Việc đóng cửa eo biển Hormuz khiến nhiều nước gặp khó khăn. Nhưng Trung Quốc, nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới qua eo biển Hormuz, bằng tổng lượng dầu nhập khẩu của Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại, vẫn ít bị ảnh hưởng.
Ông Lauri Myllyvirta, đồng sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí Sạch (CREA) ở Phần Lan, cho biết vị thế này rất gần với những gì các nhà hoạch định Trung Quốc hình dung trong nhiều thập kỷ.
Với xe điện, cuối năm 2020, Bắc Kinh đặt mục tiêu thị phần phương tiện này chiếm 20% tổng số xe mới vào năm 2025. Vào năm ngoái, tỷ lệ xe điện họ đạt được là khoảng 50%.
Theo công ty nghiên cứu thị trường Benchmark Mineral Intelligence (BMI), doanh số xe điện Trung Quốc năm 2025 là 12,9 triệu chiếc, chiếm 62% lượng xe toàn cầu. Tính riêng dòng xe chở khách, hơn một nửa số xe mới bán ra là phương tiện chạy bằng năng lượng mới (NEV). Tức là, phương tiện giao thông trên đà phụ thuộc vào pin nhiều hơn xăng.
Sự bùng nổ bất ngờ này giúp mức tiêu thụ nhiên liệu của Trung Quốc trên đà giảm dần sau nhiều thập kỷ tăng trưởng chóng mặt. Theo ước tính của CREA, số xe điện này giúp họ giảm tiêu thụ xăng dầu tương đương lượng nhập khẩu từ Arab Saudi.
Trong khi đó, ngày càng nhiều hãng xe điện Trung Quốc công bố có lãi, thay vì “đốt tiền” và hoãn chiến lược xe điện như đối thủ. Tính đến cuối tháng 3, Leapmotor, Nio, Xpeng đã công bố có lời sau nhiều quý thua lỗ.
Leapmotor, được Stellantis hậu thuẫn, đạt lợi nhuận 78 triệu USD vào năm 2025, trong khi năm ngoái lỗ 410 triệu USD. Nio đạt lợi nhuận ròng điều chỉnh 104 triệu USD trong quý IV. Cùng quý này, Xpeng cũng đạt lãi ròng khoảng 55 triệu USD, trong khi cùng kỳ lỗ 190 triệu USD. Họ đã nối dài danh sách hãng xe điện thoát lỗ cùng với những tên tuổi kỳ cựu như BYD, Xiaomi và Li Auto.
Bên cạnh đó, nguồn điện sạch cho nền kinh tế cũng đang trên đà tăng nhanh, vượt quá mục tiêu Bắc Kinh đặt ra. Nguồn điện của Trung Quốc chủ yếu dựa vào than và năng lượng tái tạo. Trong đó, tỷ trọng điện than giảm mạnh. Hầu hết lượng điện phục vụ tăng trưởng kinh tế mỗi năm đều có thể bù đắp bằng công suất mới của điện gió hoặc mặt trời, giúp giảm nhập khẩu than đá và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Theo tổ chức nghiên cứu năng lượng Ember, chỉ riêng năm 2024, điện tái tạo đã cung cấp khoảng 80% nhu cầu điện tăng thêm của nền kinh tế.
Bà Muyi Yang, nhà phân tích năng lượng cấp cao khu vực châu Á của Ember, nhận định cú sốc năng lượng từ xung đột Iran có thể càng củng cố hướng đi mà Trung Quốc đang theo đuổi. “Tình thế này bộc lộ những rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào dầu khí nhập khẩu. Đó là lý do quá trình chuyển đổi năng lượng không chỉ gồm hoạt động xây thêm nhà máy điện gió và mặt trời, mà còn cần khử carbon trên toàn nền kinh tế”, bà nói.
Giới phân tích từ ngân hàng OCBC nhận định về lâu dài, quá trình điện khí hóa giao thông và tăng cường tỷ trọng năng lượng tái tạo tiếp tục giúp nền kinh tế này ít chịu ảnh hưởng hơn trước các cú sốc giá dầu.
Thực tế, cả ba công ty dầu khí lớn nhất Trung Quốc đều chứng kiến lợi nhuận giảm trong năm 2025, do cuộc chuyển đổi năng lượng. Trong đó, Sinopec – công ty lọc dầu công suất lớn nhất thế giới – giảm 36,8% lợi nhuận so với năm 2024. Năm ngoái, sản lượng xăng và dầu diesel của họ giảm lần lượt 2,4% và 9,1%, xuống còn 62,6 triệu tấn và 52,6 triệu tấn.
Ngoài ra, rủi ro năng lượng của Trung Quốc cũng được giảm thiểu nhờ chiến lược đa dạng nguồn cung. Họ mua dầu từ nhiều nhà cung ứng, không phụ thuộc quá 20% lượng nhập khẩu vào một quốc gia, khác với nhiều nước châu Á. Ví dụ, Nhật Bản mua gần 80% lượng dầu từ Arab Saudi và UAE. Với tỷ trọng tương đương, Trung Quốc mua từ 8 quốc gia, gồm lượng lớn dầu từ Nga, Venezuela và Iran – những quốc gia chịu lệnh cấm vận của Mỹ.
Thêm vào đó, họ dự trữ lượng dầu lên tới 1,4 tỷ thùng, nhiều hơn lượng dự trữ chiến lược của Mỹ với 414 triệu thùng dầu, theo công ty nghiên cứu thương mại toàn cầu Kpler. Giới phân tích ước tính Trung Quốc có thể duy trì trong bảy tháng nếu eo biển Hormuz tiếp tục đóng cửa. Để so sánh, Hàn Quốc phụ thuộc 70% lượng dầu qua eo biển này, với lượng dự trữ không đủ dùng trong hai tháng.
Họ cũng tăng cường xây dựng các đường ống khí đốt, giảm nhập khẩu qua đường biển. Nhờ vị thế địa lý, họ dễ dàng nhập khẩu LNG qua đường ống từ Nga, Myanmar và khu vực Trung Á – lợi thế mà Nhật Bản hay Hàn Quốc khó có được.
Nhờ nhiều thập kỷ hoạch định chính sách cùng sự bùng nổ của xe điện, điện tái tạo, Trung Quốc đang dần tách động lực tăng trưởng khỏi nguồn cung nhiên liệu hóa thạch từ nước ngoài. Chen Lin, Phó chủ tịch công ty nghiên cứu thị trường năng lượng Rystad Energy, dự báo nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc có khả năng đạt đỉnh trong năm nay, sau đó giảm dần. “Tình hình nước này khó có thể xấu đi, dù tỷ trọng nhập khẩu dầu thô vẫn cao”, ông Chen nói.
Tại đại hội cổ đông thường niên ngày 16/4, ông Phan Chiến Thắng, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Masan High-tech Materials (MSR), cho rằng sau làn sóng tỷ phú nhờ trí tuệ nhân tạo (AI), giới siêu giàu tiếp theo sẽ là những người nắm giữ các vật liệu thiết yếu cho ngành này. Ông nhắc tới vonfram (tungsten), loại vật liệu đóng góp phần lớn trong cơ cấu doanh thu doanh nghiệp.
Do đó, MSR đặt mục tiêu doanh thu năm nay tới 20.300 tỷ đồng, tăng gần gấp 3. Còn lợi nhuận sau thuế khoảng 1.700-2.500 tỷ đồng, tăng hơn 150-220 lần so với năm ngoái.
Nhờ chịu nhiệt trên 3.400 độ C, độ cứng gần bằng kim cương và dẫn điện tốt, vonfram được dùng làm vật liệu kết nối vi mạch, hệ thống điện toán trong ngành bán dẫn và sản xuất đạn lĩnh vực quốc phòng. Vật liệu này hầu như không có giải pháp thay thế hoàn hảo, giá tăng cả chục lần trong một năm qua, biến động mạnh nhất trong hơn hai thập kỷ.
Theo ông Thắng, mức giá ammonium paratungstate (APT, sản phẩm trung gian của vonfram) phản ánh trong báo cáo tài chính năm 2025 trung bình là 500 USD mỗi 10 kg (mtu). Trong khi đó, giá vật liệu này niêm yết tại công ty nghiên cứu thị trường Shanghai Metals Market ở mức 180.000 USD mỗi tấn (khoảng 1.800 USD một mtu) vào trưa ngày 16/4. Vật liệu này từng tăng hơn 3.000 USD vào cuối tháng 3, do xung đột Trung Đông và tình trạng siết xuất khẩu của Trung Quốc - thị trường cung ứng lớn nhất thế giới, theo CNBC.
Ông Danny Le, Chủ tịch HĐQT MSR, cho biết với mỗi 100 USD APT tăng giá, họ có thêm 50 triệu USD doanh thu và 10 triệu USD lợi nhuận sau thuế. "Nếu giá mỗi mtu ở mức 1.500 USD, chúng tôi trả hết nợ trong năm 2028", ông nói. Thời điểm xóa nợ sẽ sớm hơn một năm nếu giá này đạt 2.000 USD. Điều này đồng nghĩa, công ty sẽ có nguồn lực để trả cổ tức cho cổ đông vào 2027.
Tính đến cuối năm 2025, MSR nợ ròng gần 10.400 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ/EBITDA (chỉ số đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp bằng lợi nhuận trước lãi vay, thuế, khấu hao) là 4,8 lần, cải thiện so với mức 6 lần của năm trước đó.
Năm ngoái, mỏ Núi Pháo (trữ lượng 55 triệu tấn) của công ty được kéo dài thời gian khai thác đến năm 2044. Họ cũng được cấp phép khai thác thêm một mỏ trữ lượng 28 triệu tấn, dự kiến vận hành trong quý tới.
MSR cũng nhập khẩu thêm quặng ngoài để tinh chế, nhằm tối ưu hóa công suất cho nhà máy tinh luyện tại Công ty con Vonfram Masan (MTC). Hiện họ có hơn 20 nhà cung cấp, gồm "ông lớn" Mitsubishi từ Nhật Bản.
Đại diện MSR dẫn các dự báo cho thấy làn sóng đầu tư vào hạ tầng AI toàn cầu có thể đạt 5.000-8.000 tỷ USD tới năm 2030, thúc đẩy nhu cầu vonfram lên 24.000 tấn. Trong 5 năm qua, công ty nắm giữ trung bình 21% nguồn cung vật liệu này ngoài Trung Quốc.
Ngoài vonfram, quặng đa kim từ mỏ Núi Pháo còn chế biến ra các vật liệu khác gồm fluorspar, tinh quặng đồng, bismuth - các vật liệu quan trọng trong ngành công nghiệp và điện khí hóa.
Ban điều hành cho biết kết quả kinh doanh đầu năm khá thuận lợi. Quý I, họ đạt lợi nhuận sau thuế gần 540 tỷ đồng, tương đương 20 triệu USD. Công ty dự tính chuyển niêm yết từ sàn UPCoM sang Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), sau khi công ty mẹ Masan bán thêm 2% tổng lượng cổ phiếu, nhằm giảm tỷ lệ sở hữu tại MSR.
Theo báo cáo tài chính kiểm toán mới công bố, Công ty Lương thực thực phẩm Colusa - Miliket (gọi tắt là Comifood) ghi nhận doanh thu tăng 8% so với cùng kỳ, lên hơn 800 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Phần lớn nguồn thu đến từ thị trường nội địa, chỉ khoảng 90 tỷ đồng nhờ xuất khẩu.
Dù áp lực cạnh tranh lớn, sản lượng và doanh số vẫn tăng đều đặn nhờ các hoạt động tiếp thị gợi nhớ thương hiệu "hai con tôm", cộng thêm mở kênh bán hàng mới và đa dạng danh mục sản phẩm. Công ty duy trì vị thế ổn định trong các phân khúc ngách, đặc biệt kênh phân phối truyền thống như chợ và quán ăn.
Năm ngoái, giá nguyên vật liệu tăng vọt khiến tỷ suất lợi nhuận gộp giảm xuống dưới 27%. Điều này đồng nghĩa với mỗi 100 đồng doanh thu, công ty lãi khoảng 27 đồng trước khi trừ chi phí bán hàng, lương thưởng nhân viên...
Công ty báo lãi trước thuế đạt 26 tỷ đồng, giảm 11% so với năm trước và không hoàn thành kế hoạch 29 tỷ đồng đề ra trước đó. Đây là mức thấp nhất trong 4 năm trở lại đây, còn nếu loại trừ kết quả kinh doanh năm 2021 do ảnh hưởng bởi dịch bệnh thì mức này thấp nhất 8 năm. Biến động chủ yếu do công ty nộp hơn 6 tỷ đồng tiền thuê đất bổ sung cho giai đoạn 2015-2020.
Colusa - Miliket là doanh nghiệp sở hữu thương hiệu mỳ gói "hai con tôm". Nhãn hiệu này có mặt trên thị trường từ trước năm 1975 với bao bì bằng giấy kraft được người tiêu dùng ưa chuộng và có thời điểm gần như độc chiếm thị phần nội địa. Giá trị lớn nhất của công ty được một đơn vị tư vấn mua bán sáp nhập nhận định nằm ở thương hiệu hoài niệm, gắn liền với ký ức của nhiều thế hệ, tạo được lòng tin và sự trung thành từ một tệp khách hàng đặc thù.
Nói về tình hình kinh doanh năm ngoái, ông Trần Hoàng Ngân - Tổng giám đốc Comifood cho biết năng lực sản xuất của công ty đã đạt ngưỡng tối đa. Trong khi các đối thủ cạnh tranh liên tục mở rộng quy mô, công ty nhiều thời điểm phải từ chối đơn hàng.
Nguyên nhân chính của việc này là nhà máy duy nhất của công ty tại Thủ Đức (TP HCM) đã khai thác hết công suất, nhưng không thể tăng thêm sản lượng.
Tại phiên họp cổ đông bất thường cuối tháng 3, ông Ngân nói xây dựng nhà máy mới là việc cấp thiết. Công ty đã có chủ trương từ giai đoạn 2018-2022, nhưng gần đây mới rốt ráo thực hiện. Sắp tới, công ty cũng cân nhắc xây nhà máy ở miền Bắc để tối ưu chi phí vận chuyển và tăng thị phần.
Nhà máy mới có tổng mức đầu tư khoảng 800-900 tỷ đồng. Công suất thiết kế khoảng 49.000 tấn sản phẩm mỗi năm, gồm mì, phở, hủ tiếu, gia vị. "Nhà máy mới dự kiến đáp ứng nhu cầu tăng trưởng trong ít nhất 3 năm tới, đồng thời giúp tối ưu chi phí vận hành, sửa chữa và nhân công so với hiện tại", ông Ngân nói.
Để nhanh chóng triển khai, công ty vừa chốt phương án mua một doanh nghiệp tại khu công nghiệp Giang Điền (Đồng Nai), qua đó gián tiếp sở hữu một lô đất gần 4 ha. Thương vụ này ước tính khoảng 200 tỷ đồng.
Theo ban lãnh đạo, việc kế thừa pháp nhân và dự án có sẵn giúp rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính 6-12 tháng. Bên cạnh đó, công ty cũng thêm lợi thế về tài sản thế chấp khi vay vốn ngân hàng.
Tính đến cuối năm ngoái, công ty có tài sản khoản 300 tỷ đồng và vốn điều lệ 48 tỷ đồng. Công ty mới thông qua phương án phát hành cho cổ đông hiện hữu 9,6 triệu cổ phiếu để tăng gấp ba vốn điều lệ, lên 144 tỷ đồng.
Thông tin được chia sẻ tại Diễn đàn "Quản trị rủi ro pháp lý và phòng ngừa, giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh trong kỷ nguyên số tại thành phố Đà Nẵng".
Theo Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng, thành phố đang giữ vị trí trong nhóm địa phương có môi trường đầu tư, kinh doanh năng động của cả nước.
Trong quý 1-2026, thành phố Đà Nẵng ghi nhận 1.818 doanh nghiệp, chi nhánh và văn phòng đại diện thành lập mới với tổng vốn đăng ký hơn 6.800 tỉ đồng. Lũy kế đến nay, toàn thành phố có hơn 61.000 doanh nghiệp đang hoạt động.
Chỉ trong ba tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư trong nước của Đà Nẵng đạt gần 57.600 tỉ đồng - tăng gần 5 lần so với cùng kỳ, vốn FDI đạt hơn 36 triệu USD.
Nhiều dự án lớn như Làng Vân, Danang Downtown, cảng Liên Chiểu đang được đẩy nhanh tiến độ, tạo thêm động lực tăng trưởng.
Một điểm đáng chú ý là Đà Nẵng đã cung cấp hơn 96% dịch vụ công trực tuyến, 100% hồ sơ hành chính được xử lý điện tử.
Đà Nẵng cũng đang định hình các động lực tăng trưởng mới. Khu thương mại tự do quy mô gần 1.900ha được kỳ vọng trở thành trung tâm logistics, sản xuất và dịch vụ công nghệ cao của khu vực.
Song song đó, Trung tâm Tài chính quốc tế đã đi vào vận hành, hướng tới các lĩnh vực tài chính số, fintech và tài sản số.
Tuy nhiên Đà Nẵng cũng đối diện với nhiều thách thức như hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, thiếu quỹ đất sạch cho các dự án lớn, kết nối giao thông liên vùng còn hạn chế. Một số quy định pháp lý về đất đai, đầu tư còn chồng chéo, khiến thời gian chuẩn bị dự án kéo dài.
Chia sẻ tại diễn đàn, các chuyên gia cho rằng Đà Nẵng cần tập trung môi trường đầu tư, kinh doanh, tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số đi liền với việc sẵn sàng ứng phó thích hợp những vướng mắc pháp lý phát sinh trong quá trình triển khai hoạt động đầu tư.
Trong tiến trình hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm tài chính của khu vực, Đà Nẵng cần tiếp tục hoàn thiện nền tảng thể chế - đặc biệt là các cơ chế pháp lý có khả năng bảo đảm tính minh bạch, ổn định và dự đoán của môi trường đầu tư.