Chia sẻ thông tin tại cuộc họp báo thường kỳ Bộ Công thương ngày 9.4, ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng Kinh doanh xăng dầu và khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, đã giải thích về quyết định điều hành giá xăng dầu lúc nửa đêm trong một số kỳ điều hành vừa qua.
Ông Tuấn khẳng định, điều hành giá xăng dầu tuân thủ quy định tại Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6.3 của Chính phủ điều chỉnh thời gian điều hành giá xăng dầu khi giá thị trường thế giới tăng từ 7% nhằm bám sát giá xăng dầu thế giới và Nghị quyết số 55/NQ-CP ngày 19.3 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 36/NQ-CP khi giá thị trường thế giới tăng từ 15% trở lên và giảm từ 10% thì ra quyết định điều hành.
Theo đó, điều hành giá xăng dầu vào thời điểm nửa đêm trong một số kỳ “bất thường” xuất phát từ yêu cầu bám sát diễn biến thị trường thế giới và bảo đảm hiệu lực áp dụng đồng bộ trên toàn hệ thống.
Ông Nguyễn Anh Tuấn dẫn chứng 3 lý do để liên bộ Công thương – Tài chính ra quyết định điều hành giá xăng dầu vào nửa đêm.
Thứ nhất, giá xăng dầu thế giới thường biến động liên tục và chốt theo chu kỳ giao dịch quốc tế. Do đó, việc điều hành vào cuối ngày giúp cơ quan quản lý cập nhật đầy đủ dữ liệu giá mới nhất, từ đó xác định mức giá cơ sở sát thực tế, hạn chế độ trễ chính sách.
Thứ hai, nửa đêm là thời điểm phù hợp để triển khai đồng loạt trên toàn quốc, tránh xáo trộn hoạt động kinh doanh trong giờ cao điểm, đồng thời hạn chế tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc mua bán tranh thủ chênh lệch giá trước và sau điều chỉnh.
Thứ ba, trong các kỳ điều hành “bất thường”, khi thị trường biến động nhanh, việc lựa chọn thời điểm này nhằm bảo đảm phản ứng chính sách kịp thời, góp phần ổn định tâm lý thị trường và kiểm soát tác động lan tỏa.
Tuy nhiên, Bộ Công thương cũng ghi nhận ý kiến về sự bất tiện đối với người dân và doanh nghiệp. Trong thời gian tới, bộ sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế điều hành, trong đó nghiên cứu khả năng điều chỉnh khung giờ công bố giá theo hướng phù hợp hơn, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước, tính minh bạch và điều kiện thực tiễn của thị trường.
“Quan điểm chung là tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, minh bạch, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý và ổn định thị trường”, ông Tuấn nói.
Cũng theo Bộ Công thương, trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông làm gia tăng biến động nhanh và khó lường của giá dầu thế giới, bộ này đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành điều hành giá xăng dầu theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến thực tế và kịp thời điều chỉnh tần suất điều hành.
Bên cạnh chu kỳ điều hành định kỳ, trong những thời điểm thị trường biến động mạnh, cơ quan quản lý đã chủ động rút ngắn khoảng cách giữa các kỳ điều hành, thậm chí thực hiện điều chỉnh giá với tần suất cao hơn, trong đó có điều hành theo ngày, nhằm phản ứng nhanh với biến động giá thế giới, hạn chế độ trễ chính sách; giảm thiểu tác động lan tỏa đột ngột đến thị trường trong nước; ổn định tâm lý doanh nghiệp và người dân, tránh hiện tượng đầu cơ, găm hàng.
Ngoài ra, các công cụ điều hành như Quỹ bình ổn giá xăng dầu và chính sách thuế, phí được sử dụng đồng bộ, có trọng tâm để “làm mềm” các cú sốc giá, đặc biệt trong những giai đoạn giá thế giới tăng mạnh.
Bộ Công thương khẳng định, việc điều hành giá xăng dầu trong thời gian qua vừa linh hoạt cả về công cụ và tần suất đã góp phần quan trọng trong việc hạn chế biến động bất thường của giá xăng dầu trong nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong điều kiện thị trường năng lượng toàn cầu còn nhiều biến động, qua đó hỗ trợ kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo đề xuất của nhà đầu tư, dự án đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) dài khoảng 17,8 km, có điểm đầu kết nối cầu Thủ Thiêm 4 và điểm cuối tại khu vực quốc lộ 1.
Về quy mô, dự án dự kiến xây dựng cầu cạn 6 làn xe dọc dải phân cách giữa của đường Nguyễn Văn Linh hiện hữu. Dọc tuyến sẽ bố trí các nút giao tại những vị trí quan trọng như Vành đai 2 nhánh phía tây, Vành đai trong, đường Phạm Hùng, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ, quốc lộ 50 và quốc lộ 1. Thời gian đầu tư dự kiến từ 2026 - 2029.
Theo Sở Xây dựng TP.HCM, về quy hoạch, đường Nguyễn Văn Linh (thuộc Vành đai 2) có lộ giới 120m, quy mô từ 6 - 14 làn xe. Trục được định hướng là một trong 10 tuyến đường trục chính đô thị ít gián đoạn, chủ yếu giao cắt khác mức để đảm bảo kết nối nhanh từ trung tâm ra vành đai, cao tốc liên vùng và ngược lại.
Như vậy, đề xuất nghiên cứu của nhà đầu tư cơ bản phù hợp với định hướng, nguyên tắc quy hoạch và là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu quy mô, dạng thức nút giao và giải pháp công trình.
Bên cạnh đó, tuyến đường Nguyễn Văn Linh là trục giao thông chính kết nối khu vực phía tây với phía đông TP.HCM, song trên tuyến vẫn tồn tại nhiều nút giao cùng mức, tiềm ẩn nguy cơ ùn tắc khi lưu lượng tăng cao.
Mặt khác, mạng lưới giao thông nối với đường Nguyễn Văn Linh đang có hàng loạt dự án đang và sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2026 - 2030, như mở rộng quốc lộ 1, quốc lộ 50, đường trục Bắc - Nam, cao tốc Bến Lức - Long Thành, cùng các cầu Thủ Thiêm 4, Nguyễn Khoái và cầu đường Bình Tiên...
TP.HCM cũng đang nghiên cứu đầu tư Trung tâm Chính trị - Hành chính tại Thủ Thiêm, mở rộng đường Nguyễn Tất Thành và phát triển khu cảng Nhà Rồng - Khánh Hội, Mũi Đèn Đỏ thành bến tàu khách quốc tế.
Các dự án này khi hoàn thành sẽ dồn lưu lượng lớn về trục Nguyễn Văn Linh. Do đó, Sở Xây dựng đánh giá việc nghiên cứu năng lực thông hành để đề xuất giải pháp đầu tư, nâng cấp đường này là rất cần thiết.
Từ những phân tích trên, Sở Xây dựng đề nghị Sở Tài chính tham mưu UBND TP.HCM xem xét giao nhà đầu tư lập hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư. Trường hợp được chấp thuận, nhà đầu tư cần phối hợp với các cơ quan liên quan, trong đó có Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng, để làm rõ trách nhiệm đối với tuyến Nguyễn Văn Linh hiện hữu, xác định phạm vi, thời điểm và phương án đầu tư, tránh trùng lặp.
Hiện tuyến đường Nguyễn Văn Linh do Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng quản lý, khai thác. Theo giấy phép đầu tư cấp năm 1993, doanh nghiệp này có trách nhiệm đầu tư hoàn thiện tuyến đường và đến tháng 4.2028 sẽ bàn giao cho TP.HCM khai thác, quản lý.
Cụ thể, tại dự thảo này, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm của hệ thống điện quốc gia tính từ tháng 1 - 4 và từ tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm tính từ 14 - 19 giờ (5 giờ) trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy; từ tháng 5 - 8, khung giờ cao điểm từ 14 giờ 30 - 16 giờ 30 và từ 19 giờ 30 đến 22 giờ 30 (5 giờ) trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy.
Ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ thấp điểm áp dụng từ 0 - 6 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (6 giờ).
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày (13 giờ/ngày đối với các ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 giờ/ngày đối với ngày chủ nhật).
Theo Thông tư 16/2014 của Bộ Công thương, thời gian sử dụng điện trong ngày được quy định từ thứ hai đến thứ bảy như sau:
Khung giờ cao điểm từ thứ hai đến thứ bảy vào các khung giờ như sau: từ 9 giờ 30 - 11 giờ 30 (2 giờ) và từ 17 - 20 giờ (3 giờ).
Khung giờ thấp điểm từ 22 - 4 giờ sáng ngày hôm qua (6 giờ) và chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường có 3 khung giờ từ thứ hai đến thứ bảy gồm: từ 4 - 9 giờ 30 phút (5 giờ 30 phút), từ 11 giờ 30 đến 17 giờ ( 5 giờ 30 phút), từ 20 - 22 giờ (2 giờ); ngày chủ nhật có 18 giờ thấp điểm, từ 4 - 22 giờ.
Quy định về khung giờ nói trên theo Thông tư 16 đã được áp dụng 12 năm qua.
Theo Bộ Công thương, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế và yêu cầu nâng cao hiệu quả vận hành toàn hệ thống điện. Từ năm 2019, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Đồng thời, cơ cấu các thành phần phụ tải cũng có sự thay đổi lớn, khi thành phần phụ tải công nghiệp tăng từ xấp xỉ 30% đến hơn 50% tổng phụ tải, thành phần phụ tải dân dụng - sinh hoạt giảm từ khoảng 50% xuống còn xấp xỉ 33% đã làm thay đổi đáng kể biểu đồ phụ tải.
Do đó, trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời và điện gió, việc điều chỉnh khung giờ là cần thiết để phản ánh đúng đặc điểm cung-cầu điện năng trong bối cảnh mới.
Bộ Công thương cũng cho rằng, việc xác định hợp lý các khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia cũng góp phần nâng cao hệ số phụ tải điện (tỷ lệ giữa điện năng sử dụng với công suất cực đại), giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Thông qua cơ chế giá điện theo khung giờ, các khách hàng sẽ có động cơ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện để giảm chi phí mua điện; giảm sử dụng vào giờ cao điểm và chuyển dịch sang khung giờ thấp điểm, giờ bình thường. Điều này giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải, giảm chênh lệch giữa công suất cực đại và công suất trung bình, nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn điện, giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm.
Với các hệ thống điện có tỷ lệ năng lượng tái tạo đáng kể như Việt Nam, thiết kế khung giờ cao điểm ngược với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo (lệch khỏi khung giờ có nguồn năng lượng tái tạo đang phát cao và/hoặc trùng vào thời điểm các nguồn năng lượng tái tạo đang giảm) sẽ tạo động lực để các khách hàng phát triển thiết bị lưu trữ công suất nhằm tự cân đối lại nguồn phát năng lượng tái tạo vào những thời điểm hệ thống cần bổ sung nguồn.
Theo quy định tại Quyết định số 14/2025 của Thủ tướng Chính phủ, cơ chế giá điện theo khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường của hệ thống điện được áp dụng cho các thành phần phụ tải điện sản xuất và kinh doanh (công nghiệp, thương mại - dịch vụ, nhà hàng - khách sạn...) còn thành phần phụ tải điện sinh hoạt được tính giá theo bậc thang tăng dần. Do đó, việc áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường của hệ thống điện sẽ chỉ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng của phụ tải điện sản xuất và kinh doanh.
Bộ Công thương cũng cho biết, qua phân tích biểu đồ thành phần phụ tải điện, công suất phụ tải công nghiệp khá cao (công suất tải công nghiệp thấp nhất thậm chí vẫn cao hơn công suất tải Sinh hoạt cao nhất). Như vậy, khi quy định khung giờ cao điểm vào cao điểm của phụ tải sinh hoạt sẽ tác động dịch chuyển hành vi sử dụng điện của các khách hàng sản xuất - kinh doanh (nhất là công nghiệp) sang các khung giờ khác, nhường công suất nguồn cho phụ tải sinh hoạt.
VIB sẽ chia trả cổ tức với tổng tỷ lệ gần 18,75% trong năm 2026. Cụ thể, VIB dự kiến trả cổ tức 9% bằng tiền mặt (tương đương gần 3.064 tỉ đồng), phát hành tỷ lệ 9,5% cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và 0,24% cổ phiếu theo chương trình ESOP. Về phương án tăng vốn điều lệ, VIB dự kiến phát hành thêm hơn 323 triệu cổ phiếu, tương đương tỷ lệ 9,5% cho cổ đông hiện hữu và phát hành 8 triệu cổ phiếu ESOP, tỷ lệ 0,24% cho người lao động. Nguồn sử dụng để tăng vốn điều lệ gồm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ căn cứ trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán. Sau phát hành, vốn điều lệ của VIB sẽ tăng từ 34.040 tỉ đồng lên gần 37.354 tỉ đồng.
Ngoài lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 9.105 tỉ đồng, tăng 1% so với năm 2024, ROE đạt 16,5%. Ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch HĐQT VIB thông tin trước đại hội về tổng tài sản VIB năm 2025 đạt 556.000 tỉ đồng, tăng 13% so với năm 2024, lần đầu tiên trong lịch sử VIB vượt mốc nửa triệu tỉ đồng. Dư nợ tín dụng đạt 382.000 tỉ đồng, tăng 18%. Tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 330.000 tỉ đồng, tăng 10%. Tỷ lệ nợ xấu giảm còn 2,2%, giảm 20 điểm cơ bản so với mức 2,4% năm 2024. Đây là mức thấp nhất trong giai đoạn 2023 - 2025. Hơn 90% danh mục tín dụng bán lẻ là các khoản vay có tài sản bảo đảm. Tỷ lệ an toàn vốn theo Basel III, VIB đã hoàn tất Basel III theo phương pháp tiêu chuẩn trước lộ trình ngành, hệ số CAR đạt 12,2% cho thấy bảng cân đối của chúng ta vừa có khả năng chịu đựng áp lực, vừa hỗ trợ tăng trưởng.
Khối ngân hàng bán lẻ vẫn là động cơ tăng trưởng chính và lợi thế cạnh tranh. Dư nợ bán lẻ đạt gần 273.000 tỉ đồng, chiếm 70% tổng dư nợ, thuộc nhóm tỷ trọng bán lẻ cao nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Năm 2025, VIB chính thức gia nhập "câu lạc bộ triệu thẻ" với hơn 1,1 triệu thẻ lưu hành, tăng 29%. Tổng chi tiêu qua thẻ lần đầu tiên vượt 5 tỉ USD, tăng 19%. Đây là mức chi tiêu thực tế, phản ánh tần suất sử dụng cao, không phải chỉ sở hữu thẻ rồi để trong ví. Thu nhập phí từ thẻ và dịch vụ bán lẻ vượt 2.000 tỉ đồng, tăng 21%. VIB cải thiện cơ cấu doanh thu, tổng thu nhập ngoài lãi vượt 3.500 tỉ đồng, chiếm 24% tổng thu nhập hoạt động. 97% tổng giao dịch của khách hàng cá nhân hiện được thực hiện qua kênh số. Giao dịch số đạt gần 680 triệu giao dịch, tăng 30% so với cùng kỳ. Tổng giá trị giao dịch số đạt 4,6 triệu tỉ đồng, tăng 26%. Đối với khối khách hàng doanh nghiệp, dư nợ tín dụng doanh nghiệp tăng 58% so với cùng kỳ. Thu nhập phí tăng 280%. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của khối doanh nghiệp tăng 20%.
Ông Đặng Khắc Vỹ cho biết: "Năm 2026 là năm chuyển tiếp, khép lại VIB 2.0 và là bệ phóng cho VIB 3.0 (2027 - 2036) kể từ ngày 1.1.2027. Trong đó, định hướng VIB trở thành ngân hàng bán lẻ, không chỉ là ngân hàng vay tiền, mà là ngân hàng giao dịch, tiết kiệm, đầu tư và bảo vệ tài chính xuyên suốt vòng đời của mỗi người. VIB sẽ tiếp tục đà tăng trưởng một cách chọn lọc đối với mảng ngân hàng doanh nghiệp, không chạy theo tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đơn thuần. VIB đưa ra kế hoạch năm 2026 tổng tài sản tăng 15%, lên 637.826 tỉ đồng; dư nợ tín tăng 15%, lên 439.279 tỉ đồng; huy động tăng 26%, lên 415.968 tỉ đồng. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng cũng tăng 18%, lên 55.369 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng 27%, lên 11.550 tỉ đồng và tỷ lệ nợ xấu dưới 3%".