Sáng 12-4, BS.CK2 Nguyễn Thị Anh Phương, Trưởng khoa sản Bệnh viện Hùng Vương, cho biết các bác sĩ của bệnh viện vừa xử trí thành công một trường hợp thai phụ mang u xơ tử cung khổng lồ, diễn tiến phức tạp, đe dọa sức khỏe của cả mẹ và thai nhi.
Bệnh nhân là chị N.T.T. (35 tuổi, ngụ TP.HCM), nhập viện ngày 23-3 khi đang mang thai 35 tuần do khối u xơ tử cung lớn sa ra ngoài âm đạo – tình trạng có nguy cơ gây nhiều biến chứng.
Trước đó thai phụ đã sinh thường hai lần đủ tháng, không bất thường. Tuy nhiên, trước lần mang thai thứ ba, chị được phát hiện có u xơ tử cung lớn và đã được bóc u qua đường âm đạo tại một cơ sở y tế.
Đến tuần thai thứ 14, chị khám tại Bệnh viện Hùng Vương, các bác sĩ phát hiện khối u tái phát, kích thước khoảng 7x8x5cm, xuất phát từ cổ tử cung và tiếp tục sa vào âm đạo, nên chỉ định phẫu thuật lần hai.
Đến tuần thai thứ 29, khối u phát triển nhanh, kèm nhiễm trùng và hoại tử, buộc phải mổ lần ba. Theo các bác sĩ, trong thai kỳ, việc bóc u xơ chủ yếu nhằm xử lý tạm thời để kéo dài thời gian cho thai nhi phát triển.
Ở lần mổ này, khối u đã tăng lên khoảng 20x20cm, sa hẳn ra ngoài âm hộ, có dấu hiệu nhiễm trùng, tạo mủ. Sau phẫu thuật, thai phụ được điều trị kháng sinh, kiểm soát tình trạng nhiễm trùng và dọa sinh non. Sau 10 ngày, bệnh nhân ổn định và xuất viện để tiếp tục dưỡng thai.
Tuy nhiên, đến tuần thai 35, khi tái khám, khối u tiếp tục tái phát và che kín cổ tử cung. Siêu âm cho thấy thai nhi phát triển, nặng khoảng 2,2kg, ngôi mông, nước ối bình thường. Thai phụ đồng thời mắc viêm gan B mạn tính.
Sau đó bệnh nhân xuất hiện các cơn gò dày (3-4 cơn mỗi 10 phút) nên được đưa đến bệnh viện. Do thai ngôi mông và khối u lớn chắn đường sinh, các bác sĩ quyết định mổ lấy thai kết hợp bóc u vào tối 24-3.
Ca mổ diễn ra thuận lợi, bé gái chào đời an toàn với cân nặng gần 2,3kg. Ê kíp đã bóc toàn bộ khối u trong ổ bụng và phần sa ngoài âm đạo, với tổng trọng lượng khoảng 1,1kg.
Sau mổ, sức khỏe mẹ và bé ổn định, không ghi nhận bất thường qua siêu âm. Đến ngày 10-4, hai mẹ con được xuất viện.
Trên thực tế, các biến chứng tiểu đường, đặc biệt là tổn thương thần kinh và rối loạn tuần hoàn máu, thường biểu hiện rõ hơn vào ban đêm. Khi cơ thể nghỉ ngơi, lưu lượng máu đến chân giảm và sự chú ý của não bộ không còn bị phân tán, khiến cảm giác đau trở nên rõ rệt hơn, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nếu cơn đau chân ban đêm xuất hiện các dấu hiệu sau thì không nên chủ quan với tiểu đường.
Đây là kiểu đau phổ biến nhất liên quan đến tiểu đường. Người bệnh thường cảm thấy bàn chân như bị nóng rát, kim châm hoặc có cảm giác như điện giật. Cơn đau thường xuất hiện rõ khi nằm nghỉ và có xu hướng nặng hơn vào ban đêm.
Nguyên nhân chính là do đường huyết tăng cao trong thời gian dài làm tổn thương các dây thần kinh ngoại biên. Khi đó, tín hiệu cảm giác bị rối loạn, khiến não nhận được những tín hiệu đau ngay cả khi không có kích thích thực sự. Đồng thời, cơ chế kiểm soát cảm giác đau của cơ thể cũng suy giảm, làm cơn đau trở nên dai dẳng hơn.
Ngoài cảm giác đau, người bệnh có thể kèm theo tê bì hoặc giảm cảm giác ở bàn chân. Đây là dấu hiệu cho thấy tổn thương thần kinh đang tiến triển và cần được kiểm tra sớm.
Chuột rút là tình trạng cơ co thắt đột ngột, gây đau dữ dội và thường xảy ra khi đang ngủ. Nếu hiện tượng này xuất hiện thường xuyên, đặc biệt ở người có nguy cơ cao, thì có thể liên quan đến tiểu đường.
Chuột rút do tiểu đường thường xảy ra ở bắp chân, kéo dài vài phút, sau đó có thể để lại cảm giác đau âm ỉ. Nếu tình trạng này lặp lại nhiều lần thì không nên chủ quan.
Một kiểu đau khác dễ bị bỏ qua là cảm giác đau âm ỉ, nặng chân hoặc mỏi sâu trong cơ. Cơn đau này thường không rõ vị trí cụ thể và có thể xuất hiện nhiều hơn vào ban đêm.
Người bệnh đôi khi còn thấy chân lạnh, da nhợt hoặc dễ mệt khi đi lại. Đây là dấu hiệu quan trọng vì nếu kéo dài có thể dẫn đến loét hoặc tổn thương nghiêm trọng ở chi dưới.
Không phải lúc nào đau chân cũng được mô tả là đau. Một số người cảm thấy chân rất khó chịu, như có kiến bò hoặc ngứa sâu bên trong, khiến họ phải liên tục cử động chân mới dễ chịu hơn.
Tình trạng này thường xuất hiện vào buổi tối hoặc khi nằm nghỉ, làm người bệnh khó ngủ hoặc ngủ không sâu. Đây là biểu hiện của hội chứng chân không yên, một rối loạn có liên quan đến tiểu đường, đặc biệt khi đã có tổn thương thần kinh, theo Verywell Health.
Ngày 10/4, BSCKI. Dương Thị Thúy Quỳnh, khoa Điều trị Bệnh da nam giới, Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho hay bệnh nhân nhập viện với triệu chứng xuất hiện dát mảng trắng, sưng nề kèm tiết dịch mủ vùng quy đầu, bao quy đầu, đau rát nhẹ tại tổn thương.
Kết quả chẩn đoán bệnh nhân bị giang mai chưa loại trừ bội nhiễm, được chỉ định thực hiện một số xét nghiệm, sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhuộm soi vi khuẩn có cầu khuẩn gram dương, trực khuẩn gram âm và siêu âm có hạch bẹn 2 bên. Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc, sau 3 ngày tình trạng ổn định.
Giang mai là bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn giang mai Treponema pallidum gây nên. Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường tình dục và có thể lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây thương tổn ở da - niêm mạc và nhiều tổ chức, cơ quan của cơ thể, như cơ, xương khớp, tim mạch và thần kinh. Bệnh gây hậu quả nghiêm trọng như giang mai thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm toàn cầu ghi nhận khoảng 7 triệu ca mắc mới giang mai ở người trưởng thành. Tại Việt Nam, bệnh giang mai chiếm khoảng 2-5% trên tổng số bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó tỷ lệ mắc giang mai trên bệnh nhân đến khám bệnh lây truyền qua đường tình dục là 4,0%, gái mại dâm 4,5%.
TS.BS Quách Thị Hà Giang, Trưởng Khoa Điều trị bệnh da nam giới, cho hay quan hệ tình dục không an toàn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có bệnh giang mai. Cả nam và nữ đều có nguy cơ mắc bệnh nếu không được bảo vệ. Vì đáp ứng miễn dịch đối với bệnh giang mai rất yếu nên người đã mắc bệnh, dù đã được điều trị khỏi, vẫn có thể tái nhiễm nếu tiếp tục quan hệ tình dục không an toàn.
Hơn nữa, bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm, thậm chí hàng chục năm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, gây ra những di chứng không hồi phục như giang mai thần kinh – gây viêm màng não, liệt dây thần kinh sọ, tăng áp lực nội sọ; viêm tủy sống gây liệt; viêm củng mạc, mống mắt, màng bồ đào, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người bệnh
Những nguy cơ này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người bệnh mà còn đối với bạn tình, đồng thời có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng trong thai kỳ đối với thai nhi và trẻ sơ sinh. Chính vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm giang mai cho tất cả phụ nữ mang thai ngay từ lần khám thai đầu tiên nhằm phát hiện sớm, điều trị kịp thời và ngăn ngừa lây truyền từ mẹ sang con.
Người dân khi có quan hệ tình dục không an toàn nên chủ động đi khám sớm tại các cơ sở y tế chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường, để được điều trị đúng, đủ theo phác đồ. Không được tự ý điều trị hoặc ngâm/rửa các loại lá, bôi các loại thuốc không rõ tác dụng, tránh làm bệnh nặng hơn.
Để ngăn ngừa và giảm thiểu các nguy cơ mắc bệnh, cần tích cực truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng. Khuyến khích người dân về lối sống lành mạnh, quan hệ tình dục an toàn để ngăn ngừa nguy cơ biến chứng sau nhiều năm.
Song, không phải cách chế biến nào cũng giữ trọn giá trị dinh dưỡng vốn có. Thực tế cho thấy cùng một loại thực phẩm nhưng nếu nấu sai cách, dưỡng chất có thể giảm đi đáng kể. Điều này đặc biệt đúng với bông cải xanh, khi một số hợp chất có lợi dễ bị phá hủy dưới tác động của nhiệt độ cao hoặc thời gian nấu kéo dài, theo trang sức khỏe Verywell Health.
Bà Stephani Johnson, chuyên gia dinh dưỡng tại Mỹ, cho biết việc nấu bông cải xanh quá lâu làm suy giảm các dưỡng chất trong bông cải xanh, trong đó có sulforaphane.
Theo đó, quá trình nấu chín bông cải xanh có thể ức chế enzyme myrosinase. Đây là enzyme cần thiết để tạo ra sulforaphane. Khi nấu ở nhiệt độ cao hoặc trong thời gian dài, lượng sulforaphane giảm đáng kể.
Một nghiên cứu đăng trên Journal of Agricultural and Food Chemistry cũng cho thấy việc cắt nhỏ trước và xào sơ có thể giúp giữ lại nhiều sulforaphane, một chất chống oxy hóa quan trọng.
Xào sơ bông cải xanh giúp duy trì hoạt động của enzyme. Nhờ đó, lượng sulforaphane trong món ăn cao hơn.
Ngoài ra, việc cắt bông cải xanh thành miếng nhỏ khoảng 90 phút trước khi xào giúp đạt hiệu quả tốt nhất.
Việc cắt nhỏ bông cải xanh giúp kích hoạt enzyme myrosinase, từ đó chuyển hóa hợp chất glucoraphanin thành sulforaphane trước khi nhiệt độ cao làm enzyme này mất hoạt tính.
Sulforaphane là hợp chất tự nhiên có trong các loại rau như bông cải xanh, súp lơ và cải xoăn. Chất này có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm.
Bà Johnson cho biết sulforaphane giúp cơ thể sản sinh enzyme chống oxy hóa. Các enzyme này trung hòa gốc tự do và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương. Chất này còn hỗ trợ phòng ngừa ung thư bằng cách ức chế sự phát triển của tế bào bất thường, giảm viêm và giảm stress oxy hóa.
Sulforaphane cũng hỗ trợ gan giải độc, giúp ổn định huyết áp, từ đó bảo vệ hệ tim mạch.
Bông cải xanh cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất như vitamin C, K, A, kali, magiê, canxi và sắt.
Thực phẩm này giàu chất xơ, hỗ trợ tiêu hóa và chứa nhiều chất chống oxy hóa như sulforaphane, lutein và zeaxanthin.
Theo bà Johnson, bông cải xanh luôn là thực phẩm ít calo và giàu chất xơ, phù hợp cho chế độ ăn lành mạnh.
Việc thay đổi cách chế biến giúp tăng thêm lợi ích dinh dưỡng, nhưng không cần quá khắt khe. Ăn bông cải xanh dưới bất kỳ hình thức nào vẫn tốt cho sức khỏe. Cách ăn sống hoặc nấu sơ thường giúp giữ lại nhiều dưỡng chất hơn.