Nhưng đằng sau những khoản hỗ trợ tiền mặt, ăn trưa,… không chỉ là câu chuyện “đi họp có quà”, mà với nhiều doanh nghiệp, đó là bài toán thực tế về tỉ lệ tham dự, yếu tố quyết định đại hội cổ đông có thể diễn ra hay không.
Năm nay, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) trở thành tâm điểm của câu chuyện này khi công bố tổ chức đại hội cổ đông (ĐHCĐ) nhưng dừng chính sách hỗ trợ chi phí đi lại và ăn trưa cho cổ đông. Quyết định này ngay lập tức được chia sẻ dày đặc trên các hội nhóm, diễn đàn chứng khoán bởi đây như một “thông lệ” của MB các năm trước.
Ở kỳ đại hội năm ngoái, ĐHCĐ ngân hàng này ghi nhận con số kỷ lục hơn 4.700 cổ đông tham dự, mỗi người nhận 500.000 đồng. MB tiết lộ, kinh phí hỗ trợ khoảng 2,2 tỉ đồng. Tuy nhiên, bối cảnh năm nay có phần thay đổi khi số lượng cổ đông của MB đã vượt 200.000 người, tăng hàng chục nghìn người chỉ sau một năm.
Động thái của MB và cách phản ứng từ nhà đầu tư trở thành phép thử đủ sức tác động đến cách các doanh nghiệp nhìn nhận lại câu chuyện quà mùa ĐHCĐ.
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán phát triển nhanh, đặc biệt là sự gia tăng mạnh của nhà đầu tư cá nhân, nhiều doanh nghiệp lựa chọn hỗ trợ chi phí đi lại, ăn uống hoặc tặng quà như một cách tri ân cổ đông.
Không ít ĐHCĐ còn trở nên “sôi động” hơn khi doanh nghiệp mời cổ đông trải nghiệm sản phẩm mới, hoặc tổ chức bốc thăm trúng thưởng với giá trị lớn hàng trăm triệu đồng, điện thoại cao cấp, chỉ vàng… Như Masan từng “lấy lòng” cổ đồng bằng cách tận dụng ĐHCĐ để giới thiệu sản phẩm mới, cho cổ động trải nghiệm nấu cơm tự chín và lẩu bắp bò ngay tại đại hội.
Theo thời gian, những đãi ngộ này dần hình thành một “lệ quen”. Mức hỗ trợ phổ biến dao động từ 200.000 – 500.000 đồng mỗi cổ đông, thậm chí có thể hơn, tùy quy mô và điều kiện tài chính doanh nghiệp. Thực tế, với nhiều doanh nghiệp, yếu tố “quà” không chỉ mang ý nghĩa tri ân, mà còn là bài toán đảm bảo tỉ lệ tham dự cho ĐHCĐ có thể tiến hành.
Theo quy định, ĐHCĐ lần thứ nhất chỉ được tiến hành khi có cổ đông tham dự đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết. Nếu không đạt, doanh nghiệp buộc phải tổ chức lại, kéo theo chi phí hội trường, hậu cần, thời gian và cả rủi ro chậm trễ các quyết định quan trọng.
Không ít doanh nghiệp gặp khó trong việc mời cổ đông đến họp. Như trường hợp của C.E.O Group là ví dụ điển hình. Năm nay, trong khoảng 66.000 cổ đông, chỉ có 162 người tham dự, tương ứng 30,6% cổ phần có quyền biểu quyết, không đủ điều kiện tổ chức đại hội lần đầu, và tình trạng này lặp lại nhiều năm ở doanh nghiệp này.
Ngược lại, những doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ mạnh tay cũng chưa chắc “chắc suất”. CII từng áp dụng hình thức chuyển tiền cho cổ đông theo số lượng cổ phần nắm giữ, nhưng vẫn không phải lúc nào đại hội cũng thành công ngay từ lần đầu.
Năm nay, CII đổi cách “mời” cổ đông bằng cách ra thông báo cổ đông chỉ cần đăng ký tham dự (trực tiếp hoặc ủy quyền) là được nhận tiền chuyển khoản từ công ty. Theo đó, một cổ đông nắm hơn 2,23 triệu cổ phiếu có thể nhận hơn 22,3 triệu đồng chỉ với việc hoàn tất đăng ký tham dự đại hội.
Thậm chí, có doanh nghiệp còn “tăng liều” để thu hút cổ đông tham dự. Năm nay, DIC Corp (DIG) cho biết cổ đông ủy quyền dự họp đại hội sẽ được phát quà bằng tiền mặt, giá trị lên tới 20 triệu đồng/người. Những năm trước doanh nghiệp địa ốc này cũng từng tổ chức đại hội thất bại vì không đủ cô đông đi dự.
Khi “quà” trở thành động lực chính, một bộ phận cổ đông tham dự vì khoản hỗ trợ trước mắt hơn là quan tâm đến nội dung thảo luận, khiến chi phí doanh nghiệp gia tăng nhưng chất lượng đại hội chưa chắc được cải thiện tương xứng.
Thử tính, với thị giá khoảng 27.000 đồng/cổ phiếu, nhà đầu tư chỉ cần bỏ ra 130.000 – 270.000 đồng để sở hữu 5 – 10 cổ phiếu là đã đủ điều kiện tham dự đại hội. Nếu nhận mức hỗ trợ 500.000 đồng, khoản “lợi suất tức thì” có thể đạt từ 185% đến gần 370%.
Trong khi đó, những nội dung được thông qua tại đại hội như kế hoạch tăng vốn, phát hành cổ phiếu hay định hướng chiến lược mới là yếu tố có tác động trực tiếp đến giá trị đầu tư dài hạn, lại không phải lúc nào cũng nhận được sự quan tâm tương xứng từ nhóm cổ đông nhỏ lẻ.
Thực tế thị trường cũng cho thấy, số lượng cổ đông đông không đồng nghĩa với tỉ lệ tham dự cao. Tập đoàn Hòa Phát, với hàng trăm nghìn cổ đông, nhưng số người tham dự đại hội chỉ ở mức hơn 1.000 người. Phần lớn cổ đông cá nhân, do khoảng cách địa lý hoặc mức độ quan tâm hạn chế, không tham gia trực tiếp vào quá trình thảo luận và biểu quyết, dù vẫn nắm giữ cổ phần.
Một chuyên gia tài chính cho rằng, từ góc độ nhà đầu tư cá nhân, việc tham dự ĐHCĐ nên cần được nhìn nhận lại như một quyền và cũng là cơ hội để bảo vệ lợi ích dài hạn, thay vì chỉ dừng lại ở những giá trị ngắn hạn.
Thông qua đại hội, cổ đông có thể tiếp cận trực tiếp ban lãnh đạo, nắm bắt chiến lược kinh doanh, chất lượng quản trị và các quyết định quan trọng như tăng vốn, chia cổ tức hay định hướng phát triển. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến giá trị khoản đầu tư trong tương lai.
"Làm nông kiểu nhỏ lẻ không thể đi xa", ông Võ Quan Huy - Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với ruộng đồng, nói tại hội thảo "Nông nghiệp thông minh" ngày 17/4 ở TP HCM. Theo ông, vòng lặp "được mùa mất giá", trồng - chặt lặp đi lặp lại nhiều năm qua, suy cho cùng vẫn bắt nguồn từ quy mô sản xuất manh mún.
Từ trải nghiệm thực tế, ông Huy cho rằng khi đất đai bị chia cắt, mọi nỗ lực hiện đại hóa đều trở nên nửa vời. Hạ tầng không thể làm đồng bộ, cơ giới hóa bị đội chi phí, còn công nghệ nếu có cũng khó phát huy hiệu quả. Chỉ khi diện tích đất tích tụ đủ lớn, doanh nghiệp mới có thể đầu tư bài bản cho thủy lợi, tự động hóa và tối ưu chi phí.
Câu chuyện của ông Huy phản ánh một điểm nghẽn kéo dài của nông nghiệp Việt Nam. Áp lực từ thị trường xuất khẩu ngày càng lớn khi tiêu chuẩn liên tục siết chặt, buộc ngành không thể tiếp tục dựa vào cách làm cũ. Bài toán giờ đây không còn là tăng sản lượng, mà là tạo ra sản phẩm có thể bán được với giá trị cao và ổn định.
Trong quá trình đó, dữ liệu trở thành nền tảng. PGS TS Đỗ Văn Hùng ví dữ liệu là "hệ mạch" của nông nghiệp số, nhưng thực tế tại Việt Nam vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa có chuẩn chung. Khoảng trống này khiến nhiều mô hình ứng dụng công nghệ chưa thể phát huy hết hiệu quả, dù tiềm năng rất lớn.
Quay lại với bài toán của doanh nghiệp, ông Huy cho rằng nếu đất đai là "phần xác" thì khoa học công nghệ chính là "phần hồn". Từ giống cấy mô, hệ thống cảm biến IoT đến trí tuệ nhân tạo, công nghệ giúp kiểm soát quy trình sản xuất theo thời gian thực, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm và hạn chế sai số.
Khi chuyển sang quản trị bằng dữ liệu, cách làm nông thay đổi rõ rệt. Doanh nghiệp không còn sản xuất theo cảm tính mà tính toán từng khâu để tối ưu chi phí, giữ giá thành ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện để tạo ra giá trị lớn hơn thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
Xu hướng này đang lan sang nhiều lĩnh vực. Việc đưa AI, robot và các hệ thống tự động xuống đồng ruộng không chỉ giúp tiết kiệm nhân công, mà còn chuẩn hóa quy trình, giảm rủi ro và nâng cao năng suất. Trong chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản, công nghệ còn giúp kiểm soát chất lượng đồng đều - yếu tố then chốt khi tiếp cận các thị trường khó tính.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt nhiều lực cản. Đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng việc ứng dụng công nghệ cao chưa đồng đều, do thiếu nguồn lực, thể chế chưa hoàn thiện và đặc biệt là sản xuất còn nhỏ lẻ. Đây là vòng lặp khiến nông dân khó tiếp cận công nghệ, còn công nghệ lại khó lan rộng.
Trong bối cảnh đó, chuyển sang kinh tế nông nghiệp xanh, dựa trên dữ liệu và công nghệ, không còn là lựa chọn mà là hướng đi bắt buộc. Khi các thị trường lớn ngày càng siết tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và chất lượng, những mô hình sản xuất manh mún sẽ dần mất lợi thế.
Nông nghiệp vẫn là trụ đỡ của nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu hơn 70 tỷ USD năm 2025. Nhưng để giữ được vị thế này, ngành không thể tiếp tục đi theo lối cũ. Khi đất đai được tích tụ, dữ liệu được kết nối và công nghệ trở thành nền tảng vận hành, câu chuyện "triệu USD" sẽ không còn là ngoại lệ, mà có thể trở thành hướng đi phổ biến của nông nghiệp Việt Nam.
Khảo sát công bố ngày 10/4 của Đại học Michigan cho thấy chỉ số niềm tin tiêu dùng của người Mỹ chỉ là 47,6 điểm trong tháng 4. Đây là mức thấp kỷ lục, giảm hơn 10% so với tháng 3.
Khảo sát cho thấy "nhiều người tiêu dùng đổ lỗi cho xung đột tại Iran gây ra các thay đổi bất lợi cho nền kinh tế", như lạm phát tăng tốc, Joanne Hsu - người phụ trách báo cáo cho biết. "Tất cả nhóm tuổi, thu nhập, quan điểm chính trị đều ghi nhận niềm tin đi xuống, phản ánh quy mô của lần giảm này", báo cáo viết.
Kỳ vọng lạm phát tại Mỹ cũng tăng vọt. Tính trung bình, những người tham gia khảo sát dự báo giá cả tăng 4,8% sau một năm - mạnh nhất kể từ tháng 8/2025.
Tiêu dùng hiện đóng góp hai phần ba quy mô GDP Mỹ. Nếu người dân giảm chi tiêu, sức ép sẽ đè nặng lên doanh nghiệp, từ đó kéo tụt tăng trưởng kinh tế, thậm chí có thể châm ngòi cho suy thoái. Hồi tháng 2, trước khi xung đột tại Trung Đông nổ ra, tiêu dùng tại Mỹ vẫn khá mạnh, theo số liệu của Bộ Thương mại Mỹ.
Dù vậy, Hsu cũng lưu ý rằng khảo sát được thực hiện trước ngày 7/4. Vì vậy, phần lớn đánh giá của người dân phản ánh diễn biến tháng trước. 7/4 là ngày Mỹ và Iran thông báo lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần. Hai nước chuẩn bị đàm phán cuối tuần này tại Pakistan để hòa giải xung đột.
"Kỳ vọng về kinh tế có thể sẽ cải thiện, sau khi người tiêu dùng tự tin rằng sự gián đoạn nguồn cung do xung đột đã chấm dứt và giá xăng ổn định trở lại", Hsu nói.
Khảo sát trên được công bố ngay trước khi Cục Thống kê Lao động Mỹ cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) nước này tăng 3,3% trong tháng 3 - cao nhất gần 2 năm. Phần lớn mức tăng do giá năng lượng. Giá thực phẩm gần như đứng yên.
"Giá xăng, dầu diesel và vé máy bay đang tăng vọt, bóp nghẹt thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ. Đây chỉ là sự bắt đầu", Heather Long - kinh tế trưởng tại Navy Federal Credit Union nhận định hôm 10/4.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam - Petrolimex (PLX) vừa công bố tài liệu phục vụ Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Hội đồng quản trị trình cổ đông kế hoạch doanh thu đạt 315.000 tỉ đồng, tăng 2% so với mức thực hiện năm 2025. Nếu hoàn thành đây sẽ là mức doanh thu cao nhất từ trước tới nay của doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, tập đoàn đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 3.380 tỉ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ.
Sản lượng xăng dầu xuất bán hợp nhất dự kiến đạt khoảng 19,4 triệu m³/tấn (tương đương 19,443 triệu tấn), tăng 10% so với kết quả năm 2025. Tập đoàn dự kiến chi trả cổ tức với tỉ lệ 10%.
Doanh nghiệp khép lại năm 2025 với sản lượng xăng dầu bán ra đạt 17,7 triệu m³/tấn, tăng 2% so với cùng kỳ.
Doanh thu đạt 309.875 tỉ đồng và lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 3.643 tỉ đồng, lần lượt tăng 25% và 14% so với thực hiện năm 2024. PLX dự kiến sử dụng 1.525 tỉ đồng để trả cổ tức cho cổ đông, tương ứng tỉ lệ 12%.
Trong năm, PLX thí điểm xây dựng mới và cải tạo tổng thể 12 cửa hàng xăng dầu theo mô hình trạm dịch vụ xe tải.
Hệ thống bán lẻ tiếp tục được mở rộng với 76 cửa hàng xăng dầu phát triển mới, nâng tổng số cửa hàng lên 2.831 điểm trên toàn quốc.
Theo Petrolimex, xe điện đã bắt đầu tạo ảnh hưởng rõ nét hơn, song chưa chiếm ưu thế trên thị trường khi số lượng phương tiện sử dụng động cơ đốt trong vẫn ở mức lớn.
Trong kịch bản nền kinh tế vận hành theo định hướng của Chính phủ, Petrolimex dự báo giai đoạn 2026 - 2027, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể dao động trong khoảng 8,5 - 10%.
Động lực chính đến từ các chủ trương, định hướng phát triển của Nhà nước, cùng với việc triển khai các dự án cao tốc mới; đồng thời, nhu cầu của nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phần nào bù đắp cho giai đoạn đầu của các chính sách hạn chế phương tiện và sự gia tăng của xe điện.
Bước sang giai đoạn 2028 - 2030, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể chậm lại, ở mức 6 - 7%. Khi đó, tác động từ xe điện, nhiên liệu xanh và các chính sách hạn chế phương tiện được dự báo sẽ thể hiện rõ hơn. Tính chung giai đoạn 2026 - 2030, tập đoàn đặt mục tiêu sản lượng kinh doanh xăng dầu tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.
Về doanh thu, doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 không thấp hơn mức tăng sản lượng, dự kiến đạt khoảng 7%/năm. Lợi nhuận trong cùng giai đoạn được kỳ vọng tăng trưởng bình quân 6-7%/năm.
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của công ty mẹ dự kiến duy trì trong khoảng 6-7%/năm; đồng thời, tỷ lệ chi trả cổ tức được đặt mục tiêu bình quân 8-10%/năm.