“Cơ quan chức năng cần phân tích những ưu và nhược điểm, tác động của hàng cây này với bờ kè và người dân. Vậy sau 7 năm từ khi hoàn thành chưa nghiệm đến bây giờ chất lượng có còn đảm bảo để nghiệm thu không?
Thông thường sẽ nghiệm thu ngay sau khi hoàn thành. Tại sao không đặt vấn đề từ lúc mới hoàn thành? Để tận bây giờ thì có đạt hay không đạt thì lấy lý gì để căn cứ? Rồi ai chịu trách nhiệm về kết quả của bờ kè?”.
Độc giả nickname Hamy1401 đặt ba câu hỏi như trên, sau bài viết Hàng đước mọc ngoài thiết kế, kè sông ở Nha Trang không thể bàn giao. Theo đó, hàng đước dài 4-5 km mọc hai bên sông Quán Trường khiến dự án kè tổng đầu tư 590 tỷ đồng nhiều năm chưa thể bàn giao vì không có trong thiết kế ban đầu.
Dự án kè sông Quán Trường được UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt năm 2003. Sau 6 năm cùng nhiều lần điều chỉnh, công trình khởi công. Đến năm 2019, dự án hoàn thành và chờ nghiệm thu, bàn giao.
Tuy nhiên đến nay công trình vẫn “treo” khâu nghiệm thu do xuất hiện hai dải cây chủ yếu là đước mọc dọc bờ kè, kéo dài 4-5 km ở cả hai bên sông Quán Trường, thuộc phường Nam Nha Trang. Theo người dân, hàng đước cao hơn một mét, mọc tự nhiên khi thực hiện dự án.
Độc giả nickname Tèo em phân tích:
“Thứ nhất, bờ kè dốc từ mặt đường xuống đến chỗ hàng cây mọc khoảng 1,5m, tôi ước lượng theo hình. Chỗ cây mọc là một rìa đất rộng khoảng 2-3 m rồi mới tới dòng chảy. Vậy thì theo đặc điểm của rễ thực vật, nó chỉ đi từ rìa đất cắm xuống bùn chứ chẳng khi nào mọc ngược lên để làm nứt bờ kè.
Thứ hai, rìa đất kia có cây sẽ là vùng đệm chống xói lở cho chân bờ kè. Nếu nó không có trong thiết kế thì nên xem lại lưu lượng dòng chảy và tính toán, ưu tiên giữ nó lại nếu nó không cản trở dòng chảy nhiều. Nếu nó có trong thiết kế thì chắc chắn nó sẽ được dùng để trồng hoa, trang trí.
Cây dại bao giờ cũng giúp bám đất giữ bờ tốt hơn cây trồng, nhất là khi so với các loài hoa ngắn ngày. Vậy thì chỉ cần cắm thêm mốc nạo vét ngay rìa dòng chảy, để cây nào mọc vươn ra ngoài thì tỉa, chỗ nào lở thì bồi.
Chỗ nào cần trồng hoa thì cắt cây dại nhưng không trục gốc mà chỉ đặt chậu hoa đè lên. Dải đất đó sẽ bảo đảm bờ kè không bị hổng chân, hàm ếch”.
Đước là loài cây quen thuộc, phát triển nhanh, khi trưởng thành cao hơn 10 m, đường kính thân 30-45 cm. Với hệ rễ cắm sâu, bám chắc, loài cây này thường được trồng ở các tỉnh ven biển và rừng ngập mặn để giữ đất, hạn chế xói lở.
Trước thực trạng trên, UBND tỉnh đã họp với các sở ngành và chuyên gia để xem xét phương án giữ lại hay chặt bỏ số cây này. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, các đơn vị chuyên môn thống nhất rằng hàng đước không phù hợp với hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt.
Ngoài yếu tố thiết kế, cây mọc sát công trình còn ảnh hưởng đến kết cấu bờ kè. Hệ rễ lớn làm nứt, bong tróc bề mặt, đồng thời có thể cản dòng chảy và làm chậm khả năng thoát lũ của tuyến kênh. Vì vậy, ngành chuyên môn đề xuất loại bỏ toàn bộ cây trên phần kè.
Phó chủ tịch UBND Khánh Hòa, cho biết tỉnh thống nhất theo đề xuất này. Tuy nhiên, việc chặt bỏ chưa nhận được sự đồng thuận của một số hộ dân dọc hai bên hạ lưu sông. Tỉnh đã giao các đơn vị liên quan tiếp tục ghi nhận ý kiến người dân để tránh phát sinh phản ứng trong quá trình xử lý.
Độc giả nickname thaonguyenbanggia góp ý:
“Bờ kè sông chỗ tôi sau khi đã làm kè kiên cố người ta còn trồng thêm đước bên ngoài, chỗ rìa đá hộc bảo vệ kè, mục đích để bảo vệ kè, chống xói lở rất hiệu quả, đặt biệt khi thuyền đi qua gây sóng đập vào bờ. Cây cũng tạo khoảng xanh, giúp công trình hài hòa hơn với thiên nhiên.
Tuy nhiên, cây này cũng có một vài vấn đề cần khắc phục, nếu giải quyết tốt thì vẫn rất đẹp:
Thứ nhất, lúc cây còn nhỏ thì rất lâu lớn và thường bị rầy trắng rất nhiều, gây mất mỹ quan và ảnh hưởng tới môi trường xung quanh cũng như ảnh hưởng đến dòng chảy.
Thứ hai, cây có tầng bao phủ rất lớn, dễ che khuất tầm nhìn, bị rác vướng vào cây gây mất mỹ quan, cần cắt tỉa gọn gàng các tầng thấp, chỉ giữ lại tầng cao để cây vươn lên khỏi tầm nhìn của người đi đường. Việc này cũng loại bỏ tác động của hàng cây đến dòng chảy của sông.
Nếu như xem đó là cây cần chăm sóc, tôi nghĩ chỉ 5 năm nữa hai bên bờ sông sẽ có một hàng đệm xanh mát, là điểm nhất sinh thái cho công trình.
Nếu ngồi đủ lâu ở một phòng chờ bệnh viện vào buổi sáng, bạn sẽ nhận ra không gian ấy đang già đi cùng xã hội. Những mái đầu bạc, có người mang theo một túi thuốc nhỏ, có người là cả một hồ sơ điều trị dày cộp.
Và đôi khi, người ta đùa với nhau rằng tuổi già không được đếm bằng năm sinh, mà bằng số loại thuốc phải uống mỗi ngày.
Đó là những chỉ dấu rất rõ của một xã hội đang già hóa nhanh. Có một thực tế trong y tế mà những người làm chính sách nhận ra là chúng ta đang sống lâu hơn, nhưng không phải lúc nào cũng sống khỏe hơn.
Thống kê cho thấy, người Việt có thể phải trải qua khoảng 10 năm cuối đời trong tình trạng mang bệnh hoặc sống chung với bệnh mạn tính. Quãng thời gian ấy không phải một vài đợt nằm viện ngắn ngủi, mà là một quãng đời kéo dài, nơi sức khỏe không còn là trạng thái ổn định mà trở thành một tiến trình cần theo dõi từng ngày.
Trong quãng thời gian đó, những cái tên quen thuộc như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch hay thoái hóa xương khớp không chỉ xuất hiện đơn lẻ. Chúng thường đi cùng nhau, chồng lấn lên nhau, tạo thành những "tầng gánh nặng" sức khỏe mà người cao tuổi phải mang theo.
Không có bệnh nào quá ồn ào để báo động ngay lập tức, nhưng tất cả cùng góp phần bào mòn dần chất lượng sống - từng chút một, âm thầm nhưng bền bỉ.
Và khi nhiều bệnh cùng tồn tại trong một cơ thể, y học cũng buộc phải thay đổi cách tiếp cận.
Không còn là câu chuyện "chữa một bệnh", mà là quản lý nhiều bệnh cùng lúc; không chỉ kê một đơn thuốc, mà phải tính đến hàng loạt tương tác; không chỉ kéo dài sự sống, mà quan trọng hơn là giữ được sự ổn định và tự chủ trong chính cuộc sống ấy.
Ở điểm này, chăm sóc sức khỏe không còn là phản ứng trước bệnh tật, mà trở thành một bài toán quản trị dài hạn cho cả một hệ sinh thái sức khỏe của con người.
Trong thực hành y tế, có một ngộ nhận khá phổ biến: bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm là hai "đường thẳng" tách biệt, mỗi loại đi một hướng, không liên quan đến nhau. Nhưng càng quan sát thực tế lâm sàng, càng thấy ranh giới ấy mờ đi rất nhiều.
Một người đang sống chung với tăng huyết áp hay đái tháo đường không chỉ đối mặt với "con số đường huyết" hay "chỉ số huyết áp", mà còn đối mặt với một hệ miễn dịch đã suy giảm phần nào, một cơ thể ít khả năng chống đỡ hơn trước các tác nhân bên ngoài.
Vì vậy, những bệnh tưởng chừng đơn giản như cúm mùa hay nhiễm trùng đường hô hấp lại có thể trở thành điểm khởi đầu cho những diễn biến nặng hơn, kéo dài hơn, và khó lường hơn.
Chính từ thực tế đó, cách tiếp cận y tế truyền thống - chờ đến khi bệnh xuất hiện rồi mới điều trị - đang bộc lộ rõ giới hạn của nó. Với người cao tuổi, đặc biệt là người có bệnh nền, y học không thể chỉ đứng ở vị trí "xử lý sự cố", mà phải chuyển dần sang vai trò chủ động hơn: Nhận diện nguy cơ từ sớm, phòng ngừa từ trước, và can thiệp trước khi những "mắt xích nhỏ" kịp nối thành một biến cố lớn.
Trong nhiều năm làm y tế, có một thay đổi rất rõ mà bất kỳ ai quan sát đủ lâu đều nhận ra: chúng ta không thể tiếp tục coi "đi khám" là điểm bắt đầu của chăm sóc sức khỏe. Bởi khi bệnh đã xuất hiện, cơ thể thường không còn ở trạng thái cân bằng như trước đó nữa.
Chính vì vậy, y học hiện đại buộc phải dịch chuyển sang một cách tiếp cận khác: không chỉ điều trị khi bệnh xảy ra, mà quan trọng hơn là làm sao để bệnh không có cơ hội xuất hiện, hoặc xuất hiện muộn hơn, nhẹ hơn, ít biến chứng hơn.
Đó cũng là tinh thần cốt lõi của chăm sóc sức khỏe toàn diện: theo dõi sức khỏe một cách liên tục, quản lý tốt bệnh nền, chủ động phòng ngừa nguy cơ mới, và điều chỉnh can thiệp phù hợp với từng người thay vì áp dụng một công thức chung.
hăm sóc sức khỏe toàn diện không phải là điều bắt đầu từ bệnh viện, mà bắt đầu từ rất sớm từ những lựa chọn tưởng như nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày.
Trước khi có một ca khám bệnh, đã có những bữa ăn ta ăn mỗi ngày, những bước chân ta có chịu đi bộ hay không, những đêm ngủ có đủ sâu hay chỉ là chợp chờn, và cả việc có duy trì tiêm chủng đầy đủ theo khuyến nghị hay không.
Những điều ấy, nhìn riêng lẻ thì rất đơn giản. Nhưng khi cộng lại theo thời gian, chúng lại tạo nên nền tảng sức khỏe của cả một đời người - thứ quyết định rất nhiều đến việc tuổi già sẽ đến trong trạng thái chủ động hay bị động.
Điều đáng suy ngẫm là trong khi nhiều người chuẩn bị rất kỹ cho tuổi già về mặt tài chính, thì lại ít người chuẩn bị tương xứng cho "vốn sức khỏe" của chính mình. Trong khi đó, sức khỏe mới là thứ quyết định liệu số tiền tích lũy kia được dùng trong an nhàn, hay trong bệnh viện.
Chính vì vậy, chăm sóc sức khỏe toàn diện, xét đến cùng, không chỉ là một khái niệm y học. Đó là một cách sống - một cách sống chủ động hơn, sớm hơn, và bền bỉ hơn, để con người không bị động đi qua tuổi già, mà có thể đi cùng nó trong sự chuẩn bị và bình tĩnh.
Tôi nghỉ hưu khi vừa bước qua tuổi 50 - thời điểm mà nhiều người nói tôi đang ở "đỉnh cao" của tiền bạc, vị trí và các mối quan hệ. Trước khi dừng lại, tôi là Trưởng phòng tại một công ty thương mại, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 70 triệu đồng, chưa kể thưởng. Quyết định ấy khiến không ít người thân, bạn bè của tôi tiếc nuối. Có người bạn thân còn mắng tôi: "Ông có điên không khi buông bỏ tất cả lúc này?".
Thật ra, tôi không điên. Tôi chỉ mệt. Nhiều năm trước đó, cuộc sống của tôi gắn liền với những buổi tiếp khách kéo dài, những cuộc nhậu triền miên, những mối quan hệ xã giao mà đôi khi chính tôi cũng không còn phân biệt được đâu là thật lòng, đâu là nghĩa vụ? Lịch làm việc kín mít, điện thoại không lúc nào ngừng đổ chuông. Nhiều người nghĩ đó là thành đạt, nhưng cơ thể tôi thì không nghĩ vậy.
Sức khỏe của tôi bắt đầu lên tiếng. Tôi mất ngủ triền miên, viêm loét dạ dày, huyết áp cao... Đó là lúc tôi nhận ra mình không còn đủ sức để "đánh đu" với chính guồng quay công việc mà mình đã tạo ra nữa. Tôi bắt đầu tự hỏi: nếu cứ tiếp tục như vậy, mình sẽ giữ được gì và đánh mất những gì?
Tôi muốn dừng lại, để xem mình là ai nếu không còn danh xưng, chức vụ? Tôi muốn sống chậm hơn, cảm nhận rõ hơn những điều giản dị mà trước đây mình đã bỏ lỡ.
>> Tôi 'sợ' nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Những ngày đầu nghỉ hưu quả thực không hề dễ chịu. Tôi có nhiều thời gian hơn, nhưng cũng có những khoảng trống khó lấp. Thỉnh thoảng, nghe bạn bè kể về những chuyến du lịch sang trọng, những bữa tiệc xa hoa, những món đồ hiệu đắt tiền, tôi cũng chạnh lòng. Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra: chẳng phải chính vì những điều đó mà mình đã chọn rời đi hay sao?
Tôi không nghỉ hưu để tiếp tục chạy theo những cuộc vui khác. Tôi nghỉ để thoát khỏi vòng xoáy mà mình từng thấy mệt mỏi. Vậy thì có gì phải tiếc nuối khi người khác vẫn đang sống trong điều mà mình đã chủ động buông bỏ?
Dần dần, tôi học cách tận hưởng cuộc sống theo cách rất khác. Một buổi sáng dậy sớm đi bộ, một tách trà uống chậm, một buổi chiều ngồi đọc sách mà không bị làm phiền... Sức khỏe cải thiện, tinh thần nhẹ nhõm hơn, và quan trọng nhất, tôi cảm thấy mình "trở lại" với chính mình.
Ở tuổi này, tôi hiểu rằng con người ta cuối đời không hối tiếc vì đã từ bỏ một chức danh hay một khoản thu nhập. Điều khiến ta day dứt thường là những điều ta từng muốn làm nhưng không dám làm. Tôi đã chọn làm điều mà mình tin là đúng, dù nó đi ngược lại kỳ vọng của nhiều người. Và đến bây giờ, tôi không hối hận.
Khi bạn cảm thấy cần dừng lại, hãy lắng nghe chính mình. Cuộc đời này không dài như ta tưởng. Có những trải nghiệm, nếu không làm ngay, có thể sẽ không còn cơ hội. Vì vậy, nếu đã nghĩ đến, thì hãy dám làm để sau này, khi nhìn lại, ta không phải tiếc nuối vì mình đã không thử.
Do Minh HaiĐắn đo bỏ việc lương 40 triệu để nghỉ hưu sớm ở tuổi 47
Cuộc sống của tôi sau khi nghỉ hưu sớm tuổi 45
45 tuổi nghỉ hưu sớm, sống nhờ lãi tiết kiệm tháng 25 triệu đồng
Vỡ mộng nghỉ hưu sớm dù tháng kiếm 40 triệu từ dãy trọ cho thuê
Tôi đã tìm ra cách nghỉ hưu sớm tuổi 40 cho mình
Hai năm đáng giá nhất cuộc đời khi tôi nghỉ hưu sớm ở tuổi 50
Chú của chồng tôi sống độc thân, không vợ con, tích cóp được khá nhiều tiền và vàng. Ai trong nhà cũng biết chú có điều kiện tài chính, nhưng điều khiến chúng tôi mệt mỏi là chú gần như không bao giờ chủ động chi tiêu cho bản thân.
Chú sống cùng khu vực gần nhà với vợ chồng tôi. Mỗi ngày, chuyện cơm nước gần như do chúng tôi lo. Thỉnh thoảng phải sai đứa con đem cơm cho chú, hoặc cuối tuần thì chú tự chạy xe qua nhà tôi ăn cơm.
Khi chú ốm phải đi viện, toàn bộ chi phí từ nhập viện, thuốc men đến chăm sóc đều do vợ chồng tôi đứng ra lo liệu. Chú không hề thiếu tiền nhưng lại luôn né tránh hoặc im lặng, chưa lần nào nói đến chuyện sẽ gửi lại tiền cho vợ chồng tôi.
Chồng tôi thì nghĩ "chú không có ai, mình giúp được thì giúp". Người trong họ hàng thừa biết chuyện này và xem đó là chuyện đương nhiên vì bố mẹ chồng của tôi đã mất, chúng tôi phải có bổn phận lo cho chú và "nhà, tài sản sau này cũng sẽ để lại cho vợ chồng tôi chứ ai vào đây".
>> Ác mộng 5 cục nóng máy lạnh của hàng xóm chĩa vào nhà tôi
Nhưng chính chuyện này lại làm tôi thấy bất ổn, khó xử vì "cho nhà, cho tài sản" cũng chỉ là lời nói suông của họ hàng khác chứ chưa bao giờ vợ chồng tôi nghe khẳng định từ chú.
Giúp đỡ người thân là chuyện nên làm, nhưng nếu thành trách nhiệm một chiều, kéo dài mà không có sự rõ ràng thì rất dễ dẫn đến ấm ức.
Tôi bắt đầu lo lắng cho tương lai. Nếu sau này chú tiếp tục ốm đau, chi phí lớn hơn, liệu vợ chồng tôi có phải tiếp tục gồng gánh? Trong khi đó, chúng tôi cũng còn con cái, cuộc sống riêng và nhiều khoản phải lo.
Tôi nên làm gì trong tình huống này? Nói thẳng với chú về chuyện tiền bạc thì sợ mang tiếng "tính toán", còn tiếp tục im lặng thì áp lực ngày càng lớn.