám sát các nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành trong điều hành kinh tế - xã hội. Tất cả những hoạt động cần phải được thực hiện nhanh hơn, thực chất hơn để tạo ra sự đồng lòng của cả nước. Từ đó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, thực chất và bền vững mà Đảng đã đề ra.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/kinh-te-viet-nam-kien-cuong-vuot-bao-to-185260405224630168.htm
VIB chia cổ tức gần 19%

VIB sẽ chia trả cổ tức với tổng tỷ lệ gần 18,75% trong năm 2026. Cụ thể, VIB dự kiến trả cổ tức 9% bằng tiền mặt (tương đương gần 3.064 tỉ đồng), phát hành tỷ lệ 9,5% cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và 0,24% cổ phiếu theo chương trình ESOP. Về phương án tăng vốn điều lệ, VIB dự kiến phát hành thêm hơn 323 triệu cổ phiếu, tương đương tỷ lệ 9,5% cho cổ đông hiện hữu và phát hành 8 triệu cổ phiếu ESOP, tỷ lệ 0,24% cho người lao động. Nguồn sử dụng để tăng vốn điều lệ gồm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ căn cứ trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán. Sau phát hành, vốn điều lệ của VIB sẽ tăng từ 34.040 tỉ đồng lên gần 37.354 tỉ đồng.
Ngoài lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 9.105 tỉ đồng, tăng 1% so với năm 2024, ROE đạt 16,5%. Ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch HĐQT VIB thông tin trước đại hội về tổng tài sản VIB năm 2025 đạt 556.000 tỉ đồng, tăng 13% so với năm 2024, lần đầu tiên trong lịch sử VIB vượt mốc nửa triệu tỉ đồng. Dư nợ tín dụng đạt 382.000 tỉ đồng, tăng 18%. Tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 330.000 tỉ đồng, tăng 10%. Tỷ lệ nợ xấu giảm còn 2,2%, giảm 20 điểm cơ bản so với mức 2,4% năm 2024. Đây là mức thấp nhất trong giai đoạn 2023 - 2025. Hơn 90% danh mục tín dụng bán lẻ là các khoản vay có tài sản bảo đảm. Tỷ lệ an toàn vốn theo Basel III, VIB đã hoàn tất Basel III theo phương pháp tiêu chuẩn trước lộ trình ngành, hệ số CAR đạt 12,2% cho thấy bảng cân đối của chúng ta vừa có khả năng chịu đựng áp lực, vừa hỗ trợ tăng trưởng.
Khối ngân hàng bán lẻ vẫn là động cơ tăng trưởng chính và lợi thế cạnh tranh. Dư nợ bán lẻ đạt gần 273.000 tỉ đồng, chiếm 70% tổng dư nợ, thuộc nhóm tỷ trọng bán lẻ cao nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Năm 2025, VIB chính thức gia nhập "câu lạc bộ triệu thẻ" với hơn 1,1 triệu thẻ lưu hành, tăng 29%. Tổng chi tiêu qua thẻ lần đầu tiên vượt 5 tỉ USD, tăng 19%. Đây là mức chi tiêu thực tế, phản ánh tần suất sử dụng cao, không phải chỉ sở hữu thẻ rồi để trong ví. Thu nhập phí từ thẻ và dịch vụ bán lẻ vượt 2.000 tỉ đồng, tăng 21%. VIB cải thiện cơ cấu doanh thu, tổng thu nhập ngoài lãi vượt 3.500 tỉ đồng, chiếm 24% tổng thu nhập hoạt động. 97% tổng giao dịch của khách hàng cá nhân hiện được thực hiện qua kênh số. Giao dịch số đạt gần 680 triệu giao dịch, tăng 30% so với cùng kỳ. Tổng giá trị giao dịch số đạt 4,6 triệu tỉ đồng, tăng 26%. Đối với khối khách hàng doanh nghiệp, dư nợ tín dụng doanh nghiệp tăng 58% so với cùng kỳ. Thu nhập phí tăng 280%. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của khối doanh nghiệp tăng 20%.
Ông Đặng Khắc Vỹ cho biết: "Năm 2026 là năm chuyển tiếp, khép lại VIB 2.0 và là bệ phóng cho VIB 3.0 (2027 - 2036) kể từ ngày 1.1.2027. Trong đó, định hướng VIB trở thành ngân hàng bán lẻ, không chỉ là ngân hàng vay tiền, mà là ngân hàng giao dịch, tiết kiệm, đầu tư và bảo vệ tài chính xuyên suốt vòng đời của mỗi người. VIB sẽ tiếp tục đà tăng trưởng một cách chọn lọc đối với mảng ngân hàng doanh nghiệp, không chạy theo tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đơn thuần. VIB đưa ra kế hoạch năm 2026 tổng tài sản tăng 15%, lên 637.826 tỉ đồng; dư nợ tín tăng 15%, lên 439.279 tỉ đồng; huy động tăng 26%, lên 415.968 tỉ đồng. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng cũng tăng 18%, lên 55.369 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng 27%, lên 11.550 tỉ đồng và tỷ lệ nợ xấu dưới 3%".
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/vib-chia-co-tuc-gan-19-185260408122410748.htm




