Bác sĩ Nguyễn Trọng Nghĩa – khoa da liễu và bỏng, Bệnh viện Bạch Mai – cho hay da chuyển màu vàng thường khiến nhiều người lo lắng đến các bệnh lý gan mật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đây có thể là biểu hiện của carotenoderma (carotenaemia) – tình trạng lành tính do tăng nồng độ carotene trong máu, chủ yếu liên quan đến chế độ ăn uống.
Mới đây, bác sĩ Nghĩa thăm khám cho một phụ nữ đến khám vì da lòng bàn tay và bàn chân hai bên chuyển màu vàng. Sau khi thăm khám, thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán cho thấy người bệnh không có triệu chứng cơ năng hay dấu hiệu thần kinh khu trú. Kết quả xét nghiệm cho thấy men gan và bilirubin trong giới hạn bình thường, nhưng nồng độ β-carotene tăng cao.
“Qua khai thác tiền sử, người bệnh chia sẻ có thói quen ăn củ sâm đất liên tục trong nhiều ngày. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vàng da ở tay, chân của bệnh nhân”, bác sĩ Nghĩa nhận định.
Bác sĩ Nghĩa giải thích β-carotene cùng các carotenoid khác như alpha-carotene, lycopene, lutein là những sắc tố tự nhiên có trong nhiều loại rau củ quả màu vàng, cam và xanh đậm như cà rốt, bí đỏ, khoai lang, cà chua hay rau lá xanh.
Đây là tiền chất của vitamin A. Sau khi hấp thu tại ruột non, một phần carotene được chuyển hóa thành retinol ở niêm mạc ruột và gan. Khi lượng carotene trong máu tăng cao, sắc tố này sẽ lắng đọng ở lớp sừng và mô mỡ dưới da, gây hiện tượng da đổi màu vàng cam.
Tình trạng này thường gặp ở trẻ nhỏ ăn nhiều thức ăn xay từ cà rốt, bí đỏ, khoai lang; người ăn chay, ăn kiêng kéo dài; người thường xuyên sử dụng nước ép rau củ.
Ngoài ra, một số bệnh lý có thể làm tăng nguy cơ như đái tháo đường, suy giáp, bệnh gan, bệnh thận hoặc chán ăn tâm thần.
“Nguyên nhân có thể do carotenemia nguyên phát; do ăn quá nhiều thực phẩm hoặc dùng thực phẩm bổ sung giàu carotene; hoặc carotenemia thứ phát có liên quan đến giảm chuyển hóa carotene thành vitamin A hoặc tăng lipid máu.
Ngoài ra có thể do carotenemia chuyển hóa hiếm gặp, do rối loạn bẩm sinh trong chuyển hóa carotene”, bác sĩ Nghĩa cho hay.
Người bệnh có biểu hiện điển hình là da có màu vàng cam, xuất hiện rõ ở lòng bàn tay, bàn chân, rãnh mũi – má. Màu sắc đậm hơn ở vùng da dày, nhiều tuyến mồ hôi.
Tuy nhiên, củng mạc mắt không vàng (dấu hiệu quan trọng để phân biệt với vàng da do bệnh gan), không ngứa, không có triệu chứng toàn thân. Màu da có thể rõ hơn dưới ánh sáng nhân tạo.
Nếu xuất hiện tình trạng da đổi màu bất thường hoặc khó phân biệt với các bệnh lý gan mật, người bệnh nên đi khám chuyên khoa để được đánh giá chính xác.
Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, báo Sức Khỏe & Đời Sống phối hợp tổ chức chương trình tọa đàm trực tuyến với chủ đề "Sàng lọc ung thư phổi - Từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia".
Theo PGS.TS Đỗ Hùng Kiên - Phó giám đốc Bệnh viện K, thực tế điều trị cho thấy chỉ khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi đến viện ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật.
Phần lớn còn lại đã ở giai đoạn 3 hoặc 4. Khoảng 40 - 50% bệnh nhân ở giai đoạn 4; 25 - 30% ở giai đoạn 3. Khi đó mục tiêu điều trị không còn là chữa khỏi, mà chủ yếu kiểm soát bệnh, kéo dài sự sống.
Trong khi đó nếu phát hiện sớm, cơ hội sống thay đổi hoàn toàn. Tỉ lệ sống trên 5 năm ở giai đoạn 1 có thể lên tới 70 - 90%, thậm chí 92% ở giai đoạn rất sớm. Nhưng con số này giảm mạnh còn khoảng 10% ở giai đoạn 4.
Theo PGS Kiên, không chỉ khác biệt về cơ hội sống, phát hiện sớm còn giúp giảm đáng kể chi phí điều trị. Trường hợp người bệnh phát hiện ở giai đoạn rất sớm, chi phí phẫu thuật chỉ khoảng 20 - 30 triệu đồng nhờ có bảo hiểm. Nếu phát hiện muộn, chi phí điều trị kéo dài, có thể cao hơn rất nhiều lần.
Bên cạnh đó, PGS Kiên cũng cho rằng hiện nay với sự tham gia ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế giúp phát hiện sớm tổn thương phổi.
Tại nhiều quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, AI đã được ứng dụng trong phân tích hình ảnh X-quang, CT để phát hiện sớm tổn thương phổi.
AI có thể giúp phát hiện những tổn thương nhỏ mà mắt thường khó nhận ra, đồng thời rút ngắn thời gian đọc phim và hỗ trợ tuyến dưới.
"AI không thay thế bác sĩ, nhưng là công cụ rất quan trọng để mở rộng sàng lọc diện rộng, đặc biệt ở những nơi thiếu nhân lực", PGS Kiên chia sẻ.
Dù lợi ích rõ ràng nhưng theo các chuyên gia, việc phát hiện sớm ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân không chỉ nằm ở nhận thức người dân mà còn ở hệ thống. Hiện nay việc tầm soát chủ yếu diễn ra rải rác tại một số cơ sở y tế, hoặc dựa vào khám sức khỏe định kỳ tự phát.
TS Lê Thái Hà, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), cho rằng khó khăn lớn nhất là sự không đồng đều về năng lực y tế cơ sở, cả về nhân lực lẫn trang thiết bị.
"Sàng lọc cần triển khai từ tuyến cơ sở, nhưng hiện nay nhiều nơi còn thiếu thiết bị như X-quang, CT liều thấp, cũng như nhân lực được đào tạo bài bản. Bên cạnh đó chi phí cũng là rào cản. Các kỹ thuật sàng lọc hiệu quả như CT liều thấp vẫn còn đắt đỏ và chưa được bảo hiểm y tế chi trả rộng rãi", TS Hà nói.
Để triển khai hiệu quả tầm soát ung thư phổi, theo TS Hà, cần nhiều giải pháp đồng bộ như xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi cấp quốc gia; ưu tiên nhóm nguy cơ cao; đầu tư trang thiết bị, đặc biệt tại y tế cơ sở; ứng dụng AI và kết nối tuyến trên - tuyến dưới. Ngoài ra cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, mở rộng chi trả bảo hiểm và tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức.
Mục tiêu không chỉ là phát hiện bệnh mà còn giúp người dân nhận diện nguy cơ và chủ động quản lý sức khỏe.
Dự kiến trong thời gian tới, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2028 mỗi người dân sẽ có hồ sơ sức khỏe điện tử, làm nền tảng cho việc theo dõi và sàng lọc lâu dài. Đồng thời các hướng dẫn chuyên môn về khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc sẽ được chuẩn hóa trên toàn quốc.
Ngày 15-4, ông Nguyễn Quang Minh - Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn Tây (Gia Lai) - xác nhận thông tin một nhóm nhân viên bảo vệ rừng bị ong đốt trên địa bàn làm một người chết.
Theo đó, sáng 15-4, năm nhân viên bảo vệ rừng thuộc Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn tuần tra, bảo vệ rừng tại khu vực rừng keo lá tràm ở núi Long Mỹ, khu phố Long Thành, phường Quy Nhơn Tây.
Trong lúc tuần tra, nhóm bất ngờ giẫm trúng tổ ong khiến ong bay ra đốt rất nhiều vết. Hậu quả, anh H.T.V. (40 tuổi, trú phường Quy Nhơn Bắc - một trong số năm nhân viên bảo vệ rừng) bị ong đốt rất nặng dẫn tới tử vong.
Bốn người còn lại là N.V.T. (40 tuổi), P.B.H. (50 tuổi), N.Q.H. (46 tuổi, cùng ở phường Quy Nhơn) và L.P.Đ. (43 tuổi, trú phường Quy Nhơn Đông) bị ong đốt gây thương tích phải nhập viện cấp cứu.
Theo ông Minh, tới chiều tối cùng ngày, hai người trong số này đã được bệnh viện cho về nhà vì vết thương nhẹ hơn, hai người còn lại vẫn đang nằm viện để tiếp tục được theo dõi, điều trị.
Ngày 15.4 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, một bé trai chào đời với cân nặng 2,4 kg bằng phương pháp sinh mổ khi thai nhi được 38 tuần tuổi. Trước đó 13 tuần, chị gái song sinh của bé trai này đã chào đời non tháng khi được 25 tuần tuổi, với cân nặng 650 gr.
32 tuổi, ở Bắc Ninh, mang thai nhờ IVF, nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội khi song thai được 20 tuần tuổi do nguy cơ sinh non, cổ tử cung bắt đầu mở 2 - 3 cm, một thai sa thấp. Khi thai được 25 tuần tuổi, sản phụ chuyển dạ sinh thường bé gái đầu lòng. Do là trường hợp sinh cực non, bé gái được hồi sức sơ sinh và chuyển đến chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện Nhi T.Ư.
Thai nhi thứ hai của song thai này tiếp tục được bác sĩ của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giữ lại trong bụng mẹ với sự hỗ trợ sát sao về y tế. Trong 13 tuần "nuôi dưỡng" thai nhi trong bụng mẹ, các bác sĩ đã phối hợp rất chặt chẽ các chuyên khoa: sản, nhi, gây mê - chống nhiễm khuẩn; theo dõi chặt chẽ diễn biến sức khỏe sản phụ, các chỉ số bạch cầu, thân nhiệt để có các chỉ định phù hợp, đảm bảo an toàn cho mẹ và thai. Quá trình điều trị, chăm sóc, các bác sĩ phải khống chế nhiễm trùng, giảm cơn co ở người mẹ, chống phù não thai nhi…
TS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chia sẻ: Thai nhi được phát triển trong bụng mẹ có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển, hoàn thiện của thai nhi và sức khỏe của em bé sau khi chào đời, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển của phổi, tim mạch.
Để giữ lại được thai nhi trong bụng mẹ suốt 13 tuần là thử thách rất lớn về chuyên môn, trước thực tế người mẹ vẫn có nguy cơ sinh non do cơn co "đẩy" thai; thai có nguy cơ nhiễm trùng rất cao, đồng thời cũng lo ngại về sự phát triển thai nhi do được giữ lại trong điều kiện không hoàn toàn bình thường, vì mẹ đã vỡ ối sinh non bé gái trước đó.
Bé trai nêu trên - trường hợp có nguy cơ sinh cực non (khi 25 tuần tuổi) được kéo dài đến khi trưởng thành về tuổi thai, về sự phát triển, và chào đời khi được 38 tuần tuổi - là ca đầu tiên tại VN. Sức khỏe của mẹ và bé trai hiện hoàn toàn bình thường. Trước đây đã có các trường hợp trẻ có nguy cơ sinh non khi thai 25 - 26 tuần được kéo dài đến 30 - 31 tuần.
Theo TS Mai Trọng Hưng, thành công trong việc nuôi dưỡng thêm 13 tuần tuổi, tránh sinh cực non không chỉ giúp bé chào đời, phát triển tốt mà góp phần cho khởi đầu xây dựng các phác đồ điều trị mới, nhằm kéo dài thai kỳ trong những trường hợp bệnh lý phức tạp, thai kỳ nguy cơ cao. Vì các bé được sinh ra khi thai ngoài 30 tuần tuổi thì khả năng hoàn thiện về sự phát triển (tim, phổi…) cao. Nếu sinh non và cực non (dưới 27 tuần tuổi) thì sự phát triển của em bé sẽ rất khó khăn.
Đây là một trong những ca kéo dài thai kỳ lâu nhất sau khi đã sinh một thai, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Thai kỳ thứ hai được duy trì thêm 13 tuần, từ tuần 26 - 38, là trường hợp thành công hiếm gặp tại VN và thế giới.