Mục Lục
ToggleTôi có mua một chiếc xe máy vào năm 2013. Thời điểm này tôi còn đang độc thân và ở Gia Lai. Đến năm 2018 thì gia đình tôi đã chuyển đi Đà Nẵng sinh sống.
Đến năm 2022 tôi kết hôn thì cần phải làm giấy xác nhận độc thân ở cả hai nơi là Gia Lai và Đà Nẵng. Tôi vẫn còn giữ giấy xác nhận này và trong giấy xác nhận cũng ghi nội dung rất rõ là từ thời điểm nào đến thời điểm nào tôi còn độc thân và chưa kết hôn với ai.
Đến năm nay 2026, tôi cần bán chiếc xe máy mà mình đã mua khi mình còn độc thân thì bên công chứng lại yêu cầu cung cấp bản giấy chứng nhận độc thân. Tôi cung cấp giấy xác nhận độc thân được cấp năm 2022 thì bị từ chối vì đã quá hạn 6 tháng.
Tôi thấy việc này thật sự rất bất cập, vì giấy xác nhận này được cơ quan có thẩm quyền xác nhận với nội dung rõ ràng. Và cũng chứng minh được tại thời điểm tôi mua xe máy cũng đang còn độc thân.
Tuy nhiên bây giờ tôi lại phải đi xin giấy xác nhận về một điều hiển nhiên đã xảy ra trong quá khứ. Và cũng không thể thay đổi được gì, tôi đành phải đăng ký online trên dịch vụ công để xin xác nhận.
Theo tôi nghĩ những thông tin đã được tích hợp trên VnEID thì cũng nên lược bớt những yêu cầu về giấy tờ này. Hoặc nếu có thể tích hợp những tính năng này trong mục Tình trạng hôn nhân thì sẽ thật sự tinh giản được rất nhiều khâu trong thủ tục hành chính. Đây là những ý kiến cá nhân của tôi, hy vọng có thể đóng góp được phần nào để cải cách thủ tục hành chính. Tôi xin cám ơn.
Tin Gốc: Vnexpress

Năm nay tôi 38 tuổi. Lần đầu tiên sau hơn 20 năm đi làm, tôi quyết định dừng lại. Tôi bắt đầu đi làm từ khi mới chưa đầy 20 tuổi. Quãng thời gian đó dài đến mức, đôi khi tôi cũng không nhớ rõ mình đã bao giờ nghỉ ngơi đúng nghĩa hay chưa?
Cuộc sống của tôi trước giờ khá đơn giản với vòng lặp bất tận: làm việc - kiếm tiền - rồi lại làm tiếp. Đến khi kinh tế bắt đầu chậm lại, việc buôn bán không còn hiệu quả như trước, tôi mới không cố gồng nữa và quyết định "nghỉ hưu sớm". Tôi chọn dừng lại không phải vì cùng đường, mà vì tôi thấy mình cần nghỉ thật sự, cho cơ thể, đầu óc được phục hồi.
Ngồi lại nhìn những gì mình đã đạt được, tôi thấy không phải là bản thân không có gì. Thậm chí, tôi đang ở trong một căn nhà ba tầng mặt phố - nơi mà hàng xóm nhà cấp bốn sát bên, cùng diện tích, vừa bán được giá 5 tỷ. Tôi còn có một ôtô bảy chỗ, giờ cho thuê cũng được 5 triệu mỗi tháng. Ngoài ra, tôi còn sở hữu một lô đất trống giá thị trường khoảng 10 tỷ, đang để hàng xóm vừa trồng rau, vừa giữ đất giúp. Họ tự gửi lại tôi 2 triệu mỗi tháng, chứ thực ra tôi cũng không đặt nặng chuyện đó. Ở vùng ven, tôi còn hai lô đất nữa, giá trị lần lượt khoảng 1,4 và 1,5 tỷ.
>> Tôi 'sợ' nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Trước khi dừng hẳn việc kinh doanh, tôi cũng kịp bán đi một bất động sản, thu về 1,55 tỷ để làm khoản phòng thân. Số tiền đó, tôi không dám tiêu thoải mái mà chia ra nhiều phần: 75 triệu đồng để sẵn chi tiêu trong ba tháng tiếp theo cho cả gia đình và phụ cấp ba mẹ; 1 tỷ đồng gửi ngân hàng (lãi 9% một năm, tính ra mỗi tháng cũng được khoảng 7,5 triệu); phần còn lại khoảng 275 triệu tôi gửi ngắn hạn ba tháng (lãi 6% một năm, mỗi tháng thêm được hơn 1 triệu).
Nếu cộng với khoản tiền cho thuê xe và đất, thì mỗi tháng tôi có thu nhập khoảng gần 16 triệu mà không cần làm gì. Số tiền này sẽ giảm dần khi tôi rút ra lo chi phí hàng tháng cho gia đình (khoảng 25 triệu). Tức là mỗi tháng tôi vẫn âm khoảng 9 triệu, phải lấy từ tiền dự phòng ra để bù vào.
Nghe thì có vẻ không ổn, nhưng nếu nhìn tổng thể những gì mình đang có, tôi biết bản thân vẫn có thể nghỉ ngơi được thêm một thời gian nữa. Hiện tại, tôi là một ông bố đơn thân (vợ tôi mất sớm), đang nuôi con lớn của tôi đang học năm Nhất đại học, đứa nhỏ học lớp 11, và phụng dưỡng bố mẹ già. Với nhiều người, 25 triệu không phải là con số nhỏ, nhưng tôi thấy đó là mức cần thiết để lo cho gia đình một cách đàng hoàng.
Nhiều lúc tôi cũng tự hỏi: với tình hình này, liệu mình có đang đánh liều không khi chọn dừng làm việc từ sớm? Nhưng rồi tôi cũng nghĩ ngược lại rằng nếu không dừng bây giờ, thì sẽ chịu đựng được đến khi nào? Sức khỏe của tôi đã xuống rõ. Những năm vừa rồi, tôi gần như chỉ biết làm việc, ăn uống thất thường, ngủ nghỉ thiếu khoa học. Nếu cứ tiếp tục như thế, có thể tôi sẽ kiếm thêm nhiều tiền, nhưng chưa chắc còn đủ sức để dùng đến chúng.
Thực ra, tôi không nghĩ mình đã nghỉ hẳn. Nói đúng hơn, tôi đang cho mình một khoảng nghỉ có tính toán. Khoảng nghỉ này có thể kéo dài vài năm, đủ để tôi ổn định lại bản thân, đủ để hai đứa nhỏ học xong đại học. Sau đó, tôi dự định sẽ chia cho mỗi đứa một phần tài sản, còn mình thì tìm một nơi nào đó yên tĩnh, mua miếng đất nhỏ, sống đơn giản lại đến già.
Có thể lúc đó, tôi sẽ không làm kinh doanh lớn nữa. Nếu có làm thì cũng chỉ là thứ gì đó nhẹ nhàng, đủ để tôi thấy mình có ích, chứ không phải gồng lên như trước. Viết ra những dòng này, tôi cũng không chắc mình đang đúng hay sai? Chỉ là lần đầu tiên trong đời, tôi quyết định không "chạy" nữa. Và tôi đang học cách sống chậm lại. Liệu đó có phải là một quyết định sai lầm?
Phuc Thanh

Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Dương Vũ Huy Hoàng
Tin Gốc: https://vnexpress.net/con-bao-ngam-cua-nhieu-nguoi-viet-dang-song-o-duc-5059819.html

Tôi bước sang tuổi 40 trong một trạng thái mà nhiều người có thể gọi là ổn định. Công việc đều, thu nhập đủ, có nguồn thu cho thuê, gia đình không có biến động lớn. Nếu nhìn từ bên ngoài, tôi không có lý do gì để dừng lại.
Nhưng chỉ có tôi mới cảm nhận rõ một điều là mình đang chậm lại. Không phải là thất bại, cũng không phải một cú sốc nào rõ rệt. Tôi vẫn đi làm, vẫn hoàn thành công việc, vẫn đạt những mục tiêu quen thuộc.
Nhưng cảm giác hứng thú gần như biến mất. Những thứ trước đây từng khiến tôi có động lực, giờ chỉ còn là trách nhiệm. Tôi bắt đầu sống theo quán tính, và điều đó khiến tôi thấy bất an hơn cả áp lực.
Có một câu hỏi cứ lặp lại trong đầu tôi thời điểm đó: Nếu cứ tiếp tục như vậy, 5 hay 10 năm nữa, mình sẽ trở thành phiên bản nào của chính mình?
Tôi không tìm được câu trả lời khi vẫn đang quay trong guồng công việc. Vì thế, ở tuổi từ 40 đến 42, tôi quyết định cho mình một khoảng nghỉ. Không phải nghỉ hẳn, cũng không buông bỏ tất cả, mà là một bước lùi có chủ đích để không tiếp tục đi trong trạng thái mơ hồ.
Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm, công việc không còn là trung tâm của mọi quyết định. Tôi bắt đầu dành thời gian cho những thứ trước đây luôn bị xếp sau. Tôi đi nhiều hơn. Tôi gặp gỡ bạn bè một cách thoải mái, không cần gắn với lợi ích nào. Tôi cho phép mình có những khoảng thời gian không làm gì cả, điều mà trước đây gần như không tồn tại.
Và tôi bắt đầu tập thể thao đều đặn, ba đến bốn buổi mỗi tuần. Tôi bắt đầu trồng cây cảnh, nuôi cá, đọc sách, viết lách, đi du lịch thường xuyên
Ban đầu, cảm giác không dễ chịu. Tôi quen với việc luôn phải bận rộn, luôn phải tạo ra kết quả. Khi nhịp độ chậm lại, tôi có cảm giác như mình đang tụt lại phía sau. Nhưng càng đi qua giai đoạn đó, tôi càng nhận ra dừng lại không phải là thụt lùi. Có những lúc, đó là cách duy nhất để không đi sai đường quá xa.
Khoảng thời gian đó cho tôi một quãng thời gian để nhìn lại, thứ mà trước đây tôi gần như không có.
Tôi nhận ra suốt nhiều năm, mình sống rất nhanh. Luôn đặt mục tiêu tiếp theo ngay khi vừa đạt được mục tiêu hiện tại. Luôn cố gắng làm nhiều hơn, tốt hơn, nhanh hơn. Nhưng lại rất ít khi tự hỏi mình có thực sự muốn điều đó hay không.
Ở tuổi 20-30, cách sống đó giúp tôi tiến lên. Nhưng đến tuổi 40, nếu vẫn tiếp tục như vậy, cảm giác trống rỗng bắt đầu xuất hiện. Không phải vì thiếu thành tựu, mà vì thiếu hiểu biết với chính mình.
Hai năm chậm lại không mang đến cho tôi tất cả câu trả lời, nhưng nó giúp tôi đặt lại những câu hỏi đúng.
Khi quay lại công việc, tôi không còn là người trước đó nữa. Tôi không đặt mục tiêu duy nhất là kiếm tiền, cũng không cố làm nhiều nhất có thể. Tôi bắt đầu chọn cách làm việc phù hợp với trạng thái của mình hơn.
Khi còn năng lượng, tôi làm việc tập trung và hiệu quả. Khi mệt, tôi nghỉ mà không còn cảm thấy áy náy. Khi có thời gian rảnh, tôi đi chơi, tận hưởng hoặc đơn giản là ở yên trên sân thượng cho cá ăn, dọn bể, cắt tỉa cành. Những điều trước đây từng khiến tôi thấy không hiệu quả, giờ lại trở thành một phần cần thiết.
Việc tập thể thao vẫn được duy trì đều đặn. Không phải để đạt thành tích gì, mà để giữ cho cơ thể đủ khỏe và đầu óc đủ rõ ràng hoặc rủ bỏ stress của ngày đó. Sau một thời gian, tôi nhận ra năng lượng của mình không còn bùng nổ như trước, nhưng lại bền và ổn định hơn.
Đi qua giai đoạn đó, tôi hiểu rõ hơn về cái gọi là khủng hoảng tuổi trung niên. Thực ra, đó không hẳn là khủng hoảng. Đó là lúc con người bắt đầu nhìn lại và nhận ra những gì từng phù hợp trước đây có thể không còn phù hợp nữa.
Vấn đề không nằm ở việc chững lại, mà nằm ở cách mình phản ứng với nó.
Nhiều người tiếp tục chạy, dù không còn động lực. Nhiều người khác chọn dừng hẳn và thu mình lại. Cả hai đều dễ dẫn đến một trạng thái chung: Sống theo quán tính.
Trong khi đó, tuổi 40-60 vẫn là một quãng thời gian rất dài. Nếu không có sự điều chỉnh, rất dễ rơi vào việc làm cầm chừng, ngại thay đổi, tự hài lòng với những gì đang có. Và theo thời gian, cả thể chất lẫn tinh thần đều đi xuống.
Tôi không nghĩ ai cũng cần phải có một khoảng nghỉ như tôi. Nhưng tôi nghĩ ai bước vào tuổi 40 cũng sẽ có lúc phải đối diện với câu hỏi mình muốn sống phần đời còn lại như thế nào?
Với tôi, khoảng nghỉ đó không làm tôi mất đi điều gì quá lớn. Ngược lại, nó giúp tôi hiểu rõ hơn về bản thân, biết điều gì thực sự quan trọng, và học cách cân bằng giữa làm việc và sống.
Tôi không làm ít đi mà chỉ làm việc có chọn lọc hơn. Nếu nhìn lại, tôi không hối tiếc vì đã chững lại ở tuổi 40. Không phải vì đó là một quyết định hoàn hảo, mà vì đó là một quyết định cần thiết.
Ở thời điểm đó, tôi nhận ra mình không còn nhiều thời gian để thử sai một cách vô thức. Nhưng mình vẫn còn đủ thời gian để sống một cách có ý thức. Và đôi khi, để làm được điều đó, mình cần đủ dũng cảm để chậm lại và đủ mạnh mẽ để khởi động lại bản thân sau thời kỳ tạm ngủ đông.
Nguyen Thanh Phat

