Mục Lục
ToggleThông tin được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tại Hội nghị thông tin tuyển sinh đại học, sáng 20/4.
Trong số hơn 681.000 thí sinh nhập học đại học, hơn 146.000 em chọn nhóm ngành Kinh doanh quản lý, tỷ lệ 21%. Đây là lĩnh vực được nhiều trường đào tạo, phổ biến là các ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính – Ngân hàng, Kế toán – Kiểm toán, Marketing,.. Tuy nhiên, so với năm 2024, tỷ lệ chọn nhóm ngành này đã giảm 4%.
Xếp sau là nhóm Công nghệ kỹ thuật với hơn 72.500 thí sinh nhập học, chiếm 10,6%, tăng hơn 1%. Trong đó, Bộ đánh giá có sự khởi sắc ở nhóm ngành công nghệ chiến lược, 44 ngành thuộc nhóm này tuyển được 150.400 thí sinh, chiếm 22%.
3 nhóm ngành có nhiều thí sinh chọn nhiều khác là Nhân văn (9,6%), Máy tính và công nghệ thông tin (9,2%), Sức khỏe (7,8%).
Năm ngoái, các trường đại học tuyển gần 760.000 sinh viên, số nhập học đạt khoảng 90%. Như vậy, trong 1,1 triệu thí sinh tốt nghiệp THPT, tỷ lệ vào đại học chiếm 59%.
Ba phương thức có nhiều thí sinh trúng tuyển nhất là xét điểm thi tốt nghiệp THPT (50%), học bạ (29%), xét kết hợp (15%).
Tin Gốc: Vnexpress

Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn KNI, chia sẻ như vậy với PV Báo Thanh Niên, bên lề một sự kiện liên quan giáo dục diễn ra tại TP.HCM hôm nay (9.4). Bà Oanh, vừa là cương vị một nhà làm quản lý, vừa một người mẹ của 3 người con - các con thế hệ X và thế hệ Z (Gen Z), chia sẻ những góc nhìn của bà về hành trình dạy con của những người làm cha mẹ.
Đặc biệt, hành trình này đặt trong bối cảnh công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay và sự giao tiếp trực tiếp của những người làm cha mẹ với con cái có vẻ như đang co hẹp lại. Có khi chỉ được nối qua màn hình của một chiếc điện thoại thông minh. Con cái - cha mẹ có khi vài ngày, không ăn cùng nhau một bữa cơm gia đình...
Bà Oanh cho biết dạy con, giáo dục thế hệ trẻ bây giờ khó gấp trăm ngàn lần ngày xưa. Vài chục năm trước, bối cảnh chung là kinh tế còn nhiều thiếu thốn, trẻ em tự tìm tòi những trò chơi, tự học hỏi, nuôi dưỡng nhiều động lực học tập để vươn lên. Bây giờ trẻ từ nhỏ đã có điều kiện tốt, các em được tiếp xúc với công nghệ từ khi nằm nôi, thậm chí từ trong bụng mẹ, xã hội quá nhiều tiện nghi, thì dạy trẻ em thế nào, giáo dục ra sao cho trẻ để các em có tinh thần nỗ lực, tinh thần vượt khó để cố gắng?
"Thời vượt khổ chỉ cần no cơm, ấm áo là vui rồi. Còn bây giờ cuộc sống quá đủ đầy rồi, dạy trẻ về sự nỗ lực, khát vọng, cũng nhiều thách thức hơn. Nên nói dạy trẻ thời "vượt sướng" khó hơn khi vượt khổ", bà Oanh chiêm nghiệm.
Bà Oanh cho rằng, bằng quan sát của mình, bà nhận thấy trong thời đại công nghệ, con người ít giao tiếp trực tiếp cùng nhau mà co cụm trong thế giới riêng của mìn. Không chỉ trong quán cà phê người ta mới thấy mỗi người một góc ôm laptop, điện thoại mà ngay trong gia đình, nhiều khi trong bàn ăn mà mỗi người một cái điện thoại, vừa ăn vừa xem.
Chắc nhiều người cũng thấy, nhiều bạn trẻ bây giờ ít chào hỏi, ít quan tâm mọi người. Nhờ công nghệ - các bạn thấy đầy đủ - khi được tiếp cận với cả thế giới, làm việc với người nước ngoài, ở bất cứ đâu...
"Thách thức lớn nhất bây giờ trong giáo dục lớp trẻ, không phải là vượt khó, mà là giáo dục cho trẻ sống không co cụm, đừng lui vào thế giới cá nhân của mình, mà các em cần hòa đồng, biết quan tâm tới thế giới xung quanh, mọi người xung quanh", bà Oanh chia sẻ.
Thế nhưng, trong tình hình ấy, bà cũng nhận thấy những nghịch lý tồn tại trong nhiều gia đình, khi trẻ con không được cha mẹ quan tâm cả về vật chất và tinh thần đúng nghĩa.
Có những đứa trẻ hết giờ học ở trường thì được gửi cho người giúp việc chăm nom, ông bà trông chừng. Các em lại thoải mái dùng điện thoại, các thiết bị công nghệ. Có những cha mẹ vì quá bận bịu làm việc, gặp gỡ đối tác, khách hàng..., lo công việc để có chi phí trang trải cho cuộc sống nên dù rất lý tưởng với lý thuyết "cha mẹ phải đồng hành cùng con lớn lên", họ vẫn không thể sắp xếp được thời gian, tâm trí, sức lực, trò chuyện với con, chơi với con, dạy con học và xa hơn là làm bạn cùng con...
Những trăn trở, suy ngẫm ấy, là một trong những lý do thôi thúc bà Oanh cùng những cộng sự tại KNI nghiên cứu, tìm hiểu tại Anh, mang mô hình trường nội trú Anh về Việt Nam. Ngày 7.3, Trường Ardingly College Việt Nam (phường Cam Đường, Lào Cai) chính thức hoạt động - mô hình trường nội trú Anh quốc chính thống tại Việt Nam, bắt đầu ra đời.
"Khi chúng tôi qua Anh tìm hiểu và được thấy, có những phụ huynh nhà chỉ cách trường nội trú vài bước chân nhưng họ vẫn cho con học nội trú. Chúng tôi hỏi vì sao, họ nói vì biết con sẽ được học ở trường nhiều cái tốt hơn, và trường nội trú sẽ quản lý con tốt hơn ở nhà", bà Oanh kể lại.
Bà Oanh tâm đắc với ngôi trường nội trú chuẩn Anh ở Lào Cai, nơi mà học sinh được rèn giũa kỷ luật, kỹ năng sống, rèn nền nếp, văn hóa, học được tinh thần tự lập, các em tự thiết kế cuộc sống của mình. Và đặc biệt, trong thời đại công nghệ, ngoài giờ học chính khóa và giờ tự học, trường có nhiều hoạt động. Điều này một cách tự nhiên "kéo" được học sinh khỏi các thiết bị công nghệ, như các hoạt động thể dục thể thao, nghệ thuật...
Sáng 9.4, Công ty Cổ phần Ardingly College Việt Nam phối hợp cùng Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã công bố gói tài chính để phụ huynh hoặc các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hỗ trợ cho đội ngũ nhân sự cao cấp có điều kiện cho con theo học. Theo đó, với một khoản tiền gửi tiết kiệm ban đầu, tùy theo chọn lựa về thời gian, chương trình và hình thức học tập, phụ huynh sẽ được phía ngân hàng đảm bảo thanh toán học phí và các khoản phí liên quan. Sau khi học sinh hoàn tất chương trình học theo hợp đồng, phụ huynh sẽ nhận lại toàn bộ vốn gốc gửi tiết kiệm ban đầu cùng phần lãi tích lũy còn lại, nếu có - tùy theo chọn lựa của phụ huynh.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/day-con-thoi-vuot-suong-kho-hon-vuot-kho-185260409180513662.htm

Nội dung trên được đề cập tại Thông tư về chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có hiệu lực trong tháng 4.
Theo đó, ngoài yêu cầu có bằng cao đẳng, đại học phù hợp với chuyên ngành và cấp học, giáo viên phải có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, tùy bậc học (mầm non, tiểu học, THCS, THPT).
Đây là yêu cầu bắt buộc, với cả giáo viên văn hóa và các môn Nghệ thuật, Giáo dục thể chất, Ngoại ngữ, Tin học, Công nghệ, Tiếng dân tộc thiểu số.
Chứng chỉ mới sẽ thay cho chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp theo hạng I, II, III hoặc theo bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông hiện nay. Song, những thầy cô được cấp chứng chỉ cũ trước ngày 31/12/2026 sẽ được xác định tương đương, không cần thi mới.
Trường hợp chưa có mà mới được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc thay đổi vị trí việc làm sau ngày Thông tư có hiệu lực, giáo viên phải học và có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp. Chương trình học kéo dài không quá 6 tuần, theo Nghị định 93 của Chính phủ.
Hiện cả nước có khoảng 1,05 triệu giáo viên mầm non, phổ thông hưởng lương từ ngân sách, từ 4,91 đến 15,87 triệu đồng, chưa gồm phụ cấp.
Trước đây, chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được chia theo hạng giáo viên (I, II, III). Mỗi lần xét thăng hạng, tăng lương, thầy cô phải học và thi một chứng chỉ tương ứng, chi phí phổ biến khoảng 4-6 triệu đồng. Tuy nhiên, từ tháng 5/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chỉ còn một chứng chỉ chung với tất cả giáo viên, theo cấp (mầm non, tiểu học, THCS, THPT).
Tin Gốc: Vnexpress

Sáng nay (20.4), Bộ GD-ĐT tổ chức Hội nghị tuyển sinh năm 2026. Phát biểu chỉ đạo hội nghị, GS-TS Lê Quân, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cho rằng nguyên tắc tuyển sinh năm nay cơ bản đảm bảo sự ổn định, đơn giản hóa và khắc phục những hạn chế bất cập của năm trước. Việc đơn giản hóa được thực hiện với cả người học, phụ huynh trong công tác đăng ký, nhập học gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu của ngành.
Đồng thời, GS Lê Quân cho rằng cần linh hoạt hơn trong bài toán công bố kết quả, đảm bảo tính tự chủ của các cơ sở giáo dục ĐH. Việc này đòi nguyên tắc về sự chủ động hơn của các trường và các vụ, cục của Bộ trong việc chủ động nắm bắt tình hình, danh sách những học sinh đáp ứng yêu cầu xét tuyển để có sự chuẩn bị tốt hơn.
Tại hội nghị, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), chia sẻ nội dung báo cáo tổng kết tuyển sinh năm 2025. Theo đó, từ năm 2022 đến nay, số lượng thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT đều trên mức trên 1 triệu thí sinh. Số thí sinh trúng tuyển, tỷ lệ thí sinh nhập học cũng tăng dần qua từng năm. Trong đó, năm 2025 số thí sinh trúng tuyển nhập học trên chỉ tiêu đạt mức kỷ lục, lên tới mức 90%, cao nhất trong 4 năm qua.
Số liệu thống kê của Bộ GD-ĐT cũng cho thấy, năm 2025 có 76% cơ sở đào tạo có thí sinh nhập học trên mức 80%. Tỷ lệ này cũng cao hơn 2 năm trước đó (năm 2023 đạt 63% và năm 2024 đạt 71,38%).
GS Nguyễn Tiến Thảo cũng chỉ ra bức tranh tuyển sinh theo nhóm ngành. Trong số 24 nhóm ngành, có 12 nhóm ngành chiếm gần 90% số sinh viên nhập học so với chỉ tiêu. Ngược lại, 12 nhóm ngành chỉ chiếm 10% số sinh viên nhập học, có số sinh viên theo học ở mức dưới 10.000.
Kết quả đào tạo nhóm ngành sư phạm năm 2025 cho thấy tỷ lệ nhập học cũng đạt trên 90%. Số lượng thí sinh đăng ký và nhập học các ngành sư phạm đều cao ở các trường, nhờ tác động của chính sách mới từ luật Nhà giáo.
Nhấn mạnh tác động của chính sách đi vào cuộc sống, GS Thảo chỉ ra sự hấp dẫn thí sinh về nguồn tuyển, chất lượng và số lượng thí sinh đăng ký xét tuyển và nhập học năm 2025 ở một số nhóm ngành công nghệ chiến lược.
Kết quả điểm thi theo 5 tổ hợp truyền thống, GS Thảo cho rằng các tổ hợp xét tuyển truyền thống ổn định thời gian qua, phục vụ tốt xét tuyển ĐH. Năm 2025 có nhiều phương thức xét tuyển, trong đó 5 phương thức chính gồm: điểm thi tốt nghiệp, xét học bạ, xét tuyển kết hợp, thi riêng và tuyển thẳng. Trong đó, xét điểm thi tốt nghiệp THPT chiếm tới trên 50%, xét học bạ chiếm hơn 29%, xét tuyển kết hợp chiếm trên 15%, thi riêng trên 5% và tuyển thẳng chỉ 0,32%. Đáng chú ý, phương thức xét học bạ (xét điểm học tập THPT) có xu hướng giảm so với năm 2024, nhiều phương thức tuyển sinh khác không có thí sinh nhập học.
Ngoài ra, việc tuyển sinh theo vùng miền năm 2025 có nhiều sự điều chỉnh. Theo đó, các trường địa phương và thành phố lớn có sự chênh lệch về điều kiện học tập và mức thu hút thí sinh. Trong đó, cao nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ dẫn đầu về số thí sinh trúng tuyển nhập học và theo học.
Về những tồn tại của tuyển sinh năm 2025, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT) cho rằng có những nguyên nhân đến trực tiếp từ việc thí sinh khai sai thông tin, chưa rà soát kỹ và không thực hiện hết quy trình xét tuyển, có những trường hợp không đăng ký xét tuyển đúng thời gian quy định… Một số hạn chế đến từ cơ sở đào tạo như: chưa cập nhật dữ liệu, chưa báo cáo đầy đủ kịp thời và chính xác; một số trường chưa tham gia vào hệ thống xét tuyển; còn sai sót trong quá trình xét tuyển…
Kế hoạch tuyển sinh năm 2026, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh về nguồn tuyển, nguyên tắc xét tuyển và một số quy định mới liên quan trực tiếp tới thí sinh.
Tin Gốc: Thanh Niên

