Mục Lục
ToggleSáng 7.4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với 495/495 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Đây là lần thứ 2 Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu giữ chức Chủ tịch nước. Trước đó, ngày 22.5.2024, ông được Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2021 – 2026 và giữ chức vụ này tới ngày 21.10.2024.
Trước đó, trong phiên họp riêng sáng 7.4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã trình danh sách đề cử, Quốc hội đã thảo luận, biểu quyết thông qua danh sách để bầu Chủ tịch nước. Sau đó, Quốc hội đã tiến hành bầu Chủ tịch nước bằng hình thức bỏ phiếu kín. Kết quả kiểm phiếu vừa được báo cáo trước Quốc hội trước khi thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch nước.
Theo quy định của Hiến pháp, Chủ tịch nước sau khi được Quốc hội bầu phải thực hiện tuyên thệ nhậm chức.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (69 tuổi), quê quán tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, trình độ: GS Khoa học an ninh, tiến sĩ Luật học. Ông là Tổng Bí thư khóa XIII (từ tháng 8.2024), XIV; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa XII, XIII, XIV; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa XI, XII, XIII, XIV; Đại biểu Quốc hội các khóa XIV, XV, XVI.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trưởng thành từ ngành công an. Từ năm 1979, ông Tô Lâm trải qua nhiều chức vụ trong ngành công an và được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Công an vào năm 2010.
Tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016), ông được bầu vào Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị khóa XII, sau đó được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Công an. Tháng 1.2019, ông được phong cấp bậc hàm đại tướng. Tại Đại hội XIII (năm 2021), ông tiếp tục được bầu vào Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XIII, tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.
Ngày 3.8.2024, trên cương vị Chủ tịch nước, ông được Trung ương Đảng khóa XIII bầu Tổng Bí thư khóa XIII.
Tại Đại hội XIV của Đảng hồi tháng 1 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, sau đó được Trung ương Đảng bầu tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư khóa XIV. Tới tháng 3 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tong-bi-thu-to-lam-tuyen-the-nham-chuc-chu-tich-nuoc-185260406214022801.htm
Chính Trị
Trung ương ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng

Quy định số 19-QĐ/TW quy định mục đích, yêu cầu, nguyên tắc; nội dung, phương thức; trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên; chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Quy định này áp dụng đối với các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong Đảng.
Quy định số 19-QĐ/TW nêu rõ mục đích nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, khả năng xử lý hiệu quả các biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng.
Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong mọi hoạt động của tổ chức Đảng và của cán bộ, đảng viên.
Đồng thời, nhằm tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để Đảng ta thực sự đạo đức và văn minh, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện và sức chiến đấu của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền và hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng.
Giữ gìn uy tín, tính tiên phong, gương mẫu, sự trong sạch, đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực, sự đồng thuận, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng môi trường chính trị, tư tưởng trong sáng, lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và xã hội; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng văn hóa trong Đảng; củng cố sức mạnh nội sinh và uy tín của Đảng; phát huy dân chủ gắn với trách nhiệm cá nhân trong Đảng; đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Về yêu cầu, công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng; phải giữ vững nguyên tắc và không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò đi trước, mở đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn; tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và niềm tin của nhân dân nhằm hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Công tác chính trị phải tạo động lực cho sự đổi mới tư duy chiến lược, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; mọi quyết sách và hành động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân.
Cùng đó, tiến hành thường xuyên, liên tục, khẩn trương, nghiêm túc, thực chất, đúng tiến độ, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", trong đó "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng.
Quy định nêu 4 nguyên tắc trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Công tác chính trị, tư tưởng phải lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy "4 kiên định" làm định hướng hành động; mọi hoạt động của tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng. Quán triệt quan điểm chính trị, tư tưởng và văn hóa tạo ra nội lực tinh thần để Đảng lãnh đạo dân tộc đi xa và đi vững trong kỷ nguyên mới.
Chấp hành nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư; vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy các cấp, nhất là bí thư cấp uỷ. Thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát ngôn và hành động trong Đảng.
Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá, định hướng dư luận xã hội và dự báo sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Công tác chính trị, tư tưởng phải gắn chặt, liên thông với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát, dân vận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị; bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ chế tài, có tiêu chí cụ thể để lượng hoá, kiểm tra, giám sát; lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất. Cấp ủy, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất trong đánh giá về chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý theo phân cấp.
Theo quy định, công tác chính trị gồm các nội dung: Giữ vững bản chất cách mạng, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự phát triển của thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước; bảo đảm thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Giữ vững định hướng chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong mọi hoạt động; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương, cấp ủy các cấp; thực hiện nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư.
Gắn công tác chính trị với công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát và dân vận, đẩy mạnh công tác định hướng dư luận xã hội; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Về nội dung công tác tư tưởng, quy định nhấn mạnh việc thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về tầm nhìn và mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng văn hoá Đảng, thiết lập chuẩn mực đạo đức cách mạng, sự tiên phong, gương mẫu, liêm chính, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để củng cố, xây dựng, hoàn thiện, thực hiện văn hoá lãnh đạo, văn hoá công vụ; bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu đồng bào; khơi dậy tinh thần tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Cùng đó, đổi mới phương thức công tác tư tưởng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu số; nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, chủ động nắm, phân tích, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trong các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.
Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng; giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chính Trị
Khi lòng dân được lắng nghe, Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn

Phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sáng 6.4, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp.
Đây cũng là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Chúc mừng kết quả bầu cử tốt đẹp và các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn, Tổng Bí thư cũng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu, ủy viên HĐND các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.
Nhấn mạnh thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu, Tổng Bí thư cũng nêu rõ các thách thức từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, dòng vốn toàn cầu… Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Theo Tổng Bí thư, đất nước ta, với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại.
“Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách hiến định của mình.
“Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện tốt 4 nhiệm vụ lớn. Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai. Luật không chỉ “mở đường” mà còn phải “sửa đường”.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, từ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách. Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.
Thứ hai, nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả. Giám sát không chỉ để “kiểm tra việc đã làm”, mà còn phải giúp “định hình việc cần làm”, nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: vấn đề đã được giải quyết hay chưa.
Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, Quốc hội phải nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
"Giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử của đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược", Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn.
Tổng Bí thư lưu ý cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Cạnh đó, phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách. Mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình. Xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân.
"Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn", Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp - Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 - 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 - 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) - Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Tin Gốc: Thanh Niên

