Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 – 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 – 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế – xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
“Việc đặt mục tiêu ở mức “trung bình cao” trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững”, TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các “đầu tàu” nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 – 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 – 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông – việc làm – nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công – tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
“Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045”, KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là “xương sống” của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Theo Cục Thuế, xung đột leo thang tại Trung Đông và nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu thô qua các tuyến vận chuyển trọng yếu đã khiến cho giá dầu thô thế giới tăng đột biến, kéo theo giá xăng dầu trong nước có nhiều biến động mạnh. Đặc biệt trong tháng 3 với 5 lần điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, hóa đơn trong kinh doanh xăng dầu, cần được theo dõi, phân tích để kịp thời phát hiện sai phạm và xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật; theo đúng chỉ đạo của Phó thủ tướng Bùi Thanh Sơn về chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu.
Qua rà soát cơ sở dữ liệu về hóa đơn điện tử đối với một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, Cục Thuế thấy một số dấu hiệu bất thường như số lượng hàng bán trước và sau thời điểm điều chỉnh giá có sự biến động mạnh, cá biệt có những doanh nghiệp tổng sản lượng xuất bán trong 2 ngày trước lớn gấp hơn 3 lần sản lượng 2 ngày sau thời điểm tăng giá; tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong quản lý thuế.
Cục Thuế yêu cầu thuế các địa phương tập trung nguồn lực thực hiện rà soát, phân tích dữ liệu về khai thuế, hóa đơn điện tử, sản lượng bán hàng, doanh thu, tồn kho... trước và sau thời điểm Nhà nước điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu; xác định doanh nghiệp có rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý trực tiếp, kiểm tra đột xuất cụ thể như sau:
Kiểm tra việc khai, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường; kiểm tra việc lập hóa đơn điện tử từng lần bán hàng đối với mặt hàng xăng, dầu trong thời kỳ bán hàng từ tháng 1 đến tháng 3 năm nay.
Cụ thể, kiểm tra lượng xăng dầu hàng bán ra của doanh nghiệp tại các ngày trước, trong và sau ngày Nhà nước điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu. "Đây là những ngày sản lượng xăng, dầu xuất bán biến động lớn hơn nhiều so với các ngày khác", Cục Thuế nhấn mạnh với các lưu ý về kiểm tra như: số lượng hóa đơn điện tử xuất trong ngày, lưu ý các hóa đơn điện tử có sản lượng lớn; đối chiếu sổ sách kế toán bán hàng để đối chiếu lượng hàng hóa đã bán với hóa đơn đã phát hành và hàng hóa đã thực tế xuất kho.
Đồng thời, kiểm tra sổ sách xuất, nhập, tồn kho theo ngày/ca bán hàng để xác định khối lượng tồn kho chính xác tại thời điểm điều chỉnh giá xăng dầu; kiểm tra chứng từ thủ tục xuất hàng nhân hàng của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
Đối với khách hàng mua số lượng lớn xăng dầu lớn bất thường, chú ý kiểm tra phương tiện vận chuyển xăng dầu, kho chứa xăng dầu của các khách hàng mua số lượng lớn, hợp đồng mua bán, điều kiện, thời gian giao hàng, nhận hàng.
"Trường hợp phát hiện các dấu hiệu về hành vi găm hàng, đầu cơ, hạn chế bán ra nhằm trục lợi khi giá biến động; hành vi lập và sử dụng hóa đơn không đúng thời điểm hoặc không phản ánh đúng bản chất giao dịch; các hành vi gian lận về giá, chuyển lợi nhuận giữa các đơn vị quan hệ liên kết; hành vi không xuất hóa đơn, xuất hóa đơn không đầy đủ, rủi ro trong việc chấp hành pháp luật thì xử lý nghiêm theo quy định hoặc củng cố hồ sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định", Công văn 1976 của Cục Thuế nhấn mạnh.
Việc kiểm tra nói trên được triển khai và kết thúc trong tháng 4 này. Ngoài ra, Cục Thuế cũng yêu cầu Thuế tỉnh, Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn trong trường hợp không thể thực hiện kiểm tra doanh nghiệp thì phải có báo cáo rõ lý do.
Đồng thời báo cáo về Cục Thuế kết quả kiểm tra từng doanh nghiệp bao gồm số thuế truy thu, số tiền phạt... Đánh giá hành vi vi phạm phổ biến; khó khăn vướng mắc trong quản lý thuế; đề xuất biện pháp quản lý thuế...
Cùng tham gia làm việc có Thành viên HĐTV Lê Hoàng Oanh, Phó tổng giám đốc EVNSPC Đào Hoà Bình và các ban chuyên môn, các đơn vị thành viên của Tổng công ty.
Đến kiểm tra tiến độ tại các công trình, lãnh đạo EVNSPC đã nghe Ban Quản lý dự án Điện lực miền Nam, Công ty Điện lực An Giang, các nhà thầu báo cáo tiến độ thi công móng trụ, kế hoạch cung cấp cột, lắp dựng cột, lắp tiếp địa... của 2 dự án đường dây 110kV Phú Quốc - Bắc Phú Quốc, Phú Quốc - Nam Phú Quốc và các hạng mục thi công Trạm biến áp 220kV Phú Quốc; cũng như các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Tính đến ngày 15.4, dự án đường dây 110kV Phú Quốc - Bắc Phú Quốc đã có mặt bằng thi công 73/77 vị trí móng trụ, còn 4 vị trí móng chưa được bàn giao mặt bằng. Đơn vị thi công đã hoàn thành 50 móng trụ, đồng thời đang triển khai lắp dựng 48 trụ. Dự kiến, toàn bộ mặt bằng còn lại được bàn giao chậm nhất ngày 20.4.2026.
Đối với dự án đường dây 110kV Phú Quốc - Nam Phú Quốc, chỉ mới có mặt bằng 29/69 vị trí móng trụ, còn 40 vị trí chưa được bàn giao. Các đơn vị đang tổ chức thi công đồng loạt các vị trí đã có mặt bằng. Công ty Điện lực An Giang đang phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, phấn đấu đến ngày 20.5.2026 hoàn tất công tác bàn giao mặt bằng để thi công.
Đối với Trạm biến áp 220kV Phú Quốc, mặt bằng trạm đã được bàn giao, riêng khu vực tường chắn đất vẫn còn 3 hộ dân chưa nhận tiền bồi thường và chưa bàn giao mặt bằng. Trên công trường hiện đang có khoảng 150 nhân công triển khai thi công đồng loạt các hạng mục san lấp mặt bằng trạm, lắp đặt cốt thép, đổ bê tông, san nền…
Qua thực tế kiểm tra và nghe các đơn vị báo cáo, lãnh đạo EVNSPC ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực của Ban Quản lý dự án Điện lực miền Nam, Công ty Điện lực An Giang cùng các nhà thầu, đơn vị tư vấn, giám sát trong việc tăng ca, tăng kíp, đẩy nhanh tiến độ thi công; bám sát chính quyền các địa phương trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Khẳng định đây là các công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đặc khu Phú Quốc, nhất là Hội nghị cấp cao APEC năm 2027, Chủ tịch HĐTV EVNSPC Lê Văn Trang yêu cầu các đơn vị tiếp tục quyết liệt hơn nữa. Các nhà thầu cần tăng cường nhân lực, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ thi công, với tinh thần có mặt bằng đến đâu, thi công ngay đến đó; đảm bảo tiến độ cung cấp vật tư, thiết bị cho tất cả các hạng mục; đồng thời chủ động báo cáo, đề xuất giải pháp xử lý ngay các vướng mắc phát sinh.
Lãnh đạo EVNSPC yêu cầu Công ty Điện lực An Giang bám sát, phối hợp chặt chẽ với UBND tỉnh An Giang, đặc khu Phú Quốc, chính quyền địa phương các cấp trong công tác vận động người dân, tạo sự đồng thuận để sớm bàn giao mặt bằng sạch cho thi công.
Để đảm bảo tiến độ đóng điện các dự án đúng theo chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh An Giang và Tập đoàn Điện lực Việt Nam, thời gian qua, EVNSPC và các đơn vị liên quan đã ưu tiên tập trung mọi nguồn lực cho các dự án. Lãnh đạo EVNSPC đã thành lập Ban chỉ huy tiền phương triển khai các dự án tại Phú Quốc, thường xuyên có mặt tại công trường để kiểm tra, giám sát tiến độ thi công; liên tục có các buổi làm việc, báo cáo với lãnh đạo UBND tỉnh An Giang, lãnh đạo đặc khu Phú Quốc về tiến độ thi công, giải pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Với sự vào cuộc quyết liệt và sẵn sàng mọi nguồn lực cho các dự án trên, EVNSPC quyết tâm hoàn thành các dự án theo đúng kế hoạch, đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định và tin cậy, đáp ứng yêu cầu phát triển của đặc khu Phú Quốc và Hội nghị cấp cao APEC 2027.
Sở hữu hơn 30 khu công nghiệp (KCN) và nhiều nhà xưởng cho thuê tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, ông Trần Việt Anh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu Tư SCC (SCCI) - nêu thực trạng: Để xây dựng được một KCN hoàn chỉnh, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu rất lớn. Chẳng hạn, 1 KCN quy mô 400 ha thì ngay từ đầu đã phải đầu tư hạ tầng hết 400 ha đó. Thế nhưng, các KCN không thể ngay lập tức lấp đầy mà phải cần thời gian dài. Điều này nghĩa là thời gian hoàn vốn cho bất động sản công nghiệp (BĐS CN) là rất lớn.
Trong khi đó, đây là ngành khá nhạy cảm với những tác động từ bên ngoài. Chiến tranh vừa nổ ra là lập tức đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều khách hàng của SCCI chuẩn bị ký hợp đồng lập tức chậm lại, chờ, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty.
Thế nhưng, ông Trần Việt Anh cho rằng một điều bất hợp lý là NHNN, các ngân hàng thương mại hiện không tách riêng BĐS CN như 1 trường hợp riêng mà gom chung hết vào BĐS và không coi đây là 1 động lực phát triển kinh tế. Việt Nam là trường hợp rất riêng vẫn còn gom chung BĐS CN với các loại BĐS khác.
Ở Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, họ tách BĐS CN ra thành 1 dòng riêng, gắn với động lực sản xuất, gắn với hoạt động thương mại. Khi đã gắn BĐS CN với động lực sản suất thì định hướng dòng vốn của ngân hàng sẽ có khác. Các DN BĐS CN sẽ có lợi thế khi tiếp cận vốn tín dụng.
Để chứng minh quan điểm này, ông Trần Việt Anh dẫn chứng: Trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua, đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam do Tổng Bí Thư Tô Lâm dẫn đầu đã tới thăm KCN ở Hùng An. Nơi đây được nhà nước quy hoạch tổng thể ngay từ đầu, huy động nguồn tài chính lớn, chủ động nguồn nhân lực. Nhờ vậy, chỉ sau gần 10 năm, Hùng An đã thu hút tới 400 DN lớn, hình thành 1 hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp rất tốt.
Điển hình, tất cả thủ tục, kể cả tín dụng ở đây DN chỉ trong 1 tháng là hoàn thành xong. Ngân hàng cho vay đánh giá trên hiệu quả 1 dự án mang lại chứ không đánh giá trên tài sản thế chấp như tại Việt Nam. Có trường hợp 1 DN chỉ sau 10 năm về Hùng An hoạt động đã trở thành DN nằm top 3 nhà cung cấp giải pháp điện thông minh của Trung Quốc.
"Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc coi Hùng An là 1 cực tăng trưởng mới của Trung Quốc. Họ xác định rõ BĐS không phải để đầu cơ, mà là hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn. Vì thế, các chính sách của họ và nguồn tín dụng cũng được nắn theo hướng này. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng tôi phát triển 1 khu BĐS CN ở Gia Lai 20 năm, cho thuê giá rất thấp nhưng đến giờ mới lấp đầy khoảng 70%. Nếu vay ngân hàng hàng, chịu lãi suất 20 năm thì chỉ có "chết" - ông Việt Anh nói thẳng
Từ câu chuyện của Hùng An, Tổng giám đốc SCCI khẳng định: Vốn tín dụng cho BĐS nếu buông lỏng sẽ thành rủi ro nhưng nếu niểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Việt Nam cần thống nhất quan điểm coi BĐS là động lực tăng trưởng, nhất là BĐS CN, logistics. Từ đó, nhận diện vấn đề không phải siết hay nới mà là định hướng dòng vốn.
Ông đề xuất: Cơ quan quản lý cần phân loại tín dụng bất động sản theo mục tiêu sử dụng, ưu tiên cho bất động sản công nghiệp, logistics. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế tín dụng dài hạn, phù hợp chu kỳ đầu tư. Quan trọng là kiểm soát tín dụng dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Cuối cùng là cần nhìn nhận bất động sản nói chung như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.
"Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn. Nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ. Nếu chúng ta chỉ nhìn bất động sản dưới góc độ rủi ro tín dụng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội. Nếu nhìn đúng bản chất, bất động sản chính là hạ tầng của tăng trưởng" - ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.