Ông Bryan Williams, 63 tuổi, nhân viên chăm sóc tại gia ở bang Wisconsin đang nhận mức lương 17,65 USD mỗi giờ. Thu nhập thấp buộc ông phải tính toán phân bổ tiền thuê nhà, hóa đơn và nhu yếu phẩm. “Tôi biết mọi thứ đang tồi tệ hơn vì cảm nhận được nó mỗi ngày”, ông nói.
Bà Vernice Thompson, 63 tuổi, nhân viên bán lẻ tại bang Virginia cho biết chi phí nhà ở đang chiếm một nửa thu nhập dù có trợ cấp an sinh xã hội. Trong khi đó, giá hàng hóa từ thực phẩm đến quần áo đều tăng cao khiến bà khó có khả năng chi trả.
Khảo sát công bố hồi tháng 2 của J.D. Power, 65% người tiêu dùng Mỹ cho biết mức tăng giá cả đang vượt quá mức tăng thu nhập. Dữ liệu do Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố ngày 10/4 cho thấy lạm phát đã tăng từ 2,4% trong tháng 2 lên 3,3% vào tháng 3. Giá xăng tăng 21,2% do xung đột Trung Đông là một trong những lực đẩy chính. Tính lũy kế theo chỉ số giá tiêu dùng CPI, giá cả tại Mỹ đã tăng khoảng 16% trong 4 năm qua. Trong khi đó, mức tăng thu nhập thực tế theo giờ của người lao động chỉ đạt 1,4% trong năm qua, không đủ để cải thiện khả năng mua sắm.
Lạm phát thể hiện rõ trên từng hóa đơn siêu thị. Cục Thống kê Lao động Mỹ ghi nhận một vỉ trứng 12 quả có giá trung bình 1,51 USD vào năm 2020 nay đã tăng lên hơn 3,1 USD. Giá một gallon sữa tươi từ 3,3 USD lên gần 4 USD. Cùng với đó, giá thuê nhà trung bình đã tăng thêm ít nhất 300 USD mỗi tháng so với 4 năm trước, neo ở mức trên 1.600 USD.
Sự chênh lệch này khiến người lao động nghèo đi, buộc họ phải cắt giảm cả những nhu cầu cơ bản. Dữ liệu từ CNBC chỉ ra khoảng 50% người Mỹ đang trì hoãn mua sắm quần áo, đồ gia dụng. Các dịch vụ khác cũng bị cắt giảm: 42% giảm chi cho chăm sóc cá nhân, 22% bỏ thẻ tập thể dục và 14% ít gọi xe dịch vụ. 39% hộ gia đình phải dùng thẻ tín dụng thanh toán hàng tạp hóa do cạn kiệt tiền mặt.
Tính đến quý IV/2025, nợ hộ gia đình Mỹ đạt 18.800 tỷ USD, tăng 4% so với năm trước đó. Riêng nợ thẻ tín dụng chạm mốc kỷ lục 1.280 tỷ USD.
Chuyên gia hoạch định tài chính Gregory Guenther tại New Jersey cho biết ngay cả nhóm thu nhập cao cũng cảm nhận được chi phí sinh hoạt tăng. “Vấn đề không phải là mọi người kiếm được ít tiền hơn, mà là giá trị đồng tiền không còn mua được nhiều thứ như trước”, chuyên gia nhận định.
Nhóm lao động phổ thông chịu ảnh hưởng mạnh nhất. Theo báo cáo, tiền lương thực tế của nhóm 10% thu nhập thấp nhất đã giảm 0,3% trong năm 2025. Mức lương tối thiểu liên bang 7,25 USD mỗi giờ vẫn giữ nguyên từ năm 2009.
Bà Crystal Franklin, 54 tuổi, chuyên viên tại Virginia kể gia đình bà phải bỏ các khoản chi giải trí, cắt giảm mua thực phẩm và chuyển sang đi xe buýt nhằm bù đắp chi phí xăng xe. “Chúng tôi không thể làm những việc từng làm vì phí sinh hoạt đã tăng quá cao”, bà Franklin nói.
Năm 2024, Sarah Dallas tốt nghiệp tiến sĩ ngành Kỹ thuật sinh học tại Đại học Edinburgh, Scotland. Thời điểm đó, khoản nợ sinh viên của cô lên tới 76.000 bảng, bao gồm khoản vay ban đầu và lãi.
Sarah nộp hơn 200 đơn ứng tuyển cho nhiều vị trí trong suốt 16 tháng, từ nhân viên mới đến chuyên gia cao cấp, thậm chí cả thực tập không lương. Khoảng 90% nhà tuyển dụng không phản hồi. Với 10% còn lại, cô được phỏng vấn ba lần và đều bị từ chối do "quá đủ tiêu chuẩn" cho vị trí thấp, nhưng "thiếu kinh nghiệm" cho vai trò cao hơn. "Việc bị từ chối liên tục khiến tôi có cảm giác như mắc kẹt trong một hố đen", Sarah Dallas nói.
Để duy trì cuộc sống, cô làm biên tập viên tự do cho một tạp chí khoa học với thu nhập 600 bảng mỗi tháng, đồng thời vay thấu chi 8.000 bảng. Đến cuối năm 2025, cô mới nhận công việc đầu tiên là kỹ thuật viên phòng thí nghiệm với mức lương 28.500 bảng mỗi năm.
Hiện tại, thu nhập chính của cô khoảng 1.800 bảng mỗi tháng. Tuy nhiên, chỉ riêng tiền thuê nhà (1.025 bảng), hóa đơn (500 bảng) và trả nợ thấu chi (300 bảng) đã lên tới 1.825 bảng.
Sarah phải tiếp tục làm thêm tự do khoảng 40 giờ mỗi tháng. Khoản thu nhập phụ 600 bảng giúp cô chi trả tiền ăn uống, đi lại và tiết kiệm được 50 bảng. Cô cho biết mỗi tháng đóng 37 bảng cho khoản nợ học phí và đến nay mới trả được 95 bảng.
"Tôi không nghĩ cuộc sống ở tuổi 32 lại như vậy. Thu nhập chính dành hết cho các hóa đơn, còn công việc làm thêm mới giúp tôi tồn tại", cô cho biết.
Tình trạng "thừa tiêu chuẩn nhưng thiếu kinh nghiệm" đang là nghịch lý với nhiều người có bằng tiến sĩ tại Anh. Theo khảo sát do Times Higher Education trích dẫn, 42% tiến sĩ tại nước này tiếp tục làm việc trong môi trường học thuật sau một năm tốt nghiệp. Số còn lại chuyển sang khối doanh nghiệp nhưng gặp rào cản vì chưa từng đi làm.
Báo cáo "Kỹ năng người trưởng thành" của OECD năm 2025 cũng chỉ ra Anh nằm trong nhóm có tỷ lệ lao động làm việc không phù hợp trình độ cao nhất khối, khoảng 37%. Điều này khiến thu nhập trung bình của họ giảm 18% so với người làm đúng chuyên môn.
Tiến sĩ Isaiah Hankel, chuyên gia tư vấn nghề nghiệp, tác giả cuốn The Power of a PhD, nhận định rào cản không nằm ở tấm bằng, mà ở cách ứng viên định vị bản thân. Ông cho biết nhiều tiến sĩ viết hồ sơ theo hướng nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp cần bản tóm tắt ngắn gọn, tập trung vào kỹ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, phân tích dữ liệu và quản lý dự án.
Ông khuyên người tìm việc cần nhanh chóng bù đắp kinh nghiệm thực tế qua các dự án ngắn hạn, thực tập, công việc tự do hoặc hoạt động tình nguyện. Việc có thêm trải nghiệm thực tế trong vài tháng sẽ giúp lấp đầy khoảng trống kinh nghiệm mà các nhà tuyển dụng lo ngại.
Từ năm 2023, phụ huynh và nhà trường của thị trấn Greystones, hạt Wicklow thực hiện sáng kiến mang tên "It Takes a Village" (Cần cả một cộng đồng). Mục tiêu là không cho trẻ em tiếp xúc với điện thoại thông minh trước khi lên cấp hai (13 tuổi), nhằm bảo vệ các em trước áp lực của mạng xã hội. Mô hình này thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia châu Âu.
Dù không mang tính bắt buộc về mặt pháp lý, 70% phụ huynh có con học tiểu học tại đây đã ký cam kết không mua điện thoại thông minh cho con.
Bà Rachel Harper, hiệu trưởng Trường Tiểu học St Patrick, người khởi xướng dự án, cho biết ý tưởng hình thành sau đại dịch Covid-19. Khi học sinh trở lại lớp, bà nhận thấy sự căng thẳng gia tăng ở nhóm trẻ 8-9 tuổi.
Harper liên lạc với hiệu trưởng của 7 trường tiểu học ở Greystones để cùng tiến hành khảo sát thông qua phụ huynh. Hơn một nửa số phiếu trả lời cho biết con cái họ mắc hội chứng lo lắng, nhiều người đã đưa con đi khám tâm lý. Một số lớn phụ huynh nói "ngay cả việc đưa con đến lớp cũng là một thách thức".
Từ kết quả này, Rachel Harper quyết định cần phải hành động. Nhưng nếu chỉ "cấm" ở từng gia đình hoặc từng trường, hiệu quả sẽ thấp. Bà đề nghị thị trấn đồng loạt "nói không" với việc cho trẻ dùng smartphone.
"Chúng tôi không tước đi quyền lợi của trẻ, mà chỉ muốn trì hoãn thời điểm các em dùng thiết bị cá nhân cho đến khi có đủ kỹ năng tự bảo vệ mình trong không gian mạng", bà Harper nói.
Sau các buổi họp tại nhà hát thị trấn với sự tham gia của đại diện gia đình, bác sĩ và các tổ chức xã hội, các hiệu trưởng trường tiểu học trong vùng đã ký thư ủng hộ quy tắc. Để giúp trẻ rời xa màn hình, chính quyền địa phương tổ chức thêm nhiều hoạt động thay thế như tiệc trên bãi biển không dùng thiết bị công nghệ, mở các quán cà phê giao lưu trực tiếp và tăng cường câu lạc bộ thể thao.
Hướng đi của Greystones được củng cố bởi các nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu của Imperial College London cho thấy trẻ dùng mạng xã hội trên ba giờ mỗi ngày có nguy cơ mắc trầm cảm và lo âu cao. Các nền tảng này được thiết kế để giữ chân người dùng dựa trên cơ chế dopamine, khiến trẻ liên tục kiểm tra thông báo và rơi vào trạng thái "sợ bỏ lỡ" (FOMO).
Nỗ lực của Greystones đi ngược lại xu hướng chung tại Ireland. Theo báo cáo năm 2023 của tổ chức CyberSafeKids, 93% trẻ em 8-12 tuổi nước này sở hữu thiết bị thông minh cá nhân. Gần 25% trẻ 6 tuổi đã có điện thoại thông minh và tỷ lệ này vọt lên 74% ở nhóm 12 tuổi.
Khi mới ra đời, mô hình của Greystones từng bị hoài nghi là thiếu thực tế. Tuy nhiên, việc bảo vệ trẻ em trên môi trường trực tuyến hiện trở thành vấn đề toàn cầu. Trong khi Australia đã cấm mạng xã hội với người dưới 16 tuổi và nhiều nước châu Âu cân nhắc giới hạn độ tuổi, phụ huynh tại Greystones đã chọn cách tự vạch ra ranh giới ngay từ gia đình, với quan điểm cần sức mạnh của cả cộng đồng để nuôi dạy một đứa trẻ.
Giữa tháng 3, Sadlu, 21 tuổi, công nhân ở thành phố Surat, bang Gujarat bị giảm giờ làm khi nhà máy dệt may thu hẹp sản xuất do thiếu nhiên liệu. Nguồn cung từ Vùng Vịnh gián đoạn khiến giá gas leo thang. Những công nhân nhập cư như Sadlu buộc phải mua gas trên thị trường chợ đen với giá tăng từ 1.000 rupee lên tới 4.000 - 5.000 rupee một bình. Không kham nổi chi phí sinh hoạt, Sadlu cùng anh trai quyết định trở về quê nhà ở huyện Prayagraj, bang Uttar Pradesh, cách 1.400 km, chấp nhận bỏ mức thu nhập 500 rupee (7 USD) một ngày.
Câu chuyện của Sadlu là bức tranh chung tại nhiều trung tâm công nghiệp của Ấn Độ hiện nay. Tại các nhà ga, hàng dài công nhân mang theo lỉnh kỉnh đồ đạc xếp hàng chờ lên tàu rời đô thị.
Tắc nghẽn tại eo biển Hormuz, cửa ngõ lưu thông 1/5 lượng dầu khí toàn cầu, tạo hiệu ứng dây chuyền, tác động tiêu cực đến kinh tế Ấn Độ. Tại Surat - nơi thu hút lượng lớn lao động nhập cư, gas phục vụ sản xuất không được trợ giá khiến chi phí đội lên gấp nhiều lần. Ông Ashok Jirawala, Chủ tịch Hiệp hội Phúc lợi Thợ dệt Gujarat, tính toán các doanh nghiệp có thể lỗ tới 10 triệu rupee mỗi ngày. Hệ quả là các xưởng phải giảm ngày làm việc từ 7 xuống còn 5 ngày mỗi tuần. Khoảng 150.000 công nhân (chiếm 30% lao động nhập cư ở Surat) đã trả phòng trọ, rời thành phố vì thu nhập giảm sút.
Người dân tại nhiều đô thị cũng bị ảnh hưởng. Tại Bengaluru, hàng dài xe ba gác đỗ chờ tại các trạm nạp gas hóa lỏng. Người dân mất nhiều giờ xếp hàng mua bình gas sinh hoạt, nhu cầu mua bếp điện tăng vọt, trong khi nhiều hộ dân nghèo phải quay lại đun bếp củi.
Dù trở về quê, người lao động vẫn mang theo nỗi lo cơm áo. Các bang nông thôn như Uttar Pradesh, Odisha hay Bihar vốn ít cơ hội việc làm, khó có thể gánh đỡ lượng người di cư đổ về.
Trở về quê, Sadlu tạm thời cảm thấy an toàn nhưng vẫn lo bất ổn tài chính. Anh có đủ tiền cho chi phí ăn uống trước mắt nhưng không đủ cho các khoản khác, trong khi cơ hội việc làm tại quê nhà rất hạn chế. "Tôi sẽ phải quay lại thành phố nhưng chưa xác định được thời điểm", anh nói.
Tại xưởng may ở Surat, giám đốc Naseem Khan cho biết một nửa công nhân của ông đã rời đi. Nếu xưởng đóng cửa hoàn toàn, bản thân ông cũng không trụ lại được đô thị.
"Tôi có vợ và 5 đứa con, ở lại làm sao nuôi nổi? Có lẽ tôi sẽ về quê làm nông", ông nói.