Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn KNI, chia sẻ như vậy với PV Báo Thanh Niên, bên lề một sự kiện liên quan giáo dục diễn ra tại TP.HCM hôm nay (9.4). Bà Oanh, vừa là cương vị một nhà làm quản lý, vừa một người mẹ của 3 người con – các con thế hệ X và thế hệ Z (Gen Z), chia sẻ những góc nhìn của bà về hành trình dạy con của những người làm cha mẹ.
Đặc biệt, hành trình này đặt trong bối cảnh công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay và sự giao tiếp trực tiếp của những người làm cha mẹ với con cái có vẻ như đang co hẹp lại. Có khi chỉ được nối qua màn hình của một chiếc điện thoại thông minh. Con cái – cha mẹ có khi vài ngày, không ăn cùng nhau một bữa cơm gia đình…
Bà Oanh cho biết dạy con, giáo dục thế hệ trẻ bây giờ khó gấp trăm ngàn lần ngày xưa. Vài chục năm trước, bối cảnh chung là kinh tế còn nhiều thiếu thốn, trẻ em tự tìm tòi những trò chơi, tự học hỏi, nuôi dưỡng nhiều động lực học tập để vươn lên. Bây giờ trẻ từ nhỏ đã có điều kiện tốt, các em được tiếp xúc với công nghệ từ khi nằm nôi, thậm chí từ trong bụng mẹ, xã hội quá nhiều tiện nghi, thì dạy trẻ em thế nào, giáo dục ra sao cho trẻ để các em có tinh thần nỗ lực, tinh thần vượt khó để cố gắng?
“Thời vượt khổ chỉ cần no cơm, ấm áo là vui rồi. Còn bây giờ cuộc sống quá đủ đầy rồi, dạy trẻ về sự nỗ lực, khát vọng, cũng nhiều thách thức hơn. Nên nói dạy trẻ thời “vượt sướng” khó hơn khi vượt khổ”, bà Oanh chiêm nghiệm.
Bà Oanh cho rằng, bằng quan sát của mình, bà nhận thấy trong thời đại công nghệ, con người ít giao tiếp trực tiếp cùng nhau mà co cụm trong thế giới riêng của mìn. Không chỉ trong quán cà phê người ta mới thấy mỗi người một góc ôm laptop, điện thoại mà ngay trong gia đình, nhiều khi trong bàn ăn mà mỗi người một cái điện thoại, vừa ăn vừa xem.
Chắc nhiều người cũng thấy, nhiều bạn trẻ bây giờ ít chào hỏi, ít quan tâm mọi người. Nhờ công nghệ – các bạn thấy đầy đủ – khi được tiếp cận với cả thế giới, làm việc với người nước ngoài, ở bất cứ đâu…
“Thách thức lớn nhất bây giờ trong giáo dục lớp trẻ, không phải là vượt khó, mà là giáo dục cho trẻ sống không co cụm, đừng lui vào thế giới cá nhân của mình, mà các em cần hòa đồng, biết quan tâm tới thế giới xung quanh, mọi người xung quanh”, bà Oanh chia sẻ.
Thế nhưng, trong tình hình ấy, bà cũng nhận thấy những nghịch lý tồn tại trong nhiều gia đình, khi trẻ con không được cha mẹ quan tâm cả về vật chất và tinh thần đúng nghĩa.
Có những đứa trẻ hết giờ học ở trường thì được gửi cho người giúp việc chăm nom, ông bà trông chừng. Các em lại thoải mái dùng điện thoại, các thiết bị công nghệ. Có những cha mẹ vì quá bận bịu làm việc, gặp gỡ đối tác, khách hàng…, lo công việc để có chi phí trang trải cho cuộc sống nên dù rất lý tưởng với lý thuyết “cha mẹ phải đồng hành cùng con lớn lên”, họ vẫn không thể sắp xếp được thời gian, tâm trí, sức lực, trò chuyện với con, chơi với con, dạy con học và xa hơn là làm bạn cùng con…
Những trăn trở, suy ngẫm ấy, là một trong những lý do thôi thúc bà Oanh cùng những cộng sự tại KNI nghiên cứu, tìm hiểu tại Anh, mang mô hình trường nội trú Anh về Việt Nam. Ngày 7.3, Trường Ardingly College Việt Nam (phường Cam Đường, Lào Cai) chính thức hoạt động – mô hình trường nội trú Anh quốc chính thống tại Việt Nam, bắt đầu ra đời.
“Khi chúng tôi qua Anh tìm hiểu và được thấy, có những phụ huynh nhà chỉ cách trường nội trú vài bước chân nhưng họ vẫn cho con học nội trú. Chúng tôi hỏi vì sao, họ nói vì biết con sẽ được học ở trường nhiều cái tốt hơn, và trường nội trú sẽ quản lý con tốt hơn ở nhà”, bà Oanh kể lại.
Bà Oanh tâm đắc với ngôi trường nội trú chuẩn Anh ở Lào Cai, nơi mà học sinh được rèn giũa kỷ luật, kỹ năng sống, rèn nền nếp, văn hóa, học được tinh thần tự lập, các em tự thiết kế cuộc sống của mình. Và đặc biệt, trong thời đại công nghệ, ngoài giờ học chính khóa và giờ tự học, trường có nhiều hoạt động. Điều này một cách tự nhiên “kéo” được học sinh khỏi các thiết bị công nghệ, như các hoạt động thể dục thể thao, nghệ thuật…
Sáng 9.4, Công ty Cổ phần Ardingly College Việt Nam phối hợp cùng Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã công bố gói tài chính để phụ huynh hoặc các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hỗ trợ cho đội ngũ nhân sự cao cấp có điều kiện cho con theo học. Theo đó, với một khoản tiền gửi tiết kiệm ban đầu, tùy theo chọn lựa về thời gian, chương trình và hình thức học tập, phụ huynh sẽ được phía ngân hàng đảm bảo thanh toán học phí và các khoản phí liên quan. Sau khi học sinh hoàn tất chương trình học theo hợp đồng, phụ huynh sẽ nhận lại toàn bộ vốn gốc gửi tiết kiệm ban đầu cùng phần lãi tích lũy còn lại, nếu có – tùy theo chọn lựa của phụ huynh.
Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH đang được Bộ GD-ĐT xem xét và lấy ý kiến đóng góp. Trong đó, ngành sức khỏe là một trong những lĩnh vực có quy định cao về chương trình, giảng viên.
Theo dự thảo, các cơ sở giáo dục ĐH có thể thực hiện nhiều chương trình đào tạo khác nhau. Cụ thể, chương trình đào tạo nói chung phải xác định định hướng đào tạo theo hướng học thuật/nghiên cứu hoặc chuyên nghiệp/ứng dụng phù hợp với mục tiêu đào tạo và trình độ đào tạo.
Ngoài ra, các trường có thể cung cấp cho sinh viên chương trình đào tạo tích hợp; chương trình đào tạo liên ngành, xuyên ngành; chương trình đào tạo chuyên sâu; chương trình đào tạo song ngành, ngành chính – ngành phụ; chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng; chương trình đào tạo cấp chứng chỉ giáo dục ĐH (được thiết kế độc lập hoặc là một cấu phần của chương trình đào tạo cấp văn bằng). Chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng có các chương trình như kỹ sư tài năng, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến và các chương trình tương tự.
Các chương trình đào tạo trên phải được xây dựng phù hợp với sứ mạng cụ thể, chức năng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện tại và dự báo của ngành, lĩnh vực; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các chương trình đào tạo phải xác định bậc trình độ theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam; được thiết kế theo hướng bảo đảm khả năng tích lũy, công nhận kết quả học tập và liên thông giữa các trình độ, phù hợp với vị trí trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Ở tất cả các chương trình đào tạo, giảng viên cơ hữu giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo; giảng viên thỉnh giảng chỉ đảm nhận tối đa 1/4 khối lượng giảng dạy.
Mỗi chương trình đào tạo (trừ khối ngành sức khỏe, pháp luật; kỹ thuật then chốt; ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, thể thao) phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, có chuyên môn ngành đúng, ngành gần hoặc ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì; trong đó luôn có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành đúng hoặc ngành gần chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đặc biệt, giảng viên giảng dạy và người hướng dẫn thực hành các học phần liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy phép hành nghề chuyên môn phù hợp với học phần được giao nhiệm vụ giảng dạy, có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm và đang hoặc đã từng làm việc trực tiếp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Trong khi đó, chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, quốc phòng, an ninh và ngành, lĩnh vực mới phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao phải có ít nhất 4 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Trong thời gian tối thiểu 3 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì phải có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus.
Với các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, giảng viên phải có sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích bao gồm cả tác phẩm, công trình, giải thưởng chuyên môn, huy chương tại các cuộc thi, liên hoan, giải thi đấu thể thao do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc quốc tế công nhận.
Ngày 10.4, tại UTH, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tổ chức tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học về đường sắt, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia về phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Tiếp theo hoạt động khảo sát để hoàn thiện Đề án "Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045" ngày 3.10.2025 tại UTH, sự kiện là bước triển khai quan trọng để thực hiện Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg. Đồng thời, Tọa đàm ghi nhận vai trò tiên phong của UTH trong việc sẵn sàng và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án đường sắt quy mô lớn của quốc gia.
Tọa đàm do TS Đặng Văn Huấn - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) - chủ trì, với sự tham dự của PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH; đại diện lãnh đạo, chuyên gia đến từ 15 cơ sở giáo dục đại học và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, giao thông vận tải. Việc UTH được lựa chọn đăng cai tổ chức Tọa đàm một lần nữa khẳng định uy tín, năng lực của nhà trường trong đào tạo, nghiên cứu các lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt hiện đại, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao - những lĩnh vực then chốt trong hiện thực hóa khát vọng phát triển hạ tầng chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Phát biểu khai mạc, TS Đặng Văn Huấn nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Chuẩn chương trình đào tạo đồng bộ, hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, nhất là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và hệ thống đường sắt đô thị tại các trung tâm kinh tế - xã hội lớn. Theo ông, việc chuẩn hóa chương trình đào tạo không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực đường sắt, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện hiệu quả các định hướng chiến lược được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển hạ tầng.
Theo báo cáo tại tọa đàm, dự thảo chuẩn chương trình đào tạo ngành đường sắt được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bám sát thực tiễn trong nước và định hướng liên ngành, tích hợp các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, công nghệ thông tin và khai thác vận tải. Nội dung đào tạo chú trọng cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tăng cường thí nghiệm, thực tập, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp - mô hình mà UTH đã triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua, qua đó tạo tiền đề để nhanh chóng hình thành đội ngũ kỹ sư có thể tham gia ngay vào các dự án đường sắt tốc độ cao khi được triển khai. Tại phiên thảo luận, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần tiếp cận ngành đường sắt như một hệ thống tích hợp đa lĩnh vực, trong đó nhân lực phải có năng lực tổng hợp về kỹ thuật, công nghệ và quản lý, phù hợp với yêu cầu vận hành các tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại.
Đóng góp ý kiến, TS Lê Anh Uyên Vũ - Phó viện trưởng Viện Cơ khí UTH - cho biết các chương trình đào tạo hiện nay của UTH về đường sắt được xây dựng theo định hướng liên ngành, chuẩn đầu ra cơ bản tương thích với dự thảo chuẩn đang xây dựng, cho thấy định hướng đào tạo của UTH phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của ngành. TS Uyên Vũ cũng đề xuất Hội đồng xây dựng chuẩn CTĐT có thể tham khảo chương trình mà UTH đang triển khai như một hướng tiếp cận hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đường sắt hiện đại và đường sắt tốc độ cao.
Các đại biểu cũng kiến nghị khá tương đồng với ý kiến từ các chuyên gia của UTH về việc cần tinh gọn, giảm số lượng chuẩn đầu ra, tăng tỷ trọng thực hành, đẩy mạnh học kỳ doanh nghiệp, đồng thời bổ sung các nội dung về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, an toàn hệ thống - những yêu cầu công nghệ cốt lõi của đường sắt tốc độ cao. Nhiều ý kiến thống nhất rằng chương trình đào tạo cần linh hoạt, gắn với thực tiễn, nhu cầu thị trường lao động và các lộ trình, quy hoạch phát triển đường sắt mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong các văn kiện chiến lược.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH - khẳng định UTH luôn chủ động, tiên phong trong đón đầu các xu hướng phát triển nguồn nhân lực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Hiệu trưởng nhấn mạnh UTH đã và đang từng bước hoàn thiện các chương trình đào tạo, tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thực hành, mô phỏng… để sẵn sàng đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong đào tạo kỹ sư đường sắt tốc độ cao, góp phần hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng về phát triển hạ tầng chiến lược, chuyển đổi cơ cấu vận tải theo hướng hiện đại, bền vững. Ông khẳng định UTH sẵn sàng đồng hành cùng Bộ GD-ĐT và các đối tác trong việc hoàn thiện, triển khai chuẩn CTĐT; chia sẻ về các CTĐT về đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị đang triển khai tại trường.
Với định hướng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải phía Nam, UTH đang từng bước khẳng định vai trò trụ cột trong đào tạo nguồn nhân lực đường sắt chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, xu thế phát triển công nghệ và định hướng mở rộng mạng lưới đường sắt tốc độ cao của đất nước. Các đại biểu của UTH tham dự Tọa đàm góp ý cho dự thảo theo thực tiễn các CTĐT của UTH luôn được cải tiến kịp thời để theo kịp định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các chương trình đào tạo của UTH được cải tiến ưu tiên đào tạo kiến thức nền tảng, đào tạo sinh viên phát triển tư duy, cách học, cách giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và ứng dụng hiệu quả AI và dữ liệu lớn vào học tập và thực tiễn.