Trao đổi với PV Báo Thanh Niên ngày 9.4, ông Nguyễn Thái Hậu, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo (gọi tắt Hạt Kiểm lâm) cho biết đơn vị đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Đ.V.T (36 tuổi, ở đặc khu Côn Đảo, TP.HCM) 3 triệu đồng và tịch thu 42 cây mai vàng.
Hôm 2.4, tổ tuần tra liên ngành (do Hạt Kiểm lâm chủ trì cùng Công an đặc khu Côn Đảo và Ban Chỉ huy phòng thủ Khu vực 6 đặc khu Côn Đảo) thực hiện kế hoạch kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo.
Tại đây, lực lượng phát hiện 42 cây mai vàng do ông T. cất giữ, chăm sóc. Ông T. khai nhận đã mua 45 cây từ đất liền vận chuyển ra đảo, trong quá trình chăm sóc có 3 cây bị chết, số còn lại 42 cây có tổng khối lượng 0,38 m³.
Theo ông Hậu, mai vàng là cây thân gỗ phân bố trong rừng tự nhiên tại Côn Đảo, đồng thời cũng được người dân trồng, nhân giống làm cây kiểng phục vụ làm cảnh tại nhà, mua bán ngoài thị trường.
Vậy, việc xử phạt trên đã đúng với quy định pháp luật chưa? Trao đổi với PV BáoThanh Niên, luật sư Lê Văn Hoan, Đoàn luật sư TP.HCM, dẫn định nghĩa lâm sản theo khoản 16 điều 2 luật Lâm nghiệp 2017 (được sửa đổi năm 2025): “Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến”.
Định nghĩa này chứa đựng một yếu tố quan trọng, đó là có nguồn gốc từ rừng. Một thực vật chỉ được xem là lâm sản khi nó được khai thác từ hệ sinh thái rừng. Đối với cây mai vàng, nếu đây là cây do người dân tự trồng trong vườn nhà, không phải đất rừng, hoặc được mua bán thương mại từ các nhà vườn kiểng có nguồn gốc rõ ràng, thì chúng mang bản chất một loại cây cảnh. Vì thế, đây là một tài sản dân sự, không phải là “lâm sản” theo định nghĩa của luật Lâm nghiệp.
“Tôi cho rằng việc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo kết luận ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp về hành vi “tàng trữ… lâm sản trái quy định” mà chưa làm rõ các gốc mai này có nguồn gốc từ rừng là thiếu cơ sở”, luật sư Hoan nêu ý kiến.
Một trong những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 điều 3 luật Xử lý vi phạm hành chính đó là người xử phạt phải có trách nhiệm chứng minh có hành vi vi phạm. Đây là nghĩa vụ của người xử phạt. Còn người bị xử phạt có quyền chứng minh mình không vi phạm. Việc chứng minh mình không vi phạm của người bị xử phạt là quyền chứ không phải nghĩa vụ, nghĩa là không bắt buộc.
“Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính mà ngay cả trong lĩnh vực hình sự cũng vậy. Nghĩa là bên buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội”, luật sư Hoan nhấn mạnh.
Cũng theo luật sư Hoan, việc ông T. cất giữ, chăm sóc gốc mai là một sự thật khách quan, nhưng sự thật đó chỉ trở thành “hành vi vi phạm” nếu và chỉ nếu cơ quan chức năng chứng minh được đối tượng đó là lâm sản bất hợp pháp. “Nếu không chứng minh được nguồn gốc từ rừng, thì không thể áp dụng các chế tài về lâm nghiệp để xử lý tài sản của công dân”, luật sư Hoan nói.
Cơ quan chức năng đang dựa vào việc ông T. không có bảng kê lâm sản theo quy định tại Thông tư 26 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, được bổ sung bởi Thông tư 84 năm 2025 Bộ Nông nghiệp và Môi trường (về truy xuất nguồn gốc lâm sản) để làm căn cứ xử phạt. Tuy nhiên, về vấn đề này, luật sư cho rằng cần xem xét kỹ đối tượng phải lập bảng kê.
Bởi tại khoản 9 điều 3 Thông tư 26 quy định: “Bảng kê lâm sản là bảng kê khai, mô tả thông tin chi tiết về: gỗ nguyên liệu, sản phẩm gỗ, cây thân gỗ; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật rừng, sản phẩm của động vật rừng; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật, sản phẩm của động vật, thực vật ngoài gỗ, sản phẩm của thực vật ngoài gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES. Bảng kê lâm sản không áp dụng đối với giống cây trồng lâm nghiệp và loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES”.
Theo kiểm lâm, ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp năm 2017 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đồng thời, tại biên bản vi phạm hành chính lập ngày 2.4, ông T. có đề nghị sẽ cung cấp hóa đơn chứng từ mua bán số mai trên cho Hạt Kiểm lâm vào ngày hôm sau. Nhưng đến nay, ông T. không cung cấp được hóa đơn, chứng từ, bảng kê lâm sản hợp lệ theo quy định. Do đó, Hạt Kiểm lâm quyết định xử phạt theo Nghị định số 35 năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 07 năm 2022). Theo luật sư Hoan, cần phải xem xét lại vấn đề này.
“Gốc rễ vấn đề trong trường hợp này là Hạt kiểm lâm phải có nghĩa vụ chứng minh 42 gốc mai đó là lâm sản. Chỉ khi nào chứng minh được thì mới có căn cứ áp dụng chế tài như xử phạt hành chính và tịch thu tang vật”, luật sư Hoan chia sẻ.
Nếu 42 gốc mai của ông T. là mai vườn, được trồng và bứng từ đất thổ cư hoặc đất vườn của hộ gia đình (không phải đất rừng), thì không có cơ sở xử phạt.
Trường hợp không chứng minh được 42 gốc mai là lâm sản, thì phải mặc định đó là tài sản dân sự hợp pháp. Do đó, việc tịch thu tang vật là 42 gốc mai và phạt ông T. 3 triệu đồng khi chưa chứng minh được tính chất “lâm sản” là không đảm bảo tính pháp lý.
Đồng tình với luật sư Hoan, luật sư Hoàng Hà (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng kiểm lâm muốn chứng minh 42 cây mai là lâm sản để xử phạt thì cần phải thực hiện nhiều bước nghiệp vụ.
“Việc xác minh phải thể hiện bằng văn bản và có thể trưng cầu giám định. Vì vậy trong vụ này, kiểm lâm không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận ông T. không xuất trình được bảng kê lâm sản, rồi suy ra ngay hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật”, luật sư Hoàng Hà nói.
Lẽ ra, việc kiểm lâm phải làm là xác định đúng đối tượng quản lý. Muốn áp dụng chế tài lâm nghiệp thì phải có căn cứ cho thấy 42 cây mai thuộc loại “thực vật rừng ngoài gỗ”. Tức là lâm sản theo luật Lâm nghiệp và Thông tư 26 năm 2025.
Nếu còn lấn cấn giữa “mai rừng” và “mai vườn” thì cơ quan xử lý phải thu thập lời khai về nơi mua, người bán, địa điểm bứng cây, phương thức vận chuyển, chứng từ giao dịch, người làm chứng, đặc điểm thực vật học của cây. Cũng có thể trưng cầu chuyên môn nếu cần để làm rõ cây có nguồn gốc từ rừng, hay chỉ là cây cảnh do nhà vườn trồng.
“Chỉ sau khi qua bước nhận diện này mới có thể nói tới nghĩa vụ lập bảng kê lâm sản theo điều 11 Thông tư 26 năm 2025”, luật sư Hoàng Hà nhấn mạnh.
Sau khi làm các bước trên, nếu có căn cứ xử phạt, thì kiểm lâm phải lập hồ sơ xử phạt đầy đủ, trong đó có biên bản vi phạm, tài liệu xác minh, chứng cứ nguồn gốc, lời khai của đương sự và các giấy tờ liên quan.
Ông Ngọc đảm nhiệm cương vị mới thay ông Nguyễn Hữu Nghĩa đã được Quốc hội bầu giữ chức Tổng kiểm toán Nhà nước.
Ông Phạm Quang Ngọc 53 tuổi, quê tỉnh Ninh Bình; tiến sĩ Chăn nuôi, thạc sĩ Khoa học môi trường, cử nhân Sinh học; Ủy viên Trung ương Đảng khóa 14.
Ông từng giữ chức Chủ tịch UBND và Bí thư Huyện ủy Yên Khánh, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình. Tháng 12/2020, ông được bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình (cũ). Khi Ninh Bình sáp nhập với Hà Nam và Nam Định, ông được chỉ định giữ chức Chủ tịch tỉnh Ninh Bình mới.
Trong đợt bố trí lãnh đạo tỉnh thành không phải người địa phương cuối năm 2025, ông Ngọc được luân chuyển giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên.
Tỉnh Hưng Yên được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Hưng Yên (cũ) và Thái Bình, có diện tích hơn 2.500 km2 và dân số khoảng 3,56 triệu. Đại hội Đảng bộ tỉnh đầu tháng 10 đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, đáp ứng tiêu chí đô thị loại I; đến năm 2045 phấn đấu trở thành thành phố thông minh, sinh thái trực thuộc Trung ương, có nền công nghiệp hiện đại dẫn đầu cả nước và là trung tâm kinh tế biển mạnh ở phía Bắc.
Ngày 8.4, Thường trực HĐND TP.HCM tổ chức buổi làm việc với các ban của HĐND TP.HCM nhằm nghe báo cáo tình hình theo dõi, đôn đốc triển khai và cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 của Quốc hội; đồng thời trao đổi công tác nghiên cứu, đề xuất các nội dung thuộc thẩm quyền của HĐND TP.HCM phục vụ chuẩn bị luận cứ pháp lý xây dựng luật Đô thị đặc biệt.
Báo cáo tại buổi làm việc, lãnh đạo Ban Kinh tế - Ngân sách cho biết việc triển khai các nghị quyết của Quốc hội trên địa bàn TP.HCM đã đạt nhiều kết quả bước đầu quan trọng. HĐND TP.HCM đã ban hành nhiều nghị quyết cụ thể để thể chế hóa các cơ chế, chính sách đặc thù.
Đối với Nghị quyết 98/2023/QH15, TP.HCM đã hoàn thành 17/25 nhiệm vụ, ban hành 53 nghị quyết, tập trung vào các lĩnh vực tài chính - ngân sách, đầu tư, giao thông và môi trường. Tuy nhiên, một số nội dung vẫn chưa thể thực hiện do còn vướng mắc pháp lý, thiếu tính đồng bộ, nhất là trong các lĩnh vực cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cơ chế thu phí, thị trường tín chỉ carbon và kiểm soát khí thải phương tiện.
Với Nghị quyết 260/2025/QH15, TP.HCM đã thực hiện 5/9 nhiệm vụ, ban hành 6 nghị quyết quan trọng liên quan đến quy hoạch, phát triển hạ tầng và cơ chế tài chính - ngân sách. Các nhiệm vụ còn lại tiếp tục được triển khai hoặc sẽ thực hiện khi phát sinh yêu cầu thực tế.
Theo đánh giá chung, việc triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù đã tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển của TP.HCM. Tuy vậy, thành phố vẫn cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn và tăng cường tính đồng bộ để nâng cao hiệu quả thực thi trong thời gian tới.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo các ban của HĐND TP.HCM cũng báo cáo kết quả theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nghị quyết của HĐND TP.HCM trong quá trình triển khai hai nghị quyết nêu trên. Đồng thời, các đơn vị rà soát các nội dung thuộc lĩnh vực phụ trách cần được cụ thể hóa thành quy phạm pháp luật, làm cơ sở phối hợp với Trường đại học Luật TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học, lấy ý kiến chuyên gia, định hướng các nội dung trọng tâm cần thể chế trong quá trình xây dựng luật Đô thị đặc biệt.
Phát biểu kết luận, ông Nguyễn Văn Thọ, Phó chủ tịch Thường trực HĐND TP.HCM ghi nhận tinh thần chủ động, trách nhiệm của các ban HĐND TP.HCM trong công tác theo dõi, tham mưu triển khai các nghị quyết của Quốc hội, đồng thời yêu cầu tiếp tục tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm.
Cụ thể, Ban Kinh tế - Ngân sách được giao chủ trì, phối hợp với các ban của HĐND TP.HCM và UBND TP.HCM rà soát, đánh giá tổng thể việc triển khai Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15; làm rõ các nhiệm vụ đã thực hiện và chưa thực hiện, phân định rõ thẩm quyền giữa trung ương, HĐND và UBND TP.HCM. Trên cơ sở đó, đơn vị tham mưu Thường trực HĐND TP.HCM báo cáo Thành ủy để có định hướng chỉ đạo chung; đồng thời làm căn cứ theo dõi, đôn đốc và đề xuất xây dựng các nghị quyết thuộc thẩm quyền của HĐND TP.HCM. Việc tổng hợp, báo cáo Thường trực HĐND TP.HCM sẽ được thực hiện định kỳ hằng quý.
Ban Kinh tế - Ngân sách cũng được giao rà soát Nghị quyết 18/NQ-HĐND của HĐND TP.HCM để đánh giá kết quả thực hiện, đối chiếu với Nghị quyết 260/2025/QH15, từ đó tham mưu sửa đổi, thay thế nếu cần thiết nhằm bảo đảm triển khai kịp thời, thống nhất.
Ngoài ra, ban này còn được giao chủ trì, phối hợp theo dõi, đôn đốc việc triển khai Nghị quyết 222/2025/QH15 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế, bảo đảm các điều kiện pháp lý phục vụ tổ chức thực hiện.
Các ban của HĐND TP.HCM, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tiếp tục rà soát việc triển khai các nghị quyết của Quốc hội và các nghị quyết của HĐND TP.HCM đã ban hành; chủ động tham mưu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách và định hướng khung pháp lý phục vụ xây dựng luật Đô thị đặc biệt.
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND TP.HCM được giao tham mưu cụ thể hóa các ý kiến chỉ đạo của Bí thư Thành ủy vào chương trình, kế hoạch công tác của HĐND và Thường trực HĐND TP.HCM, bảo đảm phù hợp, khả thi.
Thông tin về việc lấy ý kiến hoán đổi ngày làm việc để người lao động được nghỉ lễ liền mạch trong 2 kỳ nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và lễ 30.4 - 1.5 vừa được ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, chia sẻ ngày 7.4.
Theo ông Hiểu, những ngày qua, nhiều công đoàn cơ sở, người lao động và cả cán bộ, công chức đã có kiến nghị với Tổng LĐLĐ Việt Nam nên nghiên cứu về việc hoán đổi để tạo kỳ nghỉ liền mạch giữa nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và dịp lễ 30.4 - 1.5.
"Tổng LĐLĐ Việt Nam sẽ lắng nghe ý kiến từ phía người lao động, đồng thời nghiên cứu quy định của pháp luật và trao đổi với Bộ Nội vụ trước khi đưa ra đề xuất chính thức", ông Hiếu nói.
Dự kiến chiều nay 7.5, sẽ lấy ý kiến tiếp của đoàn viên, người lao động thông qua mạng xã hội, đặc biệt là nghiên cứu các quy định của pháp luật.
Ông Hiểu cũng cho hay, để đưa ra đề xuất chính thức Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng phải cân nhắc đồng thời 3 yếu tố, gồm: nguyện vọng của người lao động, quy định của pháp luật và sự hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan.
Thực tế, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã lấy ý kiến từ công đoàn cơ sở và sẽ tiếp tục mở rộng lấy ý kiến người lao động trên diện rộng. Sau khi tổng hợp, đánh giá và đối chiếu quy định pháp luật, cơ quan này mới có thể đưa ra đề xuất chính thức.
Một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là quy định nghỉ bù phải liền kề ngay sau ngày nghỉ lễ. Điều này khiến việc "nối" 2 kỳ nghỉ gần nhau trở nên khó khăn.
"Quy định phải nghỉ bù ngay sau ngày lễ đôi khi tạo ra bất cập, nhất là trong tình huống 2 kỳ nghỉ sát nhau như năm nay. Đây là vấn đề cần bàn bạc kỹ, bởi hiện chưa có sửa đổi luật, nên mọi phương án đều phải cân nhắc thận trọng", ông Hiểu nhấn mạnh.
Nhiều ý kiến đề xuất, nếu ngày Giỗ tổ rơi vào cuối tuần thì không nghỉ bù ngay sau đó, mà chuyển sang ngày 29.4 để kéo dài kỳ nghỉ. Tuy nhiên, phương án này chưa phù hợp với quy định hiện hành.
"Đây là tình huống đặc biệt mà luật chưa tính đến, nên việc đề xuất gặp nhiều khó khăn", ông Hiểu nói thêm.
Bà Hồ Thị Kim Ngân, Phó trưởng ban Quan hệ lao động (Tổng LĐLĐL Việt Nam), cho biết từ thực tế tại doanh nghiệp, nhiều ý kiến đã đề xuất phương án hoán đổi ngày nghỉ. Đề xuất này xuất phát từ thực tế bố trí lịch nghỉ năm 2026 còn bất hợp lý, đặc biệt với nhóm lao động làm việc cả thứ bảy.
Cụ thể, một số doanh nghiệp và công đoàn cơ sở đề xuất chuyển ngày nghỉ bù Giỗ tổ (ngày 27.4) sang thứ tư (ngày 29.4) hoặc thứ bảy ( ngày 2.5), nhằm giúp người lao động có thể nghỉ liên tục 4 - 5 ngày.
"Việc hoán đổi sẽ giúp người lao động có thời gian nghỉ ngơi tốt hơn, tái tạo sức lao động. Nếu không hoán đổi, người lao động trong doanh nghiệp sẽ nghỉ Giỗ tổ 2 ngày (chủ nhật 26.4 và thứ hai 27.4), sau đó đi làm tiếp 2 ngày, rồi lại nghỉ 2 ngày dịp 30.4 - 1.5, sau đó quay lại làm việc 1 ngày thứ bảy (2.5) rồi mới nghỉ tiếp vào chủ nhật, khiến kỳ nghỉ bị chia nhỏ", bà Ngân phân tích.
Trong khi đó, theo bà Ngân, nếu được hoán đổi hợp lý, người lao động có thể có kỳ nghỉ dài hơn, thuận tiện cho sinh hoạt và phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên, theo quy định của bộ luật Lao động, phương án hoán đổi này lại không khả thi.
"Luật quy định ngày nghỉ bù phải được bố trí ngay sau ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ hằng tuần trùng lễ, không được chuyển đổi sang thời điểm khác. Do đó, một số Sở Nội vụ đã có ý kiến không đồng thuận với đề xuất hoán đổi do không phù hợp quy định pháp luật", bà Ngân nói.
Từ thực tiễn triển khai, bà Ngân cho rằng đã đến lúc cần nghiên cứu điều chỉnh quy định theo hướng linh hoạt hơn, thay vì "cứng" như hiện nay.
"Nên xem xét quy định mở, cho phép doanh nghiệp và công đoàn thỏa thuận để sắp xếp lịch nghỉ phù hợp với tình hình sản xuất và nhu cầu nghỉ ngơi của người lao động", bà Ngân đề xuất.
Bà Ngân cũng nhấn mạnh, lịch nghỉ giữa khu vực nhà nước và khu vực doanh nghiệp thực tế có sự liên thông, tác động qua lại.
"Lịch nghỉ của 2 khu vực tưởng không liên quan nhưng thực tế lại ảnh hưởng lẫn nhau. Việc công bố lịch nghỉ sớm ngay từ đầu năm là cần thiết, giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, đồng thời góp phần kích cầu tiêu dùng, du lịch. Ngoài ra, việc xây dựng lịch nghỉ cần có sự trao đổi, phối hợp giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp để đảm bảo hài hòa lợi ích".
Từ thực tế lịch nghỉ của năm 2026, bà Ngân kiến nghị khi sửa bộ luật Lao động cần bổ sung quy định cho phép linh hoạt hơn trong bố trí ngày nghỉ lễ, nghỉ bù.
"Một chính sách khó có thể đáp ứng tất cả, nhưng cần hướng tới lợi ích của đa số người lao động và không gây bất lợi cho xã hội", bà Ngân nhấn mạnh.
Theo các chuyên gia, nếu được sắp xếp hợp lý, người lao động có thể có kỳ nghỉ dài 4 ngày thay vì bị chia nhỏ như hiện nay, vừa đảm bảo quyền lợi nghỉ ngơi, vừa không ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong bối cảnh nhu cầu cân bằng giữa công việc và cuộc sống ngày càng được quan tâm, việc điều chỉnh linh hoạt lịch nghỉ lễ được xem là cần thiết, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
Trước đó, tại buổi họp báo ngày 3.4 của Bộ Nội vụ, ông Vũ Trọng Bình, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), khẳng định những ngày nghỉ của năm 2026 đã được Chính phủ cho phép và Bộ Nội vụ thông báo vào tháng 10.2025. Đến ngày 3.4, Bộ Nội vụ và Chính phủ không có một chủ trương gì mới đối với thông báo ngày nghỉ của năm 2026.