Mục Lục
ToggleACV vừa báo cáo các cơ quan có thẩm quyền phương án chuyển giao hoạt động giữa Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Phương án được xây dựng theo lộ trình 2 bước – 3 giai đoạn, từ chuyển dịch phần lớn tiến tới toàn bộ các chuyến bay quốc tế sang khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo từng giai đoạn, phù hợp với năng lực hạ tầng và mục tiêu phát triển trung tâm trung chuyển hàng không quốc tế.
Cụ thể, giai đoạn đầu tiên, từ khi khai thác thương mại đến hết lịch bay mùa đông 2026 (dự kiến từ 1.12.2026 – 27.3.2027), ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài (bao gồm vận tải hàng hóa) từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Dự kiến ở bước này, sẽ có khoảng 19% sản lượng khách quốc tế khu vực TP.HCM khai thác tại Cảng Long Thành.
Giai đoạn 2, từ lịch bay mùa hè 2027 đến hết năm 2030 (từ 28.3.2027 đến hết năm 2030), toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại (trừ các chặng ngắn dưới 1.000 km do các hãng hàng không Việt Nam khai thác) sẽ chuyển sang sân bay mới. Mục tiêu đạt trên 90% sản lượng khách quốc tế tại khu vực TP.HCM ngay trong năm 2027.
Giai đoạn sau năm 2030, nhà khai thác cảng sẽ chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất lúc này sẽ chủ yếu khai thác các chuyến bay nội địa và các chuyến bay quốc tế không thường lệ, chuyến bay thuê chuyến phục vụ các tổ chức, cá nhân.
ACV đánh giá phương án khai thác sau năm 2030 nhằm thiết lập nền tảng hình thành trung tâm vận tải hàng không đầu mối, trung chuyển quốc tế ngang tầm khu vực tại vùng TP.HCM theo định hướng tại Quyết định số 648 của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện ACV đang phối hợp chặt chẽ với Tư vấn IAC để hoàn thiện kế hoạch thử nghiệm và chuyển giao khai thác, đồng thời cập nhật dự báo sản lượng theo tình hình thực tế. Thời gian qua, đơn vị này đã triển khai công tác chuẩn bị khai thác Cảng Long Thành trên các phương diện chính về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, xây dựng phương án khai thác và triển khai thử nghiệm vận hành.
Theo kế hoạch, 3 đợt thử nghiệm vận hành và chuyển giao khai thác sẽ lần lượt được tổ chức vào tháng 9, 10 và 11 năm nay.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Kinh Tế
Giá USD hôm nay 20.4.2026: Tăng nhẹ đẩy euro, yen Nhật đi xuống

Sáng nay (20.4), tỷ giá trung tâm giữa VND với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.103, tăng 1 đồng so với cuối tuần qua. Đồng loạt, giá USD trong các ngân hàng thương mại cũng tăng 1 đồng ở chiều bán ra như Ngân hàng Vietcombank mua chuyển khoản lên 26.128 đồng và bán ra 26.358 đồng. Tương tự, Ngân hàng ACB giữ nguyên chiều mua chuyển khoản và cũng tăng 1 đồng ở chiều bán ra, lên 26.358 đồng… Như vậy, các ngân hàng vẫn bán ra ở mức kịch trần.
Trong khi đó, một số ngoại tệ khác quay đầu đi xuống như giá euro tại Vietcombank giảm 58 đồng khi mua chuyển khoản còn 30.463 đồng, bán ra 31.748 đồng; bảng Anh giảm 66 đồng khi mua chuyển khoản xuống 34.967 đồng, bán ra 36.087 đồng; yen Nhật cũng giảm 0,26 đồng khi mua chuyển khoản còn 161,45 đồng và bán ra xuống 169,98 đồng…
Giá USD thế giới tăng nhẹ sáng đầu tuần khi chỉ số USD-Index đạt 98,36 điểm, cao hơn hôm qua 0,13 điểm. Việc thiếu tiến triển rõ ràng trong các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran đã khiến thị trường không còn tin tưởng và đang giúp USD hồi phục trở lại từ mức giảm sâu cuối tuần qua. Đồng bạc xanh đã xuống mức thấp nhất trong vòng 1 tháng qua khi có nhiều diễn biến mới khiến nhà đầu tư kỳ vọng chiến sự tại Iran sớm chấm dứt, dù chưa có mốc thời gian cụ thể.
Theo một số nhà phân tích quốc tế, các biến động tỷ giá hối đoái gần đây tiếp tục được thúc đẩy giữa thị trường chứng khoán kiên cường và giá dầu cao. Hiện tại do không có nhiều thông tin đáng chú ý nên thị trường tiền tệ có thể sẽ tiếp tục được thúc đẩy bởi những thay đổi trong tâm lý rủi ro toàn cầu, động thái giá dầu và kỳ vọng của các ngân hàng trung ương. Hơn nữa, các diễn biến sắp tới của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), bao gồm phiên điều trần của ông Kevin Warsh, có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng lãi suất và hướng đi ngắn hạn của đồng USD...
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Bộ Tài chính: Thu nhập 28 triệu đồng/tháng chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân

Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất 2 phương án giảm trừ chi phí y tế, giáo dục - đào tạo vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế.
Phương án 1, người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc, bao gồm: các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước không quá 20 triệu đồng/năm; các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước không quá 21 triệu đồng/năm.
Phương án 2, các mức trần được giảm trừ tương ứng lần lượt là không quá 23 triệu đồng/năm và không quá 24 triệu đồng/năm.
Nhiều ý kiến cho rằng, đề xuất Bộ Tài chính đưa ra quá thấp, không sát thực tế đời sống.
Tại buổi họp báo thường kỳ quý 1 của Bộ Tài chính chiều 9.4, ông Lưu Đức Huy, Phó cục trưởng Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), cho biết, dự kiến, nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 1.7.
Về bổ sung khoản giảm trừ đối với chi phí y tế và giáo dục, cơ sở tính toán được xây dựng trên số liệu thống kê năm 2024.
Cụ thể, năm 2024, chi tiêu y tế bình quân khoảng 3,5 triệu đồng/người/năm đối với khám, chữa bệnh ngoại trú và từ 10 - 12 triệu đồng/người/năm đối với điều trị nội trú; chi tiêu cho giáo dục và đào tạo bình quân khoảng 9,6 triệu đồng/người/năm.
Trên cơ sở tỷ lệ người phụ thuộc bình quân khoảng 0,8 người/người nộp thuế, cơ quan soạn thảo ước tính, tổng chi phí liên quan đến y tế và giáo dục cho cả người nộp thuế và người phụ thuộc khoảng 20,4 triệu đồng/năm đối với y tế và 19,2 triệu đồng/năm đối với giáo dục.
Bộ Tài chính tính toán, mức giảm trừ trong phương án 1 tương đương khoảng gấp 2 lần chi tiêu y tế nội trú và khoảng 2,2 lần chi tiêu giáo dục bình quân năm 2024.
Theo ông Huy, mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế hiện là 15,5 triệu đồng/tháng và mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng, thực chất đã tính toán trong đó bao gồm một phần chi phí sinh hoạt cơ bản (có chi cho y tế và giáo dục). Việc bổ sung khoản giảm trừ riêng lần này là hỗ trợ thêm.
"Nếu áp dụng phương án 2, dự kiến số giảm thu ngân sách khoảng gần 7.700 tỉ đồng. Theo tính toán, một cá nhân có thu nhập khoảng 28 triệu đồng/tháng và có một người phụ thuộc chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân; thu nhập từ khoảng 28,63 triệu đồng/tháng trở lên mới phát sinh nghĩa vụ thuế và phần thu nhập tăng thêm chỉ chịu thuế suất 5%", ông Huy cho biết.
Theo dự thảo nghị định, để được giảm trừ các khoản chi phí giáo dục - y tế như đề xuất, người nộp thuế phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Riêng đối với chi phí y tế, cần có thêm bảng kê chi phí khám chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Chứng từ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc và không được chi trả từ các nguồn khác như tài trợ, hỗ trợ, ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức khác.
Trả lời câu hỏi về tính khả thi của chính sách, ông Huy khẳng định, việc thực hiện sẽ tuân thủ pháp luật về quản lý thuế. Theo quy định hiện hành, các khoản chi muốn được giảm trừ phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp.
Hiện nay, với việc áp dụng hóa đơn điện tử, các cơ sở kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở lên bắt buộc phải xuất hóa đơn. Y tế và giáo dục là lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có điều kiện, yêu cầu về hóa đơn, chứng từ càng phải được thực hiện nghiêm.
Không có lý do gì người dân đã chi trả chi phí hợp pháp lại không được cấp hóa đơn để làm căn cứ giảm trừ thuế. Trường hợp vi phạm quy định về hóa đơn, các bên liên quan đều có thể bị xử phạt theo quy định.
"Các phương án đang được lấy ý kiến và hoàn thiện. Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo, bảo đảm khi ban hành, chính sách vừa hỗ trợ người dân, vừa khả thi trong thực hiện", ông Huy nói.

